Sự cần thiết trong việc thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh - Pdf 15

bi: S cn thit trong vic thit lp c ch qun lý ti chớnh i vi doanh
nghip ngoi quc doanh
Túm tt ni dung:
1. Khỏi quỏt v doanh nghip ngoi quc doanh (DN-NQD)
- Khỏi nim:
- Phõn loi:
- c im:
- Xu hng phỏt trin:
2. C ch qun lý ti chớnh i vi DN-NQD:
- Nhng ni dung ch yu trong c chộ qun lý ti chớnh DN-NQD
- S cn thit phi thit lp c ch qun lý ti chớnh DN-NQD
3. Thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp NQD ở Việt Nam hiện nay
- Thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp NQD ở Việt Nam hiện nay
- Những thành tựu chung đã đạt đợc
- Những hạn chế của cơ chế quản lý tài chính DNNQD
4. Thit lp c ch qun lý ti chớnh i vi DN-NQD nc ta
Ni dung chi tit:
1. Khỏi quỏt v doanh nghip ngoi quc doanh (DN-NQD)
- Khỏi nim: DNNQD ở nớc ta hiện nay chính là các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh
nghiệp đó là các đơn vị kinh tế tồn tại dới các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH),
công ty cổ phần (CTCP), công ty hợp danh và doanh nghiệp t nhân (DNTN), do một hay nhiều
ngời đứng ra làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình (hữu hạn hay vô hạn) về mọi
hoạt động của doanh nghiệp. Tất nhiên cũng phải kể đến các hộ kinh doanh cá thể với mức vốn
pháp định thấp hơn vốn pháp định của doanh nghiệp t nhân. Đây là loại hình kinh tế hộ gia đình
kinh doanh trong một số ngành nghề nh nông nghiệp, thủ công, dịch vụ và buôn bán nhỏ. Nhìn
chung, bộ phận chính, quan trọng nhất trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chính là các công
ty bao gồm Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và doanh nghiệp t nhân.
- Phõn loi:
Công ty trách nhiệm hữu hạn:
- Công ty TNHH có hai thành viên trở lên: là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã

doanh nghiệp t nhân và công ty cổ phần đợc thành lập theo luật Doanh nghiệp.
Trên đây là một số cách phân loại khác nhau về các bộ phận cấu thành nên khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh, sở dĩ có những sự phân chia hơi khác nhau nh vậy là vì mỗi cách phân loại
dựa trên một tiêu thức, một cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, tựu trung lại, chúng ta có thể
hiểu doanh nghiệp NQD là các doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nớc, và tất nhiên là không
phải các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài (nh đã trình bày ở trên). Đây là một bộ phận không
thể thiếu trong nền kinh tế thị trờng, một phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nớc
- 2 -
ta. Phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là nhiệm vụ quan trọng để đi đến thắng lợi cuối
cùng trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
- c im:
- Thứ nhất, vốn trong các doanh nghiệp t nhân xét về quyền sở hữu đều là vốn tự có hoặc
đi vay của cá nhân hoặc nhóm cá nhân bất kể doanh nghiệp t nhân đó hoạt động dới hình thức
nào Công ty TNHH, Công ty hợp danh, Công ty cổ phần hay doanh nghiệp t nhân. Tại các nớc xã
hội chủ nghĩa nh ở nớc ta, nhìn chung các doanh nghiệp t nhân đều có khả năng tài chính hạn
hẹp, cha phát huy hết thế mạnh, hoạt động mang tính nhỏ lẻ, sự vụ, thiếu những định hớng chiến
lợc sản xuất kinh doanh lâu dài ổn định, kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến,
thơng mại dịch vụ, hàng thủ công. Sau đó là trình độ khoa học kĩ thuật lạc hậu, đây là một trong
những thiệt thòi của doanh nghiệp t nhân so với doanh nghiệp nhà nớc. Trong khi doanh nghiệp
nhà nớc đợc cung cấp thiết bị công nghệ tiên tiến, do nguồn vốn lớn từ ngân sách và tài trợ nớc
ngoài thì các doanh nghiệp t nhân sử dụng công nghệ lạc hậu hơn, có một số máy móc đã quá cũ
kĩ, hết thời gian sử dụng, thậm chí có một số là do doanh nghiệp nhà nớc thanh lý. Tiếp theo phải
nói đến trình độ quản lý còn nhiều yếu kém, bất cập trong khu vực kinh tế t nhân. Các doanh
nghiệp t nhân thờng có kiến thức và khả năng kinh doanh rất hạn chế, những hiểu biết về khoa
học kinh tế hay nghiệp vụ kinh doanh rất sơ sài, bên cạnh đó là nhận thức và kiến thức về pháp
luật, thông tin thị trờng ngay trong nớc chứ cha nói đến quốc tế còn nhiều thiếu sót và yếu kém.
Tất nhiên, tình trạng trên cũng một phần là do các nguyên nhân khách quan mang lại, đó là chiến
tranh, thời kỳ bị bao vây cấm vận, thời kì thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu
bao cấp và một số điều kiện kinh tế xã hội khác. Và cũng không phải toàn bộ các doanh nghiệp t
nhân đều lâm vào tình cảnh trên, không thiếu những doanh nghiệp t nhân làm ăn hiệu quả cao, v-

Việc thiết lập cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp NQD là một nhiệm vụ thực sự cần
thiết và mang tính cấp bách cao trong quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế ở nớc ta hiện nay.
Trớc hết, việc xây dựng cơ chế quản lý tài chính độc lập và chính thức đối với DNNQD
sẽ chứng tỏ quan điểm rõ ràng của Đảng và Nhà nớc ta trong việc khuyến khích phát triển đối với
khu vực kinh tế này. Điều đó cũng thể hiện Đảng và Nhà nớc đối xử bình đẳng nh nhau đối với
các khu vực kinh tế dù đó là kinh tế quốc doanh hay ngoài quốc doanh. Điều này hoàn toàn phù
hợp với đờng lối phát triển của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta.
Một cơ chế nh vậy sẽ đa doanh nghiệp ngoài quốc doanh trở thành một bộ phận cấu thành
nên nền kinh tế quốc dân, độc lập và bình đẳng với các khu vực kinh tế khác, chấm dứt cảm giác
bị "lép vế", đối xử không công bằng khi phải hoạt động "nhờ" cơ chế dành cho doanh nghiệp nhà
nớc. Cũng nhờ đó, việc thực hiện vai trò quản lý nhà nớc đối với khu vực kinh tế này đợc thuận
lợi hơn, phù hợp với những đặc điểm riêng về sở hữu, quy mô và hình thức hoạt động.
Hơn thế nữa, chắc chắn với cơ chế mới phù hợp và hiệu quả hơn, các doanh nghiệp NQD
sẽ không ngừng tăng quy mô đầu t, tích cực phát triển khoa học công nghệ ứng dụng những tiến
bộ khoa học vào sản xuất. Qua đó, nâng cao năng suất lao động, tạo thêm nhiều của cải vật chất
cho đất nớc, và góp phần quan trọng trong công cuộc hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Kích thích đầu t trong nớc, phát huy nội lực là một chiến lợc đúng đắn
lâu dài của nớc ta trong công cuộc phát triển kinh tế.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong những năm qua đã và đang tiếp tục phát triển
nhanh mạnh, đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế chung của đất nớc, vì vậy việc
- 4 -
thiết lập cơ chế quản lý phù hợp và xứng đáng với vị thế của khu vực kinh tế này là việc làm cần
thiết. Hơn nữa, tăng cờng quản lý tài chính đối với khu vực kinh tế NQD là một nhân tố quan
trọng trong việc chống thât thu thuế, tăng thu cho ngân sách, hạn chế hiện tợng lãng phí, trốn lậu
thuế và gian lận thơng mại.
Tóm lại, thiết lập cơ chế quản lý tài chính là công tác cần thiết và mang tính cấp bách cao.
Cơ chế quản lý tài chính độc lập tơng xứng với vị thế và tiềm năng phát triển của khu vực kinh tế
này sẽ đem lại nhiều lợi ích cho nên kinh tế nớc ta cả trớc mắt và lâu dài.
3. Thit lp c ch qun lý ti chớnh i vi DN-NQD nc ta
Chúng ta có thể khẳng định rằng, tài chính là vấn đề cốt tử của doanh nghiệp cơ chế pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status