LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng
dẫn, giúp đỡ quý báu của nhiều cá nhân và tập thể. Với lòng kính trọng và biết ơn
sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến:
Các thầy cô trong Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, Đại học Nha
Trang đã truyền dạy và trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian học
tập.
TS. Đặng Thúy Bình và TS. Nguyễn Văn Duy đã tận tình hướng dẫn, động
viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành đồ án tốt
nghiệp.
Cử nhân Nguyễn Thanh Sơn, cán bộ tổ nghiên cứu và thầy Nguyễn Ái
Thưởng, Viện vaccine Nha Trang đã hết lòng chỉ bảo và giúp đỡ tôi phân tích sắc
ký và thử nghiệm độc tố ốc cối trên chuột.
Các thầy cô trong hội đồng xét duyệt đồ án đã cho tôi những đóng góp quý
báu để hoàn chỉnh đồ án tốt nghiệp này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người
đã cổ vũ, động viên tiếp thêm nghị lực để tôi hoàn thành đồ án tốt nghiệp.
Trong quá trình thực hiện đồ án, do bản thân tôi còn thiếu kinh nghiệm thực
tế nên không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ thầy cô
và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 7 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Lương Hiếu Hòa
i
MỤC LỤC
1.3.2.2.6. Tác dụng đối kháng α1-adrenoceptor (thụ thể nhận adrenalin) 32
1.3.2.2.7. Tác dụng đối kháng thụ thể NMDA 32
1.3.2.2.8. Tác dụng điều hòa thụ thể vasopressin (hocmon bài niệu) 32
1.3.2.2.9. Tác dụng đối kháng thụ thể neurotensin 32
1.4. TỔNG QUAN VỀ CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 34
1.4.1. Conus striatus (Linné, 1758) 34
1.4.2. Conus textile (Linné, 1758) 35
1.4.3. Conus vexillum (Gmelin, 1791) 37
1.5. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DI TRUYỀN ỐC CỐI, DI TRUYỀN ĐỘC TỐ ỐC
CỐI VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ỐC CỐI TRONG NƯỚC 38
1.5.1. Nghiên cứu về di truyền ốc cối 38
1.5.2. Nghiên cứu về di truyền độc tố ốc cối 41
1.5.3. Tình hình nghiên cứu ốc cối trong nước 44
CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP THU MẪU 46
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
2.2.1. Nghiên cứu hình thái 49
2.2.2.Giải phẫu tách tuyến nọc độc 49
2.2.3. Khảo sát mối tương quan các thông số hình thái tuyến nọc độc 50
2.2.4. Tách chiết và tinh chế độc tố ốc thô 50
2.2.4.1. Tách chiết độc tố thô 50
2.2.4.2. Tinh sạch bằng sắc ký lọc gel 51
2.2.4.2.1. Giới thiệu về phương pháp sắc ký 51
2.2.4.2.2. Tinh sạch bằng sắc ký lọc gel 51
2.2.4.3. Xác định các phân đoạn peptide bằng HPLC 53
2.2.4.3.1. Giới thiệu về phương pháp và thiết bị HPLC 53
2.2.4.3.2. Tiến hành sắc ký 54
2.2.4.4. Thử nghiệm độc tố trên chuột 55
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 56 iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Một số loài ốc cối ở Việt Nam 7
Hình 1.2: Ốc cối Conus textile 8
Hình 1.3: Vòng đời của ốc cối 9
Hình 1.4: Phương thức săn mồi dạng móc câu 11
Hình 1.5: Conus purpurascens săn mồi dạng móc câu 11
Hình 1.6: Phương thức săn mồi dạng lưới 12
Hình 1.7: Conus geographus săn mồi dạng lưới 12
Hình 1.8: Cấu tạo tuyến nọc độc của ốc cối 14
Hình 1.9: Cấu trúc điển hình răng kitin của ốc cối 16
Hình 1.10: Hình thái răng kitin của một số loài ốc cối 18
Hình 1.11: Sơ đồ độc tố ốc cối gồm các superfamily, kiểu liên kết disufide và các đích
dược tính 22
Hình 1.12: Quá trình phân cắt tạo peptide trưởng thành của MVIIA 23
Hình 1.13: Hình thái Conus striatus 34
Hình 1.14: Conus striatus săn mồi 35
Hình 1.15: Bản bồ vùng phân bố của Conus striatus 35
Hình 1.16: Hình thái Conus textile 36
Hình 1.17: Conus textile săn mồi 36
Hình 1.18: Bản đồ vùng phân bố của Conus textile 37
Hình 1.19: Hình thái Conus vexillum 37
Hình 1.20: Conus vexillum săn mồi 38
Hình 1.21: Bản đồ vùng phân bố của Conus vexillum 38
Hình 3.22: Phổ sắc ký đồ của Conus striatus thô chưa tách chiết protein 81
Hình 3.23: Phổ sắc ký đồ độc tố Conus striatus đã tách chiết protein tube 4, 6 và 7 (sắc
đồ hoàn chỉnh và sắc đồ tại vị trí thời gian lưu 3-7 phút) 81
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Sự phân chia các loài ốc cối dựa trên cấu trúc răng kitin 19
Bảng 1.2: Các superfamily của conotoxin 26
Bảng 1.3: Các peptide độc tố với những liệu pháp tiềm năng 28
Bảng 3.1: Khối lượng (KL) và chiều dài (Cd) các bộ phận tuyến độc của Conus
striatus. Giá trị trung bình±độ lệch chuẩn (n=20 cá thể) 58
Bảng 3.2: Khối lượng (KL) và chiều dài (Cd) các bộ phận tuyến độc của Conus textile.
Giá trị trung bình±độ lệch chuẩn (n=20 cá thể) 61
Bảng 3.3: Khối lượng (KL) và Chiều dài (Cd) các bộ phận tuyến độc của Conus
vexillum. Giá trị trung bình±độ lệch chuẩn (n=20 cá thể) 64
Bảng 3.4: Khối lượng và chiều dài vỏ, tuyến độc, túi độc, túi răng kitin của ba loài C.
striatus, C. vexillum, C. textile. Giá trị trung bình±độ lệch chuẩn (n=20 cá thể) 66
Bảng 3.5: Khối lượng (KL) thân, chiều dài (Cd) vỏ, chiều dài túi răng, chiều dài răng
và chiều dài các ngạnh của Conus striatus. Giá trị trung bình±độ lệch chuẩn (n=5 cá
thể) 72
Bảng 3.6: Khối lượng (KL), chiều dài (Cd) vỏ, chiều dài túi răng, chiều dài răng và
chiều dài các ngạnh của Conus textile. Giá trị trung bình±độ lệch chuẩn (n=5 cá thể)
73
µ mu
ρ rho
σ sigma
τ tau
χ chi
ψ psi
ω omega
1
LỜI MỞ ĐẦU
Đa dạng sinh học là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong cuộc
sống của con người, là nguồn tài nguyên lớn của mỗi quốc gia. Ở một mức độ nào
đó nó duy trì sinh quyển, ở một mức độ khác nó cung cấp nguyên vật liệu cơ bản
cho các ngành công-nông nghiệp và các nhu cầu thiết yếu khác của con người. Tuy
nhiên, thực tế hiện nay cho thấy sự gia tăng dân số và các hoạt động khai thác quá
mức của con người đã và đang làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên này dần cạn
kiệt. Việc sử dụng hợp lý và bảo tồn đa dạng sinh học trở nên bức thiết hơn bao giờ
hết.
Ở nước ta, ốc là một trong những nguồn lợi hải sản có mức độ phong phú về
thành phần loài, có giá trị thực phẩm và kinh tế cao. Song những năm gần đây, tình
trạng khai thác vô tội vạ cộng với sự ô nhiễm môi trường đang làm cho nguồn lợi ốc
có chiều hướng suy giảm nghiêm trọng. Nhiều loài ốc có giá trị cao có nguy cơ
tuyệt chủng, đặc biệt là ốc cối. Theo công ước Quốc tế về buôn bán động vật bị đe
dọa (CITES), ốc cối cần được đưa vào danh mục được pháp luật bảo vệ.
Ốc cối là loại động vật thân mềm, có nọc độc, sống chủ yếu sống ở các vùng biển
nhiệt đới trong những rạn san hô. Chúng được biết đến là những loài có giá trị kinh
tế cao nhờ màu sắc và hoa văn đẹp mắt. Vỏ ốc cối được khai thác để làm đồ trang
sức, mỹ nghệ, đồ lưu niệm được nhiều người ưa chuộng. Chính điều này sẽ làm
tăng mối đe dọa cho các loài ốc cối nếu con người tiếp tục khai thác quá mức mà
không có biện pháp bảo vệ.
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1.1. Đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và sinh thái môi trường đảo Cù
Lao Chàm và ven bờ Quảng Nam.
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa
khô. Nhiệt độ trung bình năm 20-21
o
C. Lượng mưa trung bình 2000-2500mm,
nhưng phấn bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn
đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm.
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa hải đảo nên nhiệt độ nước biển cũng chịu
ảnh hưởng của nhiệt độ không khí. Nhiệt độ nước biển dao động trong khoảng ừ
22,5 – 30,5
o
C. Nhiệt độ nước biển cao nhất thường xảy ra vào tháng 7 – 8 hàng
năm. Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau tương ứng với thời kỳ rét và
khô, lượng mưa không đáng kể, nhiệt độ nước giảm thấp vào tháng 1 đến tháng 3
hàng năm. Lượng mưa cao nhất thường xảy ra vào tháng 9 – tháng 10.
Cù Lao Chàm là một cụm đảo xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng
Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15 km. Cù Lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao,
Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông. Đây
còn là một địa điểm du lịch có khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong
phú, đặc biệt là nguồn hải sản và nguồn tài nguyên yến sào. Các rạn san hô ở khu
vực biển Cù Lao Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao và đưa vào danh
sách bảo vệ. Tháng 10 năm 2003, Khu Bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm được
thành lập để giữ gìn sinh vật hoang dã trên đảo, là 1 trong 15 khu bảo tồn biển của
Việt Nam vào thời điểm 2007. Do địa thế các đảo chụm lại với nhau tạo thành vịnh
kín, đồng thời cũng là bức tường bảo vệ các rạn san hô, nhờ thế mà nơi đây tạo
thành hệ sinh thái, nó còn là nơi trú ngụ của nhiều loài ốc như ốc đụn, ốc cối.
Phân bố hệ sinh thái ở Cù Lao Chàm:
Gỏi ở phía bắc và vũng Cổ Cò - Lạch Cửa Bé ở phía đông bắc. Địa hình đáy vũng
Bến Gỏi không phức tạp lắm, chỉ những nơi có san hô thì nền đáy mới có sự gồ ghề,
lồi lõm. Độ sâu lớn nhất trong khu vực đạt 18 m, sự phân bố các đường đẳng sâu
theo một khoảng cách tương đối đồng đều, song song với nhau và song song với
đường bờ.
Địa hình đáy phần vịnh Vân Phong hoàn toàn khác với địa hình đáy vũng Bến
Gỏi. Đáy vịnh tương đối bằng phẳng tạo thành một máng lớn, lòng máng thoi,
nghiêng dần về phía cửa vịnh, sự phân bố các đường đẳng sâu có dạng ngoằn
nghèo, uốn lượn và phân không không đều. Vũng Cổ Cò - Lạch Cửa Bé tạo ra do sự
có mặt của đảo Hòn Lớn và bán đảo Hòn Gốm. Địa hình đáy ở đây rất đơn giản: độ
sâu tăng từ hai bờ lạch ra giữa dòng. Mặt cắt ngang hình chữ V với độ sâu lớn vì ở
đây là một thung lũng hẹp và sâu.
5
Vịnh Vân Phong nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Nam Trung
Bộ với hai mùa gió chính thịnh hành trong năm (gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây
Nam) và chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ gió địa phương (gió Tu Bông khô lạnh,
gió tây khô nóng và cả gió đất biển). Nhiệt độ nước biển dao động trong khoảng từ
23,8 – 30,6
o
C. Nhiệt độ nước biển cao nhất thường xảy ra vào tháng 5 – 9 hàng
năm, bao gồm hai đỉnh tháng 5-6 và đỉnh tháng 9, trong đó đỉnh tháng 5-6 thường là
cực trị chính. Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau tương ứng với thời
kỳ rét và khô, lượng mưa không đáng kể, nhiệt độ nước giảm thấp vào tháng 1 đến
tháng 3 hàng năm, nhiệt độ thấp nhất ghi nhận được vào tháng 1 năm 2006 là
23,6
o
C.
Lượng mưa cao nhất thường xảy ra vào tháng 10 – 11. Ngoài ra lượng mưa còn
có một đỉnh phụ thứ hai xảy ra vào tháng 5 – 6 hàng năm được gọi là mưa tiểu mãn.
gió trung bình từ 2,5 - 4m/s, mạnh nhất có thể đạt tới 24 - 26m/s. Thời kỳ chuyển
tiếp giữa hai mùa, hướng gió chuyển dịch cùng với cường độ giảm dần.
Nước biển Quảng Ngãi mang đặc trưng của vùng nước biển sâu, màu mặt nước
xanh thẳm, độ trong suốt lớn, biển thoáng, hoàn lưu nước trao đổi trực tiếp với biển
Đông. Nhiệt độ nước biển biến động lớn nhất xảy ra ở lớp nước mặt và giảm dần
đến độ sâu 200m. Nhiệt độ tầng nước mặt đạt giá trị cao nhất vào tháng 5, trung
bình 28
o
C - 29,8
o
C; thấp nhất vào tháng 1, trung bình 22
o
C - 24,7
o
C.
Độ mặn nước biển khá cao, có sự thay đổi theo mùa, nhưng biên độ dao động độ
mặn giữa mùa khô và mùa mưa không lớn và độ mặn đều lớn hơn 32‰. Mùa gió
Tây Nam, độ mặn tầng mặt ven bờ trung bình 32 - 33‰, ngoài khơi là 33,5 -
34,5‰; mùa gió Đông Bắc, nước biển có độ mặn cao khoảng 33,8 - 34‰.
1.2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ỐC CỐI
1.2.1. Hệ thống phân loại ốc cối
Họ ốc cối là một trong những họ có số lượng loài lớn trong ngành động vật thân
mềm. Cho đến nay, trên thế giới đã xác định được khoảng 700 loài, trong đó chủ
yếu thuộc giống Conus.
7
Ngành: Mollusca (Linnaeus, 1758)
Lớp: Gastropoda (Cuvier, 1795)
Bộ: Sorbeoconcha (Ponder & Lindberg, 1997)
Hình 1.2: Ốc cối Conus textile
(
1.2.3. Đặc điểm sinh thái và phân bố
Hầu hết các loài ốc cối sống ở vùng biển nhiệt đới, vùng biển ấm, trong hoặc gần
các rạn san hô, một số loài cận nhiệt đới được tìm thấy chủ yếu tại vùng dưới triều ở
độ sâu từ 10-30m và dưới các tảng đá ở vùng triều nông (Stewart và Gilly, 2005).
Chúng có thể ẩn mình trong cát hoặc dưới các tảng đá, sỏi (Rockel và cs, 1995).
Một số loài có thể sống ở các rừng ngập mặn, hoặc sống ở vùng nước sâu đến 400m
(Rockel và cs, 1995). Ốc cối thường sống đơn độc, tuy nhiên ở một số khu vực đặc
biệt vẫn có thể tìm thấy chúng với một số lượng lớn do môi trường sống thích hợp.
Giống ốc cối thường phân bố ở vùng vĩ độ giữa 40
o
Bắc và 40
o
Nam, chủ yếu ở
các vùng biển: Ấn độ - Thái Bình Dương, Panamic, Caribbean, Peru, Patagonic,
Tây và Nam Phi và Địa Trung Hải. Một số loài có thể phân bố ở vĩ độ trên 40
o
như
ở Nam Phi, Nam Australia, Nam Nhật Bản và biển Địa Trung Hải. Nhìn chung, ốc
cối xuất hiện ở hầu hết các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhưng đa dạng loài
chủ yếu tập trung ở vung biển Ấn Độ Dương đến Tây Thái Bình Dương. Chúng đạt
đến mật độ tối đa là 40 cá thể/m
2
, nhưng thường có số lượng ít phong phú (Kohn và
cs, 2001).
9
Tại Việt Nam, ốc cối phân bố chủ yếu ở các vùng ven biển thuộc khu vực Nam
Trung Bộ từ Đà Nẵng đến Kiên Giang và quanh các hải đảo (như Trường Sa, Hoàng
chúng là các loài cá nhỏ (piscivorous), giun biển (vermivorous), nhuyễn thể
(molluscivorous), và ngay cả các loài ốc cối khác (Terlau và Olivera, 2004; Olivera,
2002). Chúng có một cơ quan bắt mồi chuyên biệt là dải răng kitin (túi răng kitin).
Răng kitin của ốc cối hõm sâu và có gai, giống như những cây lao thu nhỏ. Ốc
cối chỉ sử dụng răng kitin một lần, một khi răng kitin nào được sử dụng để tiêm nọc
độc vào con mồi, nó sẽ được loại bỏ và ốc cối phải tái tạo lại răng mới
(
Khi ốc cối nhận ra đối tượng, vòi của chúng sẽ kéo dài ra, nhờ một lực co cơ
những mũi tên từ ống vòi được phóng rất nhanh kèm theo một lượng lớn độc tố
được phóng thích và làm tê liệt nhanh chóng con mồi. Sự tấn công này chỉ xảy ra
trong khoảng một phần nghìn giây. Chất độc sẽ làm tê liệt con mồi và gây tử vong
cho đối tượng trong thời gian rất ngắn. Độc tố ốc cối chứa đựng hàng trăm các hợp chất
khác nhau và thể hiện sự khác biệt giữa các loài khác nhau. Các nhà khoa học cũng chỉ ra
rằng, độc tố ốc cối cũng thay đổi tùy theo khẩu phần ăn, tùy theo mùa, và tùy theo từng
vùng địa lí khác nhau ( />use/invitecomment/pubs/cone-snails.pdf).
Loài ăn cá (piscivorous)
Ốc cối ăn các loài cá nhỏ được gọi là piscivorous. Đối với loài ăn cá chúng có hai
phương thức săn mồi: săn mồi dạng móc câu (hook and line hunting) và săn mồi
dạng lưới (net hunting). Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nọc độc ở loài
này gây ra hai trạng thái tê liệt cho con mồi: tê liệt cứng (shock cứng) và tê liệt
mềm. Tê liệt cứng là khi tất cả các cơ đều co thắt lại cùng một lúc khiến con mồi trở
nên cứng đờ trong khi tê liệt mềm các cơ không bị co thắt lại, con mồi trở nên mềm
nhũn.
+ Săn mồi dạng móc câu (hình 1.4): ốc cối phóng răng kitin có móc gai để giữ
chặt đồng thời tiêm chất độc vào con mồi, sử dụng vòi hút giống như cần câu cá,
chúng sử dụng ống siphon-cơ quan như mũi để tìm kiếm con mồi xung quanh vùng
11
nước. Nếu phát hiện mồi chúng sẽ mở rộng vòi (vòi có thể mở rộng gấp đôi chiều
dài cơ thể) trong vòi có lao móc chứa nọc độc sẽ bắn vào cơ thể con mồi. Nọc độc
vài ngày. Chúng sẽ thải ra xương cá, răng kitin và có thể cát sỏi bị nuốt vào. Ví dụ
minh họa ở loài Conus geographus săn mồi dạng lưới được mô tả ở hình 1.7.
Hình 1.6: Phương thức săn mồi dạng lưới Hình 1.7: Conus geographus săn mồi dạng lưới
(
13
Loài ăn nhuyễn thể (molluscivorous)
Ốc cối ăn các loài nhuyễn thể khác được goị là molluscivorous. Chúng ăn vô số
các động vật thân mềm biển khác bao gồm các loài ốc mitres, trochus, ốc tiền
(cowries), olive shells, turbo snails, conch snails và một số loài ốc cối khác. Sau khi
của ống dẫn độc và hầu rất hẹp và được cấu tạo bằng một loại tế bào đặc biệt không
rõ chức năng. Các hạt cũng được tìm thấy trong khoang của từng răng kitin và trong
túi răng.
Tuyến nọc độc của ốc cối gồm các bộ phận : túi nọc độc, ống dẫn độc, vòi hút,
túi răng kitin (hình 1.8).
Hình 1.8: Cấu tạo tuyến nọc độc của ốc cối
(
+ Túi nọc độc: hình lưỡi liềm, màu trắng sữa, nằm vuông góc với trục của cơ
thể, lõm về phía đỉnh vỏ, lồi ra về phía ngược lại. Túi nọc độc là cơ quan lớn nhất
trong tuyến nọc độc, có chức năng tiết ra độc tố, đồng thời tạo ra áp lực khi bơm
độc tố vào con mồi.
+ Ống dẫn độc: là đường dẫn chính trong tuyến nọc độc, có vai trò dẫn chất độc từ
túi nọc độc đi tới răng kitin để tiêm vào con mồi, có màu vàng nhạt, trong cơ thể ốc nó
cuộn thành bó nằm trong phần lõm của túi nọc độc nằm ở mặt phải và phía sau của hầu.
+ Vòi hút: là phần cuối cùng của tuyến nọc độc, rỗng phía trong, hình chóp cụt,
lớn hơn ở phần nối với hầu, nhỏ hơn đối với phần còn lại, có khả năng thay đổi kích
Ống dẫn độc
Túi đ
ộc
nhau, loài ăn cá chỉ dùng một răng để bắt con mồi, trong khi đó, loài ăn nhuyễn thể
tiếp tục tiêm độc tố vào con mồi sau khi tấn công. Quan sát cho thấy loài ăn nhuyễn
thể có thể dùng đến nửa túi răng kitin để bắt một con mồi (Terlau và Olivera, 2004).
Răng kitin chỉ được sử dụng một lần để tiêm vào con mồi sau đó chúng sẽ bị loại,
16
các loài ốc cối sẽ tiếp tục tạo ra các răng kitin mới nhờ các tế bào tạo răng
odontoblast. Cấu trúc răng kitin điển hình của ốc cối được trình bày ở hình 1.9.
Hình 1.9: Cấu trúc điển hình răng kitin của ốc cối (Franklin và cs, 2007)
Cùng với hính thái, màu sắc, vân trên vỏ, răng kitin đóng vai trò quan trọng trong
định danh loài và phân biệt các loài cận giống. Những nghiên cứu trước đây cho
thấy sự đa dạng đáng kể trong cấu trúc và hình thái răng kitin.
Kohn và cs (1972) nghiên cứu răng kitin của Conus imperialis bằng kính hiển vi
điện tử đã làm sáng tỏ cấu trúc và mối liên hệ giữa các bộ phận : đỉnh, các ngạnh,
17
nhánh. Nhánh ngắn thông với ống tiêu hóa, nhánh dài cong lên bên phải của ống
tiêu hóa. Các răng ở nhánh ngắn với đầu răng hướng theo trục của nó, hướng về
phía mở của túi răng trong khi các răng ở nhánh dài các đầu của chúng hướng vô
định hoặc về phía ngoại biên. Phía cuối của túi răng có các tế bào odontoblasts chịu
trách nhiệm cho việc tạo răng. Quan sát răng kitin của 2 loài Conus lividus và
Conus striatus dưới kính hiển vi điện tử cho thấy ở C. lividus chiều dài 1 răng là
1.4mm, mỗi răng có thân hình trụ mang 1 ngạnh đơn và 1 lưỡi ngắn ở đầu và 1 cựa
đáy nhỏ. Ở C. striatus chiều dài 1 răng là 7mm có 1 ngạnh và 1 lưỡi và ngạnh gắn
với nhau với các đầu uốn cong.
James (1980) nghiên cứu cấu trúc răng kitin của 22 loài ốc cối ở vùng biển Ấn
Độ-Thái Bình Dương cho thấy 3 nhóm riêng biệt dựa trên phương thức săn mồi: 6
loài ăn cá, 3 loài ăn nhuyễn thể và 13 loài ăn giun biển. Răng kitin của các loài ăn
cá gồm 2 loại cơ bản: loại thứ nhất 2 ngạnh với đầu gai uốn cong, không có cựa
đáy; loại thứ hai có 2 ngạnh sắp xếp ở phía trước, phần lưỡi có cấu trúc răng cưa
gần hết chiều dài của nó, không có cựa đáy. Loài ăn nhuyễn thể răng kitin có 2
ngạnh phía trước, có đường răng cưa, một số loài có cựa đáy. Răng kitin của loài ăn
giun biển cho thấy sự biến dị loài cao hơn loài ăn cá và nhuyễn thể, đặc trưng bởi 2
ngạnh ở trước, vùng răng cưa gần đỉnh, lưỡi kim ở vị trí cựa đáy.
Nishi và Kohn (1999) sử dụng các đặc điểm định tính và định lượng dựa trên cấu
trúc răng kitin để xếp 11 loài ốc cối thu ở vùng biển Ấn Độ- Thái Bình Dương
thành 3 nhóm riêng biệt: sự hiện diện hay vắng mặt của 1 hoặc 2 ngạnh và lưỡi,
đường răng cưa liên tục hay gián đoạn, tỉ lệ của ngạnh đầu, ngạnh hai, lưỡi, đường
răng cưa, chiều rộng thân và chiều rộng đáy với chiều dài răng, tỉ lệ giữa chiều dài
răng và chiều dài thân.
Franklin và cs (2007) nghiên cứu hình thái răng kitin của 22 loài ốc cối ở các
vùng ven biển Ấn Độ (hình 1.10), trong đó có 8 loài lần đầu tiên được mô tả. Kết
quả cho thấy sự khác biệt trong cấu trúc răng kitin ở các loài này và phân loại các