Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam. - Pdf 11

Luận văn tốt nghiệp
Mục lục
Trang
Lời mở đầu
4
Chương I: Những vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý tài
chính đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
6
1.1. Khái quát về doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DN-NQD) 6
1.1.1. Khái niệm và phân loại DN-NQD 6
1.1.2. Vai trò của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế 9
1.1.3. Đặc điểm và xu hướng phát triển của DNNQD 10
a) Đặc điểm 10
b) Xu hướng phát triển của DNNQD trong tương lai 12
1.2. Cơ chế quản lý tài chính đối với DNNQD 14
1.2.1 Khái niệm về cơ chế quản lý tài chính 14
1.2.2. Những nội dung chủ yếu trong cơ chế quản lý tài chính doanh
nghiệp NQD
16
1.2.2.1. Sự thành lập và đăng kí kinh doanh 16
1.2.2.2. Quản lý vốn và tài sản 17
1.2.2.2.1. Quản lý vốn đối với DNNQD 17
1.2.2.2.2. Quản lý tài sản đối với doanh nghiệp NQD 22
1.2.2.3. Quản lý doanh thu và chi phí đối với doanh nghiệp NQD 28
1.2.2.3.1. Quản lý doanh thu đối với doanh nghiệp NQD 28
1.2.2.3.2. Quản lý chi phí đối với doanh nghiệp NQD 30
1.2.2.4. Quản lý việc phân phối lợi nhuận đối với doanh nghiệp NQD 34
1.2.2.5. Quản lý công tác kế toán kiểm toán và báo cáo tài chính doanh
nghiệp NQD
40
1.2.3. Vai trò của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp NQD 41

2.3.1. Những thành tựu chung đã đạt được 70
2.3.2. Những hạn chế của cơ chế quản lý tài chính DNNQD 71
2.3.3. Nguyên nhân căn bản của những hạn chế trên 72
Chương III Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với
DNNQD ở nước ta
76
3.1. Những quan điểm cần quán triệt trong việc thiết lập cơ chế quản lý
tài chính đối với khu vực kinh tế NQD
78
3.2. Giải pháp thiết lập cơ chế quản lý tài chính cho các DNNQD 78
3.2.1. Quản lý vốn và tài sản 80
3.2.2. Quản lý doanh thu chi phí 83
2
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
2
Luận văn tốt nghiệp
3.2.3 Quản lý thu nhập và phân phối thu nhập 87
3.2.4. Quản lý công tác kế toán, kiểm toán và báo cáo tài chính 89
3.2.5. Các giải pháp hỗ trợ khác 91
3.3. Kiến nghị điều kiện thực thi giải pháp 96
Kết luận 98
Danh mục tham khảo 99
Lời mở đầu
Từ Đại hội Đảng VI năm 1986, Đảng và Nhà nước ta xác định chúng ta
đang trong thời kì quá độ, tiến lên chủ nghĩa xã hội, trong đó, xây dựng một nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa
chính là nhiệm vụ trọng tâm xuyên xuốt trong giai đoạn lịch sử này. Để có được
bài học đó, chúng ta đã phải trả giá bằng một thời kỳ dài nền kinh tế vận hành
theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp với tất cả những "thói hư tật xấu", vì
vậy để thực hiện được đường hướng của Đảng và Nhà nước, chúng ta phải thực

xây dựng và ban hành một Nghị định tương tự Nghị định 59/NĐ-CP nhưng là
cho các doanh nghiệp NQD. Trước thực tế đó, em mạnh dạn đề cập và nghiên
cứu đề tài :
"Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở
Việt Nam".
Chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh
4
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
4
Luận văn tốt nghiệp
Chương II: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp NQD
ở Việt Nam hiện nay
Chương III: Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với DNNQD ở nước ta
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do kiến thức
còn hạn chế, nhận thức chưa đầy đủ, thiếu kinh nghiệm thực tiễn và những khó
khăn khách quan về tài liệu, số liệu và các tài liệu tham khảo, chuyên đề chắc
chắn không thể tránh khỏi sai lầm, thiếu sót. Vì vậy, em mong được thầy cô và
các bạn phê bình, bổ sung và đóng góp ý kiến để chuyên đề hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của các cán bộ Cục tài chính doanh
nghiệp, nhất là tập thể cán bộ Ban ngoài quốc doanh, những người giàu kinh
nghiệm thực tế trong lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. Đặc biệt, em xin cám ơn
thầy giáo Vũ Duy Hào người trực tiếp hướng dẫn em thực hiện đề tài này.
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH.
1.1. Khái quát về doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DN-NQD)
1.1.1 Khái niệm và phân loại DN-NQD:
Đề cập đến kinh tế ngoài quốc doanh, Nghị quyết Đại hội trung ương
Đảng lần thứ V đã công nhận, trong hơn 10 năm thuộc thời kì đổi mới, khu vực

có thể là sự liên doanh giữa hai công dân thuộc hai nước khác nhau, liên
doanh giữa hai tổ chức hay liên doanh giữa hai chính phủ, còn doanh nghiệp
nước ngoài thì càng không thể khẳng định nó thuộc sở hữu nhà nước hay tư
nhân. Thứ hai, tính chất hoạt động và các ảnh hưởng của doanh nghiệp nước
ngoài khác so với các doanh nghiệp trong nước, chúng vận hành theo một bộ
luật riêng thường là luật đầu tư nước ngoài và ảnh hưởng lên một số khía
cạnh đặc thù trong nền kinh tế như cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, tài
trợ xuất nhập khẩu v.v Vì vậy, ở đây chúng ta không xếp các doanh nghiệp
nước ngoài như một bộ phận của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
6
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
6
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy, DNNQD ở nước ta hiện nay chính là các doanh nghiệp hoạt
động theo luật doanh nghiệp đó là các đơn vị kinh tế tồn tại dưới các hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần (CTCP), công ty
hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (DNTN), do một hay nhiều người đứng ra
làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình (hữu hạn hay vô hạn)
về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Tất nhiên cũng phải kể đến các hộ kinh
doanh cá thể với mức vốn pháp định thấp hơn vốn pháp định của doanh
nghiệp tư nhân. Đây là loại hình kinh tế hộ gia đình kinh doanh trong một số
ngành nghề như nông nghiệp, thủ công, dịch vụ và buôn bán nhỏ. Nhìn
chung, bộ phận chính, quan trọng nhất trong khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh chính là các công ty bao gồm Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công
ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Công ty trách nhiệm hữu hạn:
- Công ty TNHH có hai thành viên trở lên: là doanh nghiệp trong đó
thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp (trách
nhiệm hữu hạn). Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân số lượng thành viên

- Kinh tế tiểu chủ: là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý và
điều hành, hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và có sử
dụng lao động thuê mướn ngoài lao động của chủ; quy mô vốn đầu tư và lao
động nhỏ hơn của các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
- Kinh tế tư bản tư nhân: bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần được thành lập theo
luật Doanh nghiệp.
Trên đây là một số cách phân loại khác nhau về các bộ phận cấu thành
nên khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, sở dĩ có những sự phân chia hơi khác
8
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
8
Luận văn tốt nghiệp
nhau như vậy là vì mỗi cách phân loại dựa trên một tiêu thức, một cách tiếp
cận khác nhau. Tuy nhiên, tựu trung lại, chúng ta có thể hiểu doanh nghiệp
NQD là các doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, và tất nhiên là
không phải các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (như đã trình bày ở
trên). Đây là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường, một
phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Phát triển khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh là nhiệm vụ quan trọng để đi đến thắng lợi cuối
cùng trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
1.1.2. Vai trò của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế:
Kinh tế tư nhân có thể kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực trong nền
kinh tế, tất nhiên trừ một số ít lĩnh vực mà nhà nước giữ độc quyền để kiểm
soát tình hình an ninh quốc phòng và ổn định chính trị trong nước.
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đã và đang tiếp tục có những
đóng góp tích cực và vô cùng quan trọng cần thiết trong công cuộc phát triển
đất nước.
- Góp phần quan trọng để tạo ra thành tựu tăng trưởng kinh tế chung, đổi

không thể thiếu.
1.1.3. Đặc điểm và xu hướng phát triển của DNNQD:
a) Đặc điểm :
- Thứ nhất, vốn trong các doanh nghiệp tư nhân xét về quyền sở hữu
đều là vốn tự có hoặc đi vay của cá nhân hoặc nhóm cá nhân bất kể doanh
nghiệp tư nhân đó hoạt động dưới hình thức nào Công ty TNHH, Công ty
hợp danh, Công ty cổ phần hay doanh nghiệp tư nhân. Tại các nước xã hội
chủ nghĩa như ở nước ta, nhìn chung các doanh nghiệp tư nhân đều có khả
năng tài chính hạn hẹp, chưa phát huy hết thế mạnh, hoạt động mang tính nhỏ
lẻ, sự vụ, thiếu những định hướng chiến lược sản xuất kinh doanh lâu dài ổn
định, kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, thương mại
10
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
10
Luận văn tốt nghiệp
dịch vụ, hàng thủ công. Sau đó là trình độ khoa học kĩ thuật lạc hậu, đây là
một trong những thiệt thòi của doanh nghiệp tư nhân so với doanh nghiệp
nhà nước. Trong khi doanh nghiệp nhà nước được cung cấp thiết bị công
nghệ tiên tiến, do nguồn vốn lớn từ ngân sách và tài trợ nước ngoài thì các
doanh nghiệp tư nhân sử dụng công nghệ lạc hậu hơn, có một số máy móc đã
quá cũ kĩ, hết thời gian sử dụng, thậm chí có một số là do doanh nghiệp nhà
nước thanh lý. Tiếp theo phải nói đến trình độ quản lý còn nhiều yếu kém, bất
cập trong khu vực kinh tế tư nhân. Các doanh nghiệp tư nhân thường có kiến
thức và khả năng kinh doanh rất hạn chế, những hiểu biết về khoa học kinh tế
hay nghiệp vụ kinh doanh rất sơ sài, bên cạnh đó là nhận thức và kiến thức về
pháp luật, thông tin thị trường ngay trong nước chứ chưa nói đến quốc tế còn
nhiều thiếu sót và yếu kém. Tất nhiên, tình trạng trên cũng một phần là do
các nguyên nhân khách quan mang lại, đó là chiến tranh, thời kỳ bị bao vây
cấm vận, thời kì thực hiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao
cấp và một số điều kiện kinh tế xã hội khác. Và cũng không phải toàn bộ các

thay đổi và chắc chắn sẽ còn thay đổi mạnh.
Số liệu của Tổng cục thống kê về các "thành phần kinh tế" (không tính
lĩnh vực nông nghiệp) cho thấy tình hình như sau:

Các khu vực sở hữu
Đơn
vị
1992 1994 1995
199
6
Số cơ sở

sở
1514
615
1558
627
2078
125
224
558
12
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
12
Luận văn tốt nghiệp
DNNN
" 7060 6264 5873
579
0
DN tập thể

ngườ
i
4706,
5
5453,
4
6368,
5
690
3,2
DNNN % 38,7 30,3 28,3 26,7
DN tập thể % 3,0 2,5 1,6 1,4
DN có vốn
đầu tư nước
ngoài
% 1,1 1,8 2,3 3,0
DNNQD
(cả Cá thể)
% 57,2 65,4 67,8 68,8
Nguồn: Tổng cục thống kê:"Báo cáo phân tích thực trạng của thành phần kinh tế tư bản nhà nước
và tư bản tư nhân sau 10 năm đổi mới", tháng 6-1997
Theo các số liệu trên, năm 1996 so với khu vực nhà nước thì khu vực
tư nhân mới là nơi chủ yếu thu hút lao động xã hội.. Theo các số liệu mới
nhất cho thấy trong cơ cấu tổng sản phẩm trong nước năm 1998 (tính theo giá
hiện hành), kinh tế nhà nước chiếm 40%, kinh tế tư nhân chiếm 38%, khu
vực sở hữu hỗn hợp chiếm 22%, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
13
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
13
Luận văn tốt nghiệp

Luận văn tốt nghiệp
quan hệ đó là những quan hệ về giá cả được biểu hiện dưới các sắc thái khác
nhau. Hình thức biểu hiện của các hoạt động tài chính trong doanh nghiệp là
hết sức đa dạng và linh động, phụ thuộc nhiều yếu tố. Cũng chính vì thế, cơ
chế quản lý tài chính doanh nghiệp nếu hiểu theo nghĩa đầy đủ cũng bao hàm
rất nhiều thành tố. Tât cả những vấn đề như : Pháp luật, tổ chức thực hiện
pháp luật và phương pháp quản lý vận hành doanh nghiệp đều nằm trong một
khái niệm đó là Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở đây,
chúng ta có thể tách cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp thành hai phần cơ
bản, dựa trên hai giác độ tiếp cận khác nhau đối với việc quản lý tài chính
doanh nghiệp đó là giác độ quản lý nhà nước và giác độ quản lý trong doanh
nghiệp.
Trên giác độ quản lý nhà nước, người ta đặc biệt quan tâm đến hai vấn đề
đầu tiên đó là Pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật. Xây dựng pháp luật
về tài chính và tổ chức thực hiện nó chính là nhà nước đã tạo ra một môi
trường chính thức, bình đẳng và công khai cho các doanh nghiệp hoạt động.
Thông qua đó, nhà nước có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp lên các hoạt
động tài chính của tất cả các doanh nghiệp nói chung hay một hoặc một
nhóm các doanh nghiệp nói riêng. Với những điều chỉnh thích hợp về pháp
luật trong từng thời kì, từng hoàn cảnh điều kiện nhất định, nhà nước có thể
tạo nên những thay đổi rất căn bản trong cơ chế quản lý tài chính doanh
nghiệp hướng đến những mục tiêu: đảm bảo các doanh nghiệp phát triển
đúng hướng, nâng cao hiệu quả và đóng góp của các doanh nghiệp đối với
đất nước, tạo điều kiện phát triển và hạn chế những tiêu cực trong quá trình
tăng trưởng phát triển kinh tế. Và xét cho cùng, nhà nước là thể chế duy nhất
thực hiện chức năng quản lý đất nước bằng pháp luật, pháp luật chính là công
cụ vô cùng hữu hiệu mà chỉ nhà nước mới có và dùng được.
Trên giác độ doanh nghiệp, các doanh nghiệp thực hiện chức năng quản
lý tài chính của mình thông qua việc ra các quyết định tài chính như huy
15

16
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
16
Luận văn tốt nghiệp
+ Quản lý doanh thu chí phí
+ Quản lý lợi nhuận và phân phối lợi nhuận
+ Chế độ kế toán kiểm toán và báo cáo tài chính
1.2.2.1. Sự thành lập và đăng kí kinh doanh:
Việc thực hiện quản lý sự thành lập và cấp giấy phép kinh doanh cho
các doanh nghiệp là sự thừa nhận về mặt pháp lý đối với mọi hoạt động của
doanh nghiệp đó. Thông qua việc cấp giấy phép kinh doanh, nhà nước có thể
quy định và điều chỉnh những ngành nghề, quy mô, hình thức hoạt động mà
doanh nghiệp có thể hoạt động. Khuyến khích những ngành nghề có lợi cho
sự phát triển chung của đất nước, hay hạn chế những ngành nghề chưa thực
sự phù hợp với điều kiện hiện tại của đất nước. Do đó, những quy định về
cấp giấy phép kinh doanh cho doanh nghiệp cần được quy định thành pháp
luật, trong đó có những điều khoản nhất định về quyền và nghĩa vụ của doanh
nghiệp khi đã được pháp luật thừa nhận. Vấn đề đáng lưu ý khi xây dựng một
cơ chế cho việc thành lập doanh nghiệp là tình hình phát triển của khu vực
kinh tế đó, nhu cầu của đất nước, triển vọng phát triển và trình độ quản lý
hiện tại của nhà nước đối với nền kinh tế.
1.2.2.2. Quản lý vốn và tài sản:
Vốn và tài sản là hai mặt chính yếu và quan trọng nhất trong sự tồn tại
của bất cứ một doanh nghiệp nào, đây là hai mặt của một quá trình thống
nhất không thể tách rời. Vốn là nguồn lực cho mọi hoạt động của doanh
nghiệp, doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và hoạt động được khi có vốn. Phía
bên kia, tài sản lại chính là sự biểu hiện hình thái và hiện trạng của vốn được
đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
1.2.2.2.1. Quản lý vốn đối với DNNQD:
17

Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
18
Luận văn tốt nghiệp
kinh doanh. Số lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư sẽ làm tăng thêm nguồn vốn
của chủ sở hữu, tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp, được phản ánh
trên bảng cân đối kế toán. Quy mô và tỷ lệ vốn giữ lại từ lợi nhuận phụ thuộc
vào tình hình kinh doanh, kết quả hoạt động của thời kỳ đã qua và quyết định
của chủ doanh nghiệp.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia là một phương thức tạo nguồn tài
chính và khá hấp dẫn đối với các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm bớt
được chi phí, giảm bớt phụ thuộc vào bên ngoài. Rất nhiều công ty coi trọng
chính sách tái đầu tư từ số lợi nhuận để lại, họ đặt ra mục tiêu phải có một
khối lượng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng
tăng.
Tuy nhiên, nên lưu ý với trường hợp các công ty cổ phần, việc giữ lại lợi
nhuận có liên quan đến một số yếu tố nhạy cảm. Khi công ty giữ lại lợi nhuận
mà không chia cho cổ đông dưới hình thức cổ tức, thì quyền sở hữu vốn cổ
phần của các cổ đông sẽ tăng lên. Giá trị sổ sách của các cổ phiếu sẽ tăng lên
cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt khuyến
khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp
dẫn của cổ phiếu trong thời kì trước mắt, do cổ đông chỉ nhận được một
lượng cổ tức nhỏ nhất định. Đấy là còn chưa kể đến những rủi ro khi tỷ suất
sinh lời của công ty giảm xuống, không đủ để đáp ứng chi trả một tỷ lệ cổ
tức phù hợp. Khi đó, giá cổ phiếu sẽ bị giảm sút hay giá trị thị trường của
công ty sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực.
Khi giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu tư, chính sách phân phối cổ tức
của Công ty cổ phần phải lưu ý đến một số yếu tố có liên quan như:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
- Tỷ lệ cổ tức các năm trước
19

Luận văn tốt nghiệp
Hầu hết, các nước đều sử dụng giới hạn phát hành như một công cụ quan
trọng để kiểm soát và hạn chế các rủi ro cho công chúng. Thông thường, một
Công ty có thể phát hành số cổ phiếu đã được cấp phép phát hành.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý và kiểm soát quá trình phát hành
chứng khoán tuỳ thuộc vào chính sách cụ thể của Nhà nước và Uỷ ban chứng
khoán nhà nước. Ví dụ như ở nước ta hiện nay, hệ thống văn bản pháp quy về
chứng khoán mới được xây dựng và đang trong quá trình hoàn thiện để tạo
điều kiện tốt hơn cho hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp và lưu
chuyển vốn trong nền kinh tế.
Vấn đề chống thôn tính, bảo vệ các công ty hoạt động trong một thị
trường chứng khoán còn non trẻ như ở nước ta đang là một trong những
nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh và lâu dài cho
thị trường chứng khoán ở nước ta.
Cổ phiếu ưu tiên:
Cổ phiếu ưu tiên chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu
được phát hành. Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc dùng cổ phiếu ưu
tiên là thích hợp. Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là thường có cổ tức ổn định.
Người chủ sở hữu của cổ phiếu này có quyền được thành toán lãi trước các
cổ đông thông thường. Nếu có lãi chỉ đủ chi trả cổ tức cho cổ đông ưu tiên thì
cổ đông thông thường sẽ không được nhận cổ tức của kì đó. Việc giải quyết
chính sách cho cổ đông ưu tiên thường được quy định rõ trong điều lệ công
ty.
Một vấn đề quan trọng cần đề cập khi phát hành cổ phiếu ưu tiên là thuế.
Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập Công ty, cổ tức
được lấy từ lợi nhuận sau thuế. Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu tiên. Mặc dù
vậy, như đã đề cập, cổ phiếu ưu tiên vẫn có những ưu điểm đối với cả Công
ty phát hành và cả nhà đầu tư.
21
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam

22
Luận văn tốt nghiệp
Capital ... lại tập trung đầu tư chủ yếu vào các doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Tín dụng không chính thức hay tín dụng phi chính thức (trong xã hội
nhiều người còn quen gọi là tín dụng ngầm) là hoạt động nằm ngoài khuôn
khổ luật định của nhà nước, hoặc không phụ thuộc và không chịu sự quản lý,
giám sát của chính quyền nhà nước các cấp. Nó bao gồm hoạt động cho vay
của những người cho vay lấy lãi, của các tư thương dưới hình thức bán chịu
hàng hoá, của các chủ cửa hàng cầm đồ, các nhóm tự hợp tác tín dụng dưới
các hình thức chơi hụi, họ hoặc phường, hình thức cho vay bạn bè anh em,
hàng xóm.
Như vậy, dù đó là việc đi vay chính thức hay không chính thức thì vấn đề
đặt ra cho một cơ chế quản lý tài chính là phải tổ chức xây dựng cho các
doanh nghiệp NQD một cơ chế, một khuôn khổ hiệu quả, năng động trong
việc tiếp cận các nguồn vốn trong và ngoài nước phục vụ cho sự phát triển.
Tuy nhiên quá trình huy động và sử dụng vốn cũng không được diễn ra một
cách quá ồ ạt, thiếu tổ chức và giám sát của các cơ quan chức năng, tránh gây
nên hiện tượng tiêu cực thiếu lành mạnh, gây nên những hậu quả không tốt
cho nền kinh tế.
1.2.2.2.2. Quản lý tài sản đối với doanh nghiệp NQD:
Các vấn đề đặt ra đối với việc quản lý tài sản đối với doanh nghiệp NQD
bao gồm các vấn đề như:
+ Quản lý tài sản cố định
+ Quản lý tài sản lưu động
a) Công tác quản lý tài sản cố định:
23
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
23
Luận văn tốt nghiệp

hiệu thương mại, kiểu dáng công nghiệp, bằng phát minh sáng chế, bản
quyền, giải pháp công nghệ hữu ích v.v
+ Đặc quyền khai thác, kinh doanh, quyền đăc nhượng hoặc giấy
phép đặc biệt trong một số lĩnh vực.
Trong thực tế, rất khó đánh giá chính xác giá trị của một tài sản cố định
vô hình vì nó không tồn tài dưới dạng vật chất cụ thể có thể đo đếm hay định
giá rõ ràng. Tuy nhiên sự phát triển của các thị trường tài chính, thị trường về
quyền sở hữu công nghiệp đã tạo điều kiện hình thành các mức giá thị trường
cho tài sản cố định vô hình.
Công ty cần hạch toán chính xác các chi phí ngay từ khi bắt đầu thành lập
doanh nghiệp hay dự án. Đó là các chi phí như Chi phí khảo sát thiết kế, xây
dựng luận chứng kinh tế-kĩ thuật, chi phí cần thiết và hợp lý cho các thủ tục
pháp lý như đăng ký kinh doanh, thuế trước bạ, lệ phí chứng thư, ngoài ra
còn có các chi phí như mua bán quyền sáng chế, phát minh, hoặc trị giá được
thừa nhận của quyền sở hữu công nghiệp.
Doanh nghiệp dự tính tuổi thọ hữu ích cho tài sản cố định vô hình, tức là
dự tính thời gian tính khấu hao của các tài sản cố định vô hình. Hiện nay, ở
nước ta chưa có phương pháp tính chính thức nào được đưa ra, nhưng có thể
dùng phương pháp chuyên gia để đánh giá. Mục đích của việc tính toán này
không phải là sự chính xác tuyệt đối mà nhằm phản ánh tương đối lợp lý chi
phí khấu hao vào giá thành sản phẩm và dịch vụ.
- Quản lý KHTSCĐ Trong quá trình sử dụng, các tài sản cố định dần hư
hỏng và xuống cấp, đây được hiểu là sự hao mòn. Sự hao mòn đó làm giảm
giá trị của tài sản cố định một cách tương ứng. Do đó công ty phải xác định
trị giá hao mòn trong từng thời kỳ và hạch toán vào giá thành sản phẩm, đó
chính là khái niệm khấu hao tài sản cố định.
25
Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh ở Việt Nam
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status