iLỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin gửi lời cảm ơn tới:
Ban chủ nhiệm cùng các thầy cô trong khoa Nuôi trồng thủy sản –
Trường Đại học Nha Trang đã giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học và thực hiện
công tác tốt nghiệp.
TS. Phạm Quốc Hùng đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập.
ThS. Nguyễn Văn Đảm cùng các cô chú, anh chị trong Trại cá Gành Son–
Tuy Phong– Bình Thuận đã tạo điều kiện và tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian
thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả những người thân trong gia
đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, ngày 20 tháng 6 năm 2012
Sinh viên
Trần Thị Thúy Phương
ii
iii
1.2. Vài nét về tình hình phân lập và lưu giữ giống tảo 13
1.2.1. Tình hình phân lập và lưu giữ giống tảo trên thế giới 13
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam. 14
1.3. Vai trò của vi tảo trong nuôi trồng thủy sản. 15
1.3.1. Vai trò của thực vật phù du trong ao nuôi trồng thủy sản 15
1.3.2. Vai trò của vi tảo trong sản xuất giống nhân tạo các đối tượng thủy sản 16
1.3.3. Tác hại do vi tảo gây ra 20
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 22
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu 22
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 23
2.3. Chuẩn bị dụng cụ, thiết bị, môi trường dinh dưỡng 23
2.3.1. Chuẩn bị dụng cụ 24
2.3.2. Thiết bị phục vụ 24
2.3.3. Nguồn nước 24
2.3.4. Vô trùng các dụng cụ thí nghiệm 25
2.3.5. Nguồn tảo 25
2.3.6. Môi trường dinh dưỡng trong các thí nghiệm 25
2.3.7. Bố trí thí nghiệm 26
2.3.7.1. Phân lập bằng phương pháp nuôi cấy trên môi trường thạch 26
2.3.7.2. Thí nghiệm xác định điều kiện lưu giữ tảo giống thích hợp 27
2.3.8. Phương pháp nhân tảo giống 28
2.3.9. Phương pháp xác định mật độ tế bào, tốc độ sinh trưởng hằng ngày và
các yếu tố môi trường nuôi. 29
2.3.9.1. Đếm tế bào 29
v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Chlorella sp………………………………………………………………3
Hình 1.2: Đường cong sinh trưởng của quần thể vi tảo 5
Hình 2.1: Cách đếm tế bào tảo bằng buồng đếm hồng cầu 29
Hình 2.2: Cấu tạo buồng đếm hồng cầu 30
Hình 3.1: Quần lạc tảo Chlorella sp mọc trên môi trường thạch 33
Hình 3.2: Sự tăng trưởng của tảo Chlorella sp trong điều kiện dịch lưu giữ lỏng và nhi
ệt độ khác nhau
Hình 3.3: Sự tăng trưởng của tảo Chlorella sp trong điều kiện dịch lưu giữ bán lỏng và nhi
ệt độ khác nhau
Hình 3.4: Ảnh hưởng của thời gian lưu giữ tới tốc độ tăng trưởng của Chlorella sp 40 vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
µ: Tốc độ tăng trưởng theo ngày của tảo Chlorella sp
AT: Ấu trùng
CTV: Cộng tác viên
HUFA: Highly Unstaturated Fatty Acid
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
PUFA: Polyunsaturated Fatty Acid
TB/ mL: Tế bào/mL
TB: Trung bình
1
MỞ ĐẦU
2
Với mong muốn được góp phần tạo ra các giống tảo thuần chủng có giá trị
trong nuôi trồng thủy sản và xác định được một số điều kiện lưu giữ tảo thuần, được
sự cho phép của Trường Đại học Nha Trang, khoa Nuôi trồng thủy sản, bộ môn
Sinh học nghề cá tôi đã tiến hành đề tài:
“Phân lập và lưu giữ giống tảo Lục Chlorella sp”.
Mục tiêu:
- Phân lập được tảo Lục nước mặn Chlorella sp.
- Xác định một số điều kiện lưu giữ thích hợp.
Nội dung nghiên cứu:
- Phân lập Chlorella sp nước mặn trên môi trường thạch sử dụng môi trường
dinh dưỡng F2.
- Lưu giữ Chlorella sp trong các điều kiện khác nhau.
Ý nghĩa của đề tài:
- Góp phần tạo ra giống tảo thuần chủng Chlorrella sp.
- Lưu giữ giống tảo Chlorella sp hiệu quả hơn.
3
nhiệt độ 15-35
0
C, độ mặn 5- 30‰, pH 7,5- 8,5.
1.1.2.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo của Chlorella sp
Tảo lục Chlorella hay còn được gọi là rong tiểu cầu, có cấu trúc cơ thể dạng
monas đơn bào hình trứng, hình tròn hay hình ovan. Đường kính tế bào trung bình
khoảng 5µm - 10µm, không vượt quá 15µm [2]. Tế bào không có roi nên không có
khả năng di động.
Đa số tế bào có một nhân. Nhân gồm có màng dịch nhân, hạch nhân và mạng
lưới nhiễm sắc. Sắc tố quang hợp chỉ có một thể sắc tố chloroplast và có dạng hình
chén. Lục lạp được bao phủ bởi một màng mỏng kép, bên trong chứa dịch protein
gọi là chất nền (matrix) và những cấu trúc dạng bản mỏng hay là lamen. Lục lạp là
nơi duy nhất trong tế bào tích lũy tinh bột, tinh bột tập trung xung quanh cơ quan
chuyên hóa gọi là pyreoit hay hạt tạo bột
Chất dự trữ của vi tảo Chlorella sp là tinh bột.
1.1.2.3. Sinh trưởng
Chu trình sinh trưởng gồm 5 giai đoạn:
- Pha gia tốc dương: trong giai đoạn này vi tảo bắt đầu có sự tiếp xúc và dần
thích nghi với môi trường sống. Cơ thể tiến hành hấp thu các chất dinh dưỡng và
phân cắt tế bào. Ở môi trường thuận lợi và có dinh dưỡng phong phú thì quần thể có
tốc độ sinh trưởng nhanh. Do số lượng tảo giống ít nên số lượng vi tảo tăng trong
một đơn vị thời gian là không lớn, nên sinh trưởng quần thể chậm.
- Pha logarit: sau pha gia tốc dương, quần thể vi tảo đã đạt đến một mật độ
nhất định, môi trường dinh dưỡng còn thuận lợi, vi tảo đẩy mạnh quá trình hấp thu
5
dưỡng chất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng. Mật độ và sinh khối tế bào ở giai đoạn
1.1.3. Thành phần hóa sinh của vi tảo
Thành phần dinh dưỡng của các loài vi tảo khác nhau có sự khác nhau rõ rệt
giữa các loài, ngay cả giữa các dòng trong cùng một loài cũng có sự khác nhau [3].
Ngoài ra còn khác nhau ở các giai đoạn khác nhau trong chu kì sinh trưởng, phát
triển của chúng [17]. Nhưng nói chung dinh dưỡng của vi tảo đã được Brown và
ctv, (1991) [18] trình bày ở Bảng 1.1:
Bảng 1.1: Thành phần của vi tảo (tính theo khối lượng khô tế bào) [12]
Cacbohydrate 10-30%
Chủ yết là polysaccharide
Lipid 10-25%
Các acid béo: 20-40% lipid tổng số
phosphorlipid : 10% lipid tổng số
Protein 30-55%
Thành phần amino acid tương tự protein trứng gà (albumin)
Khoáng 10-40%
Phosphor, silic (tảo khuê), canxi, natri
Acid nucleic 4-6% (RNA:DNA=3:1)
Bảng1.2: Thành phần sinh hóa của Chlorella sp [17]
Thành phần Hàm lượng(%) Thành phần
Hàm lượng
(mg/100gr)
Protein tổng số
Glucid
Lipid
10000
Kết quả nghiên cứu của Renaud, Thinh & Parry (1999) đã chỉ ra rằng vi tảo
phát triển đến cuối pha logarit thường chứa 30-40% protein, 10-20% lipid, 5-10%
carbohydrate. Khi qua pha cân bằng thì hàm lượng này bị biến đổi rất lớn. Mối liên
7
quan giữa thành phần dinh dưỡng với hàm lượng lipid tổng số, carbohydrate và
protein không được thể hiện rõ (Web & Chu, 1981; Brown, 2000. Trích theo
Nguyễn Thị Xuân Thu và ctv, 2004).
1.1.3.1. Lipid
Số lượng và chất lượng lipid trong vi tảo được xem là có giá trị cao trong
nuôi trồng thủy sản nhưng hàm lượng lipid ở các loài không cao lắm và chịu nhiều
tác động của môi trường nuôi. Khi nghiên cứu thành phần sinh hóa của 40 loài tảo
được sử dụng phổ biến trong nuôi trồng thủy sản cho thấy hàm lượng lipid biến
động từ 7-25% khối lượng khô [9]. Theo tổng kết này thì Bacillariophyceae có hàm
lượng lipid đạt cao nhất, trung bình là 18%, Tetraselmis suecica (thuộc lớp
Prasionphyceae) có hàm lượng lipid thấp nhất.
Riêng Chlorella sp hàm lượng lipid chiếm từ 10-15% trọng lượng khô của tế
bào và có thành phần acid béo khá cao (C18:1, C18:2, C18:3) đạt khoảng 55-60%
tổng acid béo [15].
1.1.3.2. Protein
Hàm lượng protein trong vi tảo được xem là một trong những yếu tố chính
xác định giá trị dinh dưỡng của tảo được dùng làm thức ăn trong nuôi trồng thủy sản [9].
Theo Brown và ctv (trích Tôn Nữ Mỹ Nga, 2007) khi nghiên cứu thành phần
sinh hóa của 40 loài tảo đại diện cho các ngành Bacillariophyta, Pryptomonad,
Chlorophyta, Eustigmatophyta, Crypytomanad, Rhodophyta cho thấy hàm lượng
tối ưu là từ 2500-4000lux. Cường độ ánh sáng quá lớn hay quá nhỏ đều có thể ức
chế sự quang hợp của tảo. Trong điều kiện phòng thí nghiệm ta có thể điều chỉnh
cường độ ánh sáng bằng hệ thống đèn neon, còn khi nuôi ngoài trời do cường độ
ánh sáng mặt trời quá lớn nên cần có mái che. Một số loài tảo không tăng trưởng
trong điều kiện chiếu sáng liên tục [18]. Ánh sáng liên tục không làm tăng năng suất
của tảo mà còn làm giảm hàm lượng protein, cacbohydrat và các acid béo không no
HUFA [5]. Theo Guillard (1975) thì những loài tảo được nuôi làm thức ăn mới
thích ứng trong điều kiện chiếu sáng liên tục và sử dụng ánh sáng khuyếch tán chứ
không phải ánh sáng mặt trời trực tiếp.
Ngoài ra chất lượng ánh sáng cũng ảnh hưởng đến chất lượng tảo. Theo
Kowallik (1987), (trích Hà Lê Thị Lộc, 2000) thì ánh sáng màu xanh làm tăng
lượng protein của tảo trong khi ánh sáng màu đỏ làm tăng lượng cacbohydrat.
9
Cường độ ánh sáng, thời gian chiếu sáng, chất lượng ánh sáng còn phụ thuộc vào
loài, mật độ nuôi khác nhau.
Bảng 1.3: Môi trường tối ưu để nuôi một số loài tảo [13]
Loài
Cường độ ánh
sáng (lux)
Nhiệt độ
(ºC)
Độ mặn
(‰)
pH
Platymonas
6,0-8,0
8,0-9,0
8,0-9,0
7,5-8,0
1.1.4.2. Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của tất cả các sinh
vật trên trái đất nói chung và đối với vi tảo nói riêng. Đối với vi tảo nhiệt độ ảnh
hưởng đến cấu trúc tế bào, tốc độ phản ứng trao đổi chất, quang hợp, mật độ phân
bố, cường độ hô hấp, kích thước tế bào và sự thích nghi của loài. Hầu hết vi tảo có
thể sống trong khoảng 16-30ºC, nhiệt độ cao quá 35ºC hay thấp hơn 16ºC vi tảo
kém phát triển và có thể gây chết một số loài nếu ngưỡng nhiệt độ này kéo dài.
Nhiệt độ thích hợp cho vi tảo sinh trưởng và phát triển nằm trong khoảng 20-25ºC
[9]. Nhiệt độ này có thể thay đổi theo thành phần môi trường nuôi và theo loài.
Đối với Chlorella sp nhiệt độ dưới 15ºC và trên 35ºC tảo sinh trưởng kém. Ở
nhiệt độ 25-30ºC với điều kiện dinh dưỡng tốt, cường độ ánh sáng và sự khuấy đảo
thích hợp vi tảo Chlorella sp phát triển nhanh [17].
Trong sản xuất đại trà vi tảo ở các trại nuôi trồng thủy sản thì nhiệt độ quyết
định rất lớn đến năng suất và chất lượng vi tảo. Hơn nữa, Việt Nam nằm trong khu
vực nhiệt đới gió mùa, sự biến đông nhiệt độ trong năm rất lớn. Mùa đông nhiệt độ
10
có thể xuống tới 5-7ºC, mùa hè nhiệt độ có thể lên tới 38ºC. Do đó để đảm bảo được
tính ổn định và lâu dài trong sản xuất thì giải pháp tạo ra các giống thuần chủng có
nguồn gốc bản địa được xem là rất hiệu quả.
1.1.4.3. Độ mặn
Mỗi loài vi tảo có khả năng thích nghi với các độ mặn khác nhau nhưng đa
Tuy nhiên, sục khí quá mạnh cũng không tốt cho vi tảo. Sục khí quá mạnh sẽ
làm vỡ tế bào tảo, làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi tảo, đôi khi có thể làm tảo
chết.
1.1.4.6. Ảnh hưởng của một số yếu tố dinh dưỡng
Các yếu tố dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng nhất, có tính
chất quyết định đến sinh trưởng và phát triển của vi tảo cả về số lượng và chất
lượng. Việc bổ sung dinh dưỡng vào môi trường nuôi giúp tăng năng suất tảo lên rất
nhiều so với ngoài tự nhiên. Thành phần dinh dưỡng thiết yếu cho vi tảo bao gồm
thành phần đa lượng (nito, photphat, silic), thành phần vi lượng (giúp cho quá trình
trao đổi, hấp thu các chất dinh dưỡng) và một số vitamin nhằm năng cao chất lượng
vi tảo.
Mỗi loài vi tảo khác nhau có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau. Đối với
Chlorella sp thì việc tăng gấp 20 lần hàm lượng muối KNO
3
, KH
2
PO
4
, MgSO
4
(từ
0,001 đến 0,002M) cũng không ảnh hưởng đến sinh trưởng của chúng (Myers, 1935.
trích theo Vũ Thùy Minh, 2005). Thậm chí người ta cho rằng đã thu được sản lượng
cao Chlorella sp khi tăng nồng độ muối trong dung dịch lên 0,063M (theo Speckis,
Milner, 1949) (trích Vũ Thị Thùy Minh, 2005). Thực tế có sự khác nhau về thành
phần dinh dưỡng trong các môi trường nuôi đối với cùng một đối tượng ở các nơi
khác nhau. Sự khác nhau đó xuất phát từ nguồn dinh dưỡng sẵn có trong các thủy
vực tự nhiên mà chúng sinh sống. Đối với Chlorella sp thì hai yếu tố dinh dưỡng
đóng vai trò quan trọng nhất là N, P nhưng cũng không thể xem nhẹ các yếu tố khác.
tảo cần chuyển hóa đạm amonia theo sơ đồ sau:
NO
-
3
=> NO
-
2
+ H
2
O => NH
4
OH => NH
4
+
Photpho
Tuy nhu cầu của photpho ít hơn rất nhiều so với ni- tơ nhưng nó đóng một
vai trò rất quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển của tảo. Photpho tham gia
vào việc hình thành nên nhiều hợp chất hữu cơ có vai trò cấu trúc hoặc trao đổi chất,
là chất không thể thiếu trong các khâu chuyển hóa trung gian và có ý nghĩa then
chốt trong trao đổi năng lượng. Ngoài ra photpho còn ảnh hưởng đến tỉ lệ thành
phần các acid béo không no. Theo Hari Son và cộng sự, 1990, khi giảm hàm lượng
photpho trong môi trường nuôi Nannochloropsis oculata gây ra giảm thành phần
acid béo mạch dài đa nối đôi như 20:5ω và 26:3ω. Tảo lục có nhu cầu photpho cao,
khoảng 0,1-0,3mg/L, ở hàm lượng 0,005mg/L tảo phát triển rất yếu. CO
2
1.2. Vài nét về tình hình phân lập và lưu giữ giống tảo
1.2.1. Tình hình phân lập và lưu giữ giống tảo trên thế giới
Theo Hans R. và Robert A. (2005), môi trường và phương pháp nuôi cấy tảo
được ngiên cứu từ những năm 1800-1900. Vào thế kỉ 19-20 có khá nhiều công trình
nghiên cứu vi tảo được công bố trên thế giới, song các công trình này chủ yếu chỉ
đề cập đến phương pháp nuôi cấy vi tảo mà chưa đề cập đến phương pháp phân lập
và lưu giữ giống tảo như thế nào, đặc biệt là các loài tảo sống ở đáy. Mặc dù vậy, có
thể đề cập đến một số công trình nghiên cứu sau:
Người đầu tiên tiến hành phân lập tảo thành công phải kể đến Beijerinck
(1890) với công trình phân lập tảo Chlorella, Scenedesmus và một số loài tảo vùng
Trebauxia. Ngoài ra Beijerinck còn nuôi thuần chủng tảo lam Anabana.
Năm 1890 Miquel đã pha loãng tảo tạp trong các môi trường khác nhau để
phân lập tảo silic.
14
Ferdinnard Cohn tuy không thành công trong việc phân lập tảo lục đơn bào
Hamatococcus nhưng cũng đã lưu giữ thành công loài tảo này.
Năm 1894, Krijger đã phân lập thành công quần lạc tảo lục gồm Prototheca,
Chlorella trên bề mặt thạch.
Zumstein (1900) cũng đã phân lập được loài tảo mắt Euglena gracillis bằng
pipet, phương pháp này được nghiên cứu và cải tiến dần trong quá trình phát triển
của lịch sử.
Năm 1997, Comtois đã phân lập và nuôi thuần chủng được một số loài tảo
silic bằng phương pháp nhặt tế bào bằng micropopipette.
Năm 1896-1898, Klebs đã phân lập được tảo trong đĩa petri có agar hay
gelatin cho dù tảo còn bị nhiễn khuẩn.
Năm 1900, Winkler đã tiến hành thu mẫu tảo nước ngọt xung quanh nhà ông
Năm 1995, Hoàng Thị Bích Mai đã thiết lập môi trường dinh dưỡng THO4
dùng để phân lập, lưu giữ và nuôi sinh khối một số tảo lục đơn bào như Chlorella sp,
Scensemus sp, Chlamydomonas sp.
Riêng Chlorella sp vài năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu có đề
cập đến việc phân lập và lưu giữ giống tảo như của Trần Thị Thanh Nga (2005), Vũ
Thị Thùy Minh (2006). Đặc biệt là công trình nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga
đã mô tả khá chi tiết về các thao tác cũng như kết quả của hai phương pháp pha
loãng và cấy trên môi trường đặc. Cả 2 tác giả đã đi đến kết luận chung là phân lập
Chlorella sp bằng môi trường pha loãng cho kết quả kém hơn so với nuôi cấy trên
môi trường đặc.
Ở Việt Nam, các loài tảo dùng làm thức ăn cho các đối tượng nuôi trồng thủy
sản chủ yếu được nhập giống thuần chủng từ nước ngoài và được lưu giữ trong
phòng thí nghiệm. Hiện nay, một số loài đã bị nhiễm tạp, nhiễm khuẩn hoặc thoái
hóa do đó việc phân lập và lưu giữ các giống tảo thuần chủng để chủ động trong sản
xuất là rất cần thiết.
1.3. Vai trò của vi tảo trong nuôi trồng thủy sản
1.3.1. Vai trò của thực vật phù du trong ao nuôi trồng thủy sản
- Cung cấp thức ăn tự nhiên: trong các ao nuôi trồng thủy sản quảng canh
thì thực vật phù du là cơ sở thức ăn để tạo ra sinh khối vật nuôi.
- Tạo sinh cảnh thích hợp cho sự tồn tại và phát triển của tôm cá nuôi. Vi
tảo che sự chiếu sáng trực tiếp của ánh sáng mặt trời lên tôm cá nuôi giúp chúng
16
giảm stress, ngăn cản sự phát triển của tảo đáy, làm giảm sự thay đổi nhiệt độ nước
trong ao nuôi theo biến động nhiệt của môi trường không khí.
- Cung cấp oxi: là nguồn chính cung cấp oxi cho tôm cá nuôi. Hơn 80%
lượng oxi cung cấp cho ao nuôi là từ sự quang hợp của thực vật phù du.
- Hấp thu mạnh các muối dinh dưỡng, đặc biệt là muối amoni, làm giảm bớt
tính độc của chúng và thúc đẩy nhanh chu trình vật chất trong ao nuôi.
1.3.2. Vai trò của vi tảo trong sản xuất giống nhân tạo các đối tượng thủy
sản
Vi tảo là thức ăn không thể thay thế trong giai đoạn ấu trùng và trong suốt
giai đoạn trưởng thành của động vật thân mềm. Đối với ấu trùng giáp xác và ấu
trùng một số loài cá biển thì vi tảo cũng là thức ăn bắt buộc trong giai đoạn đầu. Vi
tảo có giá trị dinh dưỡng cao, kích thước nhỏ nên nó là thức ăn lí tưởng để nuôi
(làm giàu) của động vật phù du làm thức ăn tươi sống cho ấu trùng nhằm nâng cao
tỉ lệ sống của ấu trùng cũng như con giống động vật thủy sản. Phân tích 40 loài tảo
thuộc 7 lớp (Bacillariophyceae, Chlorophyceae, Prymnesiophyceae, Cryptophyceae,
Eustigmatophyceae, Rhodophyceae, Prasinophyceae). Brown & ctv (1997) đã xác
định được thành phần protein rất cao trong tảo đơn bào, có thể chiếm tới 52% khối
lượng cơ thể. Các acid béo không no mạch dài (PUFA và HUFA) có trong tảo như
docosahecxanoic (DHA), eicosapentanoic (EPA), arachidonic (AA) rất cần thiết cho
sự sinh trưởng, phát triển và nâng cao sức đề kháng của động vật nuôi thủy sản.
Theo Nguyễn Thị Xuân Thu (2004) thì hầu hết các loài tảo đều chứa các loại acid
béo không no EPA ở mức độ trung bình đến cao (7- 34%). Lớp tảo
Eustisgmatophyceae (Nannochloropsis) rất giàu một hoặc cả hai loại acid béo
không no DHA và EPA. Những loại vitamine chính trong vi tảo bao gồm : thiamin
(B1), riboflavin (B2), pyridoxine (B6), cyanocobalamin (B12), vitamin C, pyridoxyl
17
phosphat và các loại vitamin tan trong dầu như A, D, E, K. Các loại vi tảo đang
được nuôi chứa hầu hết các loại vitamin với liều lượng đáp ứng được yêu cầu của
đối tượng nuôi
Bảng 1.4: Các loại vitamin có trong vi tảo biển [16]
18
Bảng 1.5: Các lớp và chi tảo được nuôi trồng để làm thức ăn cho động vật
thủy sinh [17]
Lớp Chi Đối tượng sử dụng vi tảo
Bacillariophyceae
Skeletonema
Thalassiosira
Phaeodactylum
Chaetoceros
Nitzchia và cyclotella
PL, BL, BP
PL, BL, BP
PL, BL, BP, ML, BS
PL, BL, BP, BS
BS
Haptophyceae
Isochrysis
Pseudoisochrysis
Dicrateria, coccolithus
PL, BL, BP, ML, BS
BL, BP, ML
BP
Prasinophyceae
Tetraselmis
Pyramimonnas
PL,BL,BP,AL, BS, MR
BL,BP
Chrysophyceae Monochrysis BL, BP, BS, MR