1
NHÌN NHẬN LẠI VẤN ĐỀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
1
Vũ Quốc Huy
Đại học Kinh tế- Đại học Quốc gia Hà nội
Mở đầu.
Vấn đề thâm hụt thương mại gần đây đã trở thành một vấn đề được nhiều
người quan tâm và thảo luận. Sự thật là thâm hụt thương mại đã gia tăng trong
những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2007 khi thâm hụt thương mại đạt tới
mức 20% GDP và mặc dù có những diễn biến khác nhau, xu hướng chung có vẻ
như là thâm hụt thương mại vẫn còn duy trì ở mức cao. Những tranh luận về
nguyên nhân và giải pháp cho tình trạng này đặt ra vấn đề cần nhìn nhận lại
nguyên nhân thực sự của tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài ở nước ta. Đã
không ít những ngộ nhận (myths) liên quan đến nguồn gốc, nguyên nhân của tình
trạng thâm hụt thương mại và do đó những giải pháp nhằm giải quyết xử lý vấn
đề này cũng mang đến không ít những ý kiến khác nhau
2
. Bài tham luận này
không đặt mục đích phân tích cụ thể nguyên nhân của tình hình THTM hiện nay,
càng không kỳ vọng đưa ra những giải pháp. Bài tham luận chỉ tập trung nêu ra
những điều có thể coi là sự ngộ nhận về tình trạng THTM để từ đó có thể có
được những cách nhìn đúng hơn về tình trạng này, từ đó mới có cơ sở chung để
thảo luận các vấn đề tiếp theo.
Tình hình thâm hụt thương mại của Việt nam từ 1995 đến nay
Thâm hụt thương mại của nước ta không phải là vấn đề mới. Trên thực tế,
thâm hụt thương mại diến ra suốt trong hơn 2 thập kỷ gần đây. Điều quan trọng
là là mức độ thâm hụt thương mại gia tăng đột biến vào thời điểm năm 2007, từ
mức 5 tỷ USD năm 2006 lên gần gấp 3 lần với khối lượng trên 14 tỷ USD vào
3
. Việc chuyển hướng này một mặt làm giảm mức thặng dư
thương mại do không hướng vào xuất khẩu trong khi vẫn gia tăng nhu cầu nhập
khẩu, mặt khác việc đầu tư vào khu vực phi thương mại sẽ làm tăng sức ép tăng
giá của đông Việt Nam, điều có thể làm gia tăng thêm mức thâm hụt chung do
việc kích thích nhập khẩu và suy giảm xuất khẩu. Nếu xu hướng này vấn tiếp tục
trong tương lai, thì ảnh hưởng của FDI đối với cán cân thương mại và cán cân
vãng lai, cả về phương diện các tác động trực tiếp, cũng như tác động gián tiếp
thông qua áp lực tắng giá đồng Việt Nam là vấn đề đáng được quan tâm.
Bảng 1. Thâm hụt thương mại của Việt Nam, 1995-2010, (triệu USD)
Năm
Xu
ất
khẩu
Nh
ập
khẩu
Thâm h
ụt
thương mại
Tổng số
Khu
vực
kinh tế
trong
tư nước
ngoài
19
95
5448.9
3975.8
1473.1
8155.4
6687.3
1468.1
2706.5
2711.5
-
5.0
1996
7255.9
5100.9
2424.1
-
16.8
1998
9360.3
6145.3
3215.0
11499.6
8831.6
2668.0
2139.3
2686.3
-547.0
1999
11541.4
6859.4
3612.1
-
2458.3
2001
15029.2
8230.9
6798.3
16218.0
11233.0
4985.0
1188.8
3002.1
-
1813.3
2002
16706.1
5106.5
6452.7
-1346.2
2004
26485.0
11997.3
14487.7
31968.8
20882.2
11086.6
5483.8
8884.9
-
3401.1
2005
32447.1
16489.4
5064.9
11636.8
-
6571.9
2007
48561.4
20786.8
27774.6
62764.7
41052.3
21712.4
14203.3
20265.5
-6062.2
43957.0
24873.0
12246.0
17227.0
-
4981.0
2010
71629
32801
38828
84004
47526
36478
12375.0
14725.0
-
cán cân thương mai thường tập trung vào các lĩnh vực này, và đó là điều dễ hiểu.
Tuy nhiên tính hiệu quả, hiệu lực của các biện pháp can thiệp trực tiếp lại là một
vấn đề cần được thảo luận và đây chính là vấn đề lớn cần làm rõ trong quá trình
hoạch định và thực thi chính sách. Thông thường các biện pháp cạn thiện trực
tiếp thường kém hiệu quả và có thể gây ra những hiệu ứng phụ không cần thiết.
Điều đáng nói ở đây là thường là căn nguyên thực sự của vấn đề cán cân
thương mại, chênh lệch đầu tư – tiết kiệm trong nước, lại không hoàn toàn nằm
trong lính vực quản lý thương mại bình thường. Do vậy vấn đề mấu chốt đó
thường ít được đặt ra trong các bàn thảo chinh sách. Vì vậy những biện pháp trực
tiếp đưa ra thường hoặc là không phát huy tác dụng, hoặc mang lại nhiều chi phí
bổ sung cho các bên liên quan. Lý thuyết kinh tế đã chỉ ra rằng trong một số điều
kiện nhất định, thâm hụt thương mại chính là sự phản ánh trung thực của sự
chênh lệch đầu tư – tiết kiệm trong nước tại một thời điểm nào đó. Nói cách
khác, chùng nào sự chênh lệch giữa đâu tue và tiết kiệm trong nước chưa được
xử lý thì vấn đề thâm hụt thương mại chắc chắn sẽ bị tiếp tục duy trì. Ván đề
mấu chốt là phải giải quyêt được sự chênh lệch đó.
4
Tuy nhiên, ở Việt Nam trong thời gian vừa qua, khi phải đối mặt với tình
trạng thâm hụt thương mại gia tăng, các biện pháp của Chính phủ thường chỉ tập
trung vào các biện pháp tức thời với mong muốn có thể sớm kiếm soát được tình
hình. Những biện pháp này chủ yếu tập trung vào việc hạn chế tiếp cận tín dụng
cho nhập khẩu. áp dụng các biện pháp thuế, phi thuế, hàng rào kỹ thuật nhằm
hạn chế nhập khẩu. Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra rằng những biện pháp này tỏ ra
thiếu khả năng thực thi, kém hiệu quả. Việc kiểm soát danh mục các mặt hàng
hạn chế nhập khẩu áp dụng trong năm 2010 không ngăn được mức tăng 36% giá
trị các mặt hàng này trong năm 2010. Những khuyến nghị sử dụng đòn bảy tỷ
giá trong việc điều tiết cán cân thương mại thường vấp phải những lo ngại (có
phần chính đáng) về tác động lạm phát, nợ nước ngoài.
Trong bối cảnh đó việc làm rõ những nhận thức chung về nguyên nhân của
mại cao. Có thế nói một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi nay là sự
thay đổi về chính sách tỷ giá. Trước đó Thái lan duy trì một chính sách tỷ giá cố
định, duy trì đồng bath ở mức cao. Điều đó không khuyến khích xuất khẩu mà
ngược lại tạo điều kiện tốt cho việc nhập khẩu. Giai đoạn sau khủng hoảng kinh
tế châu Á, Thai lan đã chuyển sang chế độ tỷ giá linh hoạt và đó có thể là một
trong những nguyên nhân quan trọng cải thiện cán cân thương mại của Thái Lan.
Bên cạnh đó, nét đặc trưng của các nước châu Mỹ La tinh là sự biến động lien
tục trong cán cân thương mại, điển hình là trường hợp Mexico với mức thăng dư
thương mại cao trong những năm 80s sang mức thâm hụt thương mại đáng kể
trong thập niên đầu của thế kỷ này (Bảng 1). Nguyên nhân của tình hình cán cân
thương mại của các nước rất khác nhau, nhưng một điều chắc chắn là các chính
sách kinh tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình đó và không có một khuôn
mẫu cố định nào cho các nước cả.
Bảng 2. Thâm hụt thương mại của một số nước, 1976-2007 (triệu USD)
Năm Argentina
Bolivia
Brazil
Chile Malaysia
Thailand
Mexico
Philippines
1976
-2,910
97
1,100
430
-1,620
850
1,300
1979
-1,780
-22
2,800
350
-3,190
1,550
2,200
100
2,030
3,900
2,230
1982
-2,760
-332
-800
-70
700
740
-7,100
2,650
1983
-3,720
-
13,200
680
1985
-4,880
-160
-
12,400
-880
-3,600
1,330
-8,400
480
1986
-2,440
51
1,020
1988
-4,240
48
-
19,200
-2,210
-5,400
2,100
-2,600
1,090
1989
-5,710
6
-
16,100
-4,440
44
-
10,600
-1,480
-400
6,000
7,300
3,260
1992
1,400
432
- -710
-3,100
4,200
35
-
10,900
-700
-1,600
3,700
18,400
7,800
1995
-2,400
180
3,200
-1,400
100
8,000
-3,500
-1,600
0
11,200
1998
3,100
660
6,600
2,100
-17,500
-16,300
7,000
-
1999
800
6,000
2001
-7,300
300
-2,600
-1,900
-18,400
-8,600
9,000
6,300
2002
-17,230
340
-
13,200
-2,400
-13,300
-430
-
33,700
-9,600
-27,800
-10,800
9,000
5,700
2005
-13,100
-610
-
44,400
-
10,800
-33,000
-1,220
-
40,000
-
24,000
-37,000
-27,000
10,000
8,400
Nguồn: World Development Indicators. World Bank
2. Thâm hụt thương mại có thể giảm bớt nếu hạn chế tiêu dùng các hàng xa
xỉ.
Một trong những ý kiến được đưa ra trong thời gian qua ở nước ta về nguyên
nhân của tình trạng thâm hụt thương mại là do tiêu dùng các hàng xa xỉ. Từ đó
có nhiều khuyến nghị hạn chế nhập khẩu các mặt hàng này bằng cả các biện
pháp hành chính hoặc thông qua việc áp dụng mức thuế cao, hạn chế cấp ngoại
tệ để nhập hàng, sử dụng các hang rào kỹ thuật. Các tranh luận lại càng trở nên
sôi nổi hơn khi Tổng cục thồng kế vào cuối năm 2010 đưa ra số liệu nhập khẩu
các mặt hang ‘xa xỉ’, đắt tiền lên tới 10 tỷ USD trong đó 9 tỷ USD dành cho
nhập rượu ngoại, thuốc lá, đồ trang sức, điện thoại
4
. Điều đáng nói ở đây là khái
nhập siêu. Giải pháp được đề xuất là tăng cường phát triển công nghiệp phụ trợ,
phục vụ nhu cầu nguyên liệu trong nước, qua đó giảm nhập siêu.
Chưa nói đến tính khả thi của đề xuất này mà chỉ xem xét tính hợp lý của nó,
chúng ta đã thấy một số vấn đề nảy sinh. Trước hết, xu thế mới trong phân cồng
lao động quốc tế hiện nay là xu thê gắn với thương mại nội ngành (intra-industry
trade) thay vì phương thức thương mại liên ngành (inter-industry trade) như
trước đây
7
. Vì vậy trong bối cảnh tăng cường hội nhập kinh tế khu vực, liên kết
khu vực theo xu hướng thương mại nội ngành sẽ tạo ra liên kết sản xuất bền
vững, hiệu quả. Điều đó có thể làm gia tăng nhập khẩu nhưng kèm theo đó cũng
gia tăng xuất khẩu và do vậy hoàn toàn có thể cải thiện được cán cân thương
mại. Các ngành xuất khẩu chủ lực hiện nay như dệt may, giày dép đều có hàm
lượng nhập khẩu cao nhưng lại có tác độn tích cực đến việc cải thiện cácn cân
thương mại do phần lớn các sản phẩm đều phục vụ xuất khẩu. Việc phát triển
công nghiệp phụ trợ rất có thể rơi vào bẫy ‘thay thế nhập khẩu’ và do vậy mặc
dù hạn chế được nhập khẩu nhưng không cải thiện được cán cân thanh toán do
suy giảm năng lực xuất khẩu. Sự đóng góp tích cực của khu vực FDI cho việc cải
thiện tình hình nhập siêu trong thời gian trước năm 2008 có thể xem như một
minh chứng cho luận điểm này
nhập khẩu ô tô thì cũng chỉ giảm được 1% tổng kim ngạch nhập khẩu và không phải tất cả ô tô nhập khẩu là hang
xa xỉ
6
Doanh nghiệp Thương mại.
7
Xem Prema-Chandra Athukorala (2010) Production Networks and Trade Patterns in East Asia:
Regionalization or Globalization.
8
xuất khẩu của nước ta vẫn duy trì được đà tăng trưởng tốt. Một trong những lý
do cho tình hình khả quan trong xuât khẩu là do xuất khẩu của nước ta vẫn nằm
ở phân khúc thị trường chất lượng thấp, giá rẻ. Suy thoái kinh tế gây ra sự giảm
sút về thu nhập do vậy người tiêu dung ở các nước phát triển có xu hướng
chuyến sang tiêu thụ các mặt hàng rẻ hơn so với trước đây. Sự chuyển hưởng
tiêu dung do tác động suy giarm thu nhập làm gia tăng nhu cầu hàng hóa giả rẻ,
9
chất lượng thấp, vốn là thị trường của hàng hóa Việt Nam. Sự phục hồi kinh tế
trong thời gian tới cũng là cơ hội cho hàng hóa Việt Nam. Điều quan trọng là cần
tiếp tục nâng cao năng lực xuất khẩu của hàng Việt Nam trong thời gian tới
2. Nhìn nhận rộng hơn trên quan điểm saving-investment gap.
Thâm hụt thương mại/cán cân vãng lai là sự phản ảnh của sự mất cân đối
giữa tiêu dùng-tiết kiệm-đầu tư trong nước. Bằng chứng rõ ràng nhất là quan hệ
thương mại giữa Mỹ và Trung quốc. Tỷ giá đóng vai trò quan trọng nhưng vấn
đề cơ bản vẫn là sự mất cân đối giữa đầu tư và tiết kiệm. Do vậy muốn giải quyết
triệt để vấn đề thâm hụt thương mại, cần xem xét đến cơ cấu tiết kiệm-đầu tư
trong nước. Đây là lĩnh vực phi truyền thồng trong các biện pháp đối phó với
tình trạng thâm hụt thương mại ở nước ta. Tuy nhiên đây lại là vấn đề mấu chốy
để giải quyết căn bản vấn đề nhập siêu
Trong thời gian qua, mức tiết kiêm thấp và đầu tư cao , kém hiệu quả có thể
coi là nguyên nhân chinh dẫn đế tình trang thâm hụt kèo dài và sâu sắc hơn. Vì
vậy nâng cao hiệu quả đầu tư, giảm bới chênh lệch đầu tư-tiết kiệm càn được đạt
ra như là nhiệm vụ trọng tâm trong việc hạn chế thâm hụt thương mại trong thời
gian tới
Thay cho phần kết
Thâm hụt thương mại đã và đang là vấn đề được quan tâm thảo luận trên
các diễn đàn và tròn quá trình hoạch định chính sách. Việc giải quyết vấn đề này
đòi hỏi cách nhìn mang tính tổng quát, đặc biệt từ góc độ cơ cấu tiêu dùng-đầu tư