Chuối cung ứng của WAL - MART pot - Pdf 15

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ WAL MART.
1. Lịch sử hình thành
Wal-Mart là một trong những tập đoàn bán lẻ lớn nhất trên thế giới (theo doanh số)
theo công bố của tạp chí Fortune 500 năm 2007, có trụ sở tại Hoa Kỳ. Nó được thành
lập bởi Sam Walton năm 1962, đã thành lập công ty ngày 31 tháng 10 năm 1969, và
niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán New York năm 1972. Tập đoàn này lớn hơn
rất nhiều so với các đối thủ cạnh tranh của nó ở Mỹ bao gồm: Sears Roebuck, Kmart,
JC Penney and Nordstronm kết hợp lại (xét về doanh số bán hàng).
1.1 . Một số nét chính về Wal-Mart :
 Thành lập: 1962 tại Rogers, Bang Arkansas của Mỹ;
 Trụ sở chính: Bentonville, Arkansas, Mỹ; người sáng lập là Sam Walton (1918 –
1992).
 Lãnh đạo chủ chốt: H.Lee Scott, tổng giám đốc điều hành; S.Robson Walton, chủ
tịch hội đồng quản trị; Tom Schowe, giám đốc tài chính.
 Trụ sở chính của Wal-Mart tại Bentonville, Arkansas, US.
 Ngành: kinh doanh bán lẻ.
 Sản phẩm: Chuỗi cửa hàng giảm giá, đại siêu thị và các thị trường lân cận.
 Doanh thu: 374,526 tỉ USD (quí I – 2008)
 Lợi nhuận ròng sau thuế: 12,88 tỉ USD (quý I – 2008)
 Tổng tài sản: 163,514 tỉ USD (quý I – 2008)
Nhóm 13 Page 1
 Tổng giá trị cổ phiếu phát hành ra thị trường: 64,608 tỉ USD (quý I – 2008)
 Số lượng nhân viên: 1.9 triệu (quý I – 2008), hơn 1.3 triệu là ở Mỹ.
 Thị trường của Wal-Mart: Mỹ, Mêxicô, Anh, Nhật, Argentia, Braxin, Canađa,
Trung Quốc, Puerto Rico,…Wal-Mart hoạt động với hơn 3.800 cơ sở ở nước Mỹ và
hơn 3.100 cơ sở ở nước ngoài.
 Trung bình cứ một siêu thị của Wal-Mart mở ra, giá cả hàng hoá của các siêu thị
khác sẽ phải giảm 10-15%. Khoảng 30% loại mùng mền, giấy toitlet, xà phòng kem
đánh răng, 20% thức cho các loại thú nuôi trong nhà và 15-20% đĩa CD, đầu máy
Video và đĩa DVD khác.,
 Việc Wal-Mart giảm giá thực phẩm đã mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Mỹ tối

City.
 1992 : Tổng thống George Bush trao tặng Sam Walton Huy chương vì Sự tự do
(Medal of Freedom).
 1992 : Sam Walton qua đời vào ngày 5 tháng 4 năm 1992.
 1992 : S. Robson Walton nhận chức Chủ tịch Hội đồng quản trị ngày 7 tháng 4.
 1992 : Wal-Mart xâm nhập vào Puerto Rico.
 1993 : Wal-Mart International Division được thành lập với Bobby Martin làm chủ
tịch
 1993 : đạt tuần lễ doanh thu 1 tỷ USD đầu tiên.
 1994 : mua lại 122 cửa hàng Woolco ở Canada.
 1995 : xây dựng 3 chi nhánh tại Argentina và 5 chi nhánh tại Brazil.
 1996 : Wal-Mart xâm nhập thị trường Trung Quốc thông qua thỏa thuận liên doanh.
 1997 : Wal-Mart trở thành công ty có số lượng nhân viên lớn nhất tại Mỹ.
 1997 : Wal-Mart có 680.000 nhân viên trên toàn thế giới, gồm 115.000 nhân viên ở
nước ngoài.
 1997 : Wal-Mart thay thế Woolworth trên chỉ số Down Jones xếp hạng trung bình
các ngành công nghiệp.
 1997 : Wal-Mart đạt doanh thu một năm 100 tỷ USD lần đầu tiên.
 1998 : Wal-Mart mua lại 21 siêu thị của Wertkauf tại Đức.
 1998 : đóng góp từ thiện đạt 100 triệu USD.
 1998 : Wal-Mart xâm nhập vào thị trường Hàn Quốc thông qua thỏa thuận liên
doanh.
 1999 : Wal-Mart có 1.140.000 nhân viên, trở thành công ty có số lượng nhân viên
lớn nhất thế giới.
Nhóm 13 Page 3
 1999 : mua lại ASDA Group plc. của Anh (gồm 229 cửa hàng).
 1999 : mua lại 374 chi nhánh của Interspa tại Đức.
Trong những năm 2000 :
 2000 : xếp hạng 5 trong danh sách Global Most Admired All-Stars do tạp chí
FORTUNE bình chọn.

Ra đời năm 1962 thì đến năm 1979, Wal-Mart lần đầu đạt doanh thu một tỷ USD
một năm. Đến năm 1993, doanh thu đã đạt được con số một tỷ USD mỗi tuần. Năm
2001, doanh thu mỗi ngày của Wal-Mart đã gần bằng con số ấy. So với thời điểm
1992, Wal-Mart nay lớn hơn gấp năm lần trước đây, tuyển dụng một lượng lao động
gấp ba lần hãng General Motors. Chỉ riêng một mặt hàng như bột giặt, mỗi năm Wal-
Mart bán được một lượng trị giá 1,4 tỷ USD.
Nhiều chuyên gia kinh tế dự báo rằng với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, trong
một thập kỷ nữa, doanh số hằng năm của Wal-Mart có thể vượt 1.000 tỷ USD. Những
số liệu này chỉ một quốc gia mạnh mới có thể có được. Năm 1997, Wal-Mart trở thành
tập đoàn thuê nhiều lao động nhất ở Mỹ với gần 570.000 người. Cũng trong năm này,
doanh số hàng năm của hãng vượt 100 tỷ USD. Năm 1999, Wal-Mart trở thành tập
đoàn lớn nhất thế giới về nhân sự với 1.140.000 người.
Nếu như giai đoạn giữa thế kỷ 20 được xem là kỷ nguyên của hãng sản xuất xe hơi
General Motors và giai đoạn cuối thế kỷ 20 là của hãng phần mềm Microsoft thì đầu
thế kỷ 21 này rõ ràng đã là của Wal-Mart. Tập đoàn này hiện có 4.688 siêu thị trên
toàn thế giới, trong đó 80% là ở Mỹ. Bình quân mỗi ngày có khoảng 20 triệu người
đến các siêu thị của Wal-Mart. Tại Mỹ, hơn 80% hộ gia đình mỗi năm mua ít nhất vài
sản phẩm từ các cửa hàng của hãng.
Wal-Mart là công ty dịch vụ đầu tiên leo đến vị trí hạng nhất trên danh sách của
Fortune (bắt đầu công bố từ năm 1955). Ngoài ra, Wal-Mart cũng hiện diện trong danh
sách Fortune 100 công ty được giới lao động Mỹ ưa thích xin vào làm việc nhất.
2.2. Một vài con số thống kê của Wal-Mart :
 Hơn 138 triệu người mua sắm tại chuỗi cửa hàng Wal-Mart trên khắp thế giới mỗi
tuần.
 Wal-Mart đã thuê hơn 1,6 triệu người và trả cho họ 600.000 mỗi năm.
 Doanh thu của Wall-Mart năm 2006 là 315 triệu USD, lợi nhuận hơn 11 triệu
USD, chỉ đứng thứ 2 sau Exxon Mobil. Năm 2006, Wal-Mart là công ty Hoa Kỳ có
doanh thu cao nhất.
Nhóm 13 Page 5
 Wal-Mart có hơn 6.200 dịch vụ trên khắp thế giới với 3.800 cửa hàng ở Mỹ.

 Wal-Mart là công ty tiên phong về khái niệm Cross-docking, sau này đã trở
nên rất phổ biến.
Nhà kho đa năng Cross-docking.
Nhóm 13 Page 7
 Wal-Mart đi tiên phong trong ứng dụng RFID (công nghệ nhận dạng bằng
sóng radio)
 Wal-Mart là công ty tiên phong với CPFR mà trước hết với P&G. CPFR có
thể hiểu là hoạch định, dự báo, bổ sung và cộng tác, nghĩa là cả hai cùng chia sẻ thông
tin với nhau để dự báo tốt hơn.
CPFR in the retail information technnology environment.
(Source: Matt Johnson,”Collaboration Modelling: CPFR Implementation
Guidelines”,Chicago,Council of Logistics Management.)
 Wal-Mart đã áp dụng và đưa cá kỹ thuật sản xuất lên một mức độ mới và cách
mạng hóa việc thu mua và phân phối toàn cầu. Bằng việc cắt giảm thời gian sản xuất,
Nhóm 13 Page 8
tăng tốc độ vận chuyển hàng hóa, tiết giảm tồn kho và thành lập các trung tâm phân
phối miền, Wal-Mart đã và đang thống lĩnh sự phát triển của hệ thống Just-in-time!
CHƯƠNG III: Những đặc điểm chính trong chuỗi cung ứng của
Wal-Mart.
1. Quản trị thống kê hàng hóa:
Wal-Mart đã phát triển việc cung cấp hàng hóa sao cho phù hợp với những nhu cầu
riêng biệt của từng cửa hàng riêng của nó. Những cửa hàng này có thể chọn cho mình
những kế hoạch giao hàng riêng. Ví dụ như những cửa hàng nằm cùng một khu vực
địa lý xác định có thể được làm đầy hàng hóa chỉ trong vòng một ngày nhờ vào hệ
thống giao hàng nhanh hơn nhiều so với trước đây.
Wal-Mart đầu tư mạnh vào công nghệ thông tin và hệ thống thông tin nhằm theo
dõi được doanh số và thống kê hàng hóa trong những cửa hàng của mình xuyên suốt
đất nước một cách hiệu quả. Sở hữu một hệ thống thông tin tốt là điều thiết yếu đối với
Wal-Mart trong việc mở rộng số lượng cửa hàng một cách nhanh chóng trên toàn đất
Mỹ. Chính điều đó mà Wal-Mart đã thiết lập hệ thống thông tin vệ tinh cho riêng mình

là một thỏa thuận có lợi cho đôi bên bởi Wal-Mart có thể kiểm soát được mức độ dữ
trữ hàng hóa của mình tại các cửa hàng thương xuyên và cũng có thể xác định được
mặt hàng nào đang hút trên thị trường. P&G có thể giảm được chi phí và chuyển sang
cho Wal-Mart khoản tiết kiệm nhờ vào sự hợp tác gắn bó hơn.
Nhân viên tại cửa hàng Wal-Mart có một “Đũa phép” (Magic wand), đó là một máy
tính cầm tay có thể nối kết đến các trạm dự trữ nhờ vào mạng lưới làm việc tần số
radio (radio frequency network). Điều này có thể giúp họ kiểm soát được lượng hàng
dự trữ trong các cửa hàng, việc giao hàng và lượng hàng dự phòng trong kho tại các
trung tâm phân phối. Việc quản lý các đơn đặt hàng và lấp đầy hàng hóa đến các cửa
hàng được điều hành hoàn toàn nhờ vào sự trợ giúp của máy tính thông qua hệ thống
POS (Point-of-Sales). Thông qua hệ thống này mọi việc có thể được kiểm soát và theo
dõi được doanh thu và mức hàng hóa đang còn nằm trên kệ của các cửa hàng. Wal-
Mart cũng đã ứng dụng hệ thống thuật toán phức hợp mà nó có thể dự đoán được
chính xác số lượng mỗi mặt hàng được giao dựa trên việc kiểm kê hàng hóa tại mỗi
cửa hàng. Khi có dữ liệu chính xác, thậm chí các mặt hàng cồng kềnh được dỡ ra và
cung cấp đến cho các cửa hàng. Wal-Mart cũng sử dụng hệ thống dữ liệu thống kê
hàng hóa này để giúp nhân viên của mình tại các cửa hàng có thể biết được lượng hàng
dự trữ và khu vực lưu trữ tại bất cứ thời điểm nào. Hệ thống này cũng cho họ biết được
liệu hàng hóa đã được đưa đến các trung tâm phân phối chưa hay vẫn đang trên đường
Nhóm 13 Page 10
vận chuyển. Một khi có một loại hàng hóa nào mà chưa được chất đầy tại cửa hàng,
cửa hàng được cung cấp đầy đủ lượng hàng dự trữ của bất kỳ mặt hàng nào và hệ
thống dữ liệu hàng dự trữ lập tức được cập nhật ngay.
Wal-Mart cũng sự dụng công nghệ vi mạch nhận biết tần số radio trong việc quản
trị hàng dự trữ của nó. Việc sử dụng hệ thống vi mạch nhận biết tần số radio và đầu
đọc chuyển sóng vô tuyến, hàng hóa có thể được vận chuyển trực tiếp đến kho phù
hợp nhất ngay lúc mà hàng hóa được xếp lên các xe tải để vận chuyển. Công nghệ vi
mạch nhận biết tần số radio này có thể giúp trong việc chất xếp, nhận hàng hóa và
kiểm soát được lượng hàng dự trữ hợp lý với những mặt hàng phù hợp. Nó cũng có thể
làm cho việc tổ chức đóng gói và đếm hàng hóa dự trữ hiệu quả hơn.

2.1.2. Sức mạnh của Wal – Mart trong việc mua hàng:
Là một tập đoàn bán lẻ lớn nhất nhất thế giới, Wal-Mart có một sức mạnh vô cùng
to lớn so với các nhà cung cấp và sử dụng quyền lực này để ảnh hưởng mọi thứ từ giá
cả sản phẩm cho đến lịch trình giao hàng!
Wal-Mart đã và đang thúc ép, gây áp lực cho những nhà cung cấp phải hiệu quả, cắt
giảm chi phí trên chuỗi cung ứng của mình.Wal-Mart thường xuyên thanh tra sổ sách
của nhà cung cấp và buộc họ phải cắt giảm chi phí ở những chỗ mà Wal-Mart cho rằng
là không hợp lý. Khi mà các tiêu chuẩn về môi trường hay lao động tạo ra rào cản cho
việc cắt giảm chi phí thì Wal-Mart khuyến khích những nhà cung cấp di chuyển tới thị
trường khác nơi mà những nhà cung cấp này có thể tiếp tục sản xuất ở mức giá thấp
cái mà Wal-Mart luôn luôn đòi hỏi.
Wal-Mart luôn biết nhấn mạnh vào nhu cầu thiết yếu để giảm bớt đi chi phí thu
mua, đặc biệt là luôn phục vụ khách hàng của mình với giá cả ưu đãi nhất. Công ty
luôn thu mua hàng hoá một cách trực tiếp từ nhà sản xuất, không đi đường vòng qua
những nhà trung gian. Hơn thế nữa, Wal-Mart là một nhà kinh doanh kì cựu trong việc
thương lượng về giá cả và chỉ đi đến giao dịch cuồi cùng khi biết chắc rằng họ đã mua
sản phẩm với giá cả thấp nhất hơn bất cứ nơi nào khác.
Trên thực tế Wal-Mart đã tốn rất nhiều thời gian để gặp gỡ và tìm hiểu về cấu trúc
giá cả của những nhà cung cấp. Bằng việc tạo nên những tiến trình minh bạch, nhà bán
lẻ có thể chắc chắn rằng nhà sản xuất đang làm tất cả những điều có thể để giảm giá
thành và khi đó Wal-Mart sẽ hình thành mối quan hệ lâu dài với những nhà cung cấp
này. Và trong nỗ lực để lèo lái cho những việc trả giá khó khăn, Wal-Mart thâm chí
không hề để ý đến những nhà cung cấp lớn như Procter & Gamble ( P& G) .Tuy
nhiên, nhìn chung, họ dành ra những ưu đãi cho những nhà bán lẻ và cung cấp trong
nước và địa phương đó.
Nhóm 13 Page 12
2.2. Hệ thống phân phối
Trong năm 1998 tập đoàn này đã có trên 40 trung tâm phân phối tại các lãnh thổ
khác nhau trên đất Mỹ, hơn 80.000 loại mặt hàng được dự trữ trong các trung tâm này.
Wal-Mart có những nhà kho riêng của mình và cung cấp trực tiếp 85%, so với đối thủ

Mỗi trung tâm phân phối cũng đều có những phương tiện và cơ sở vật chất cho việc
giữ vệ sinh cá nhân như tắm giặt, thể thao, ăn uống nghỉ ngơi cho cá nhân. Hơn thế
nữa các trung tâm này cũng có thể sử dụng trong việc họp hành hay công việc giấy tờ,
đặc biệt các tài xế lái xe tải luôn là những người nhân thấy được lợi ích từ những
phương tiện này rõ ràng nhất.
3. Hệ thống vận tải
Một trong những đặc trưng quan trọng trong cơ sở hạ tầng logistics của Wal Mart là sự
nhanh nhạy và linh hoạt của hệ thống vận tải. Những trung tâm phân phối được phục
vụ bởi hơn 3500 xe tải mà công ty sở hữu.

Những đội xe tải chuyên dụng đó cho phép công ty vận tải hàng hoá từ những trung
tâm phân phối đến cửa hàng chỉ trong hai ngày và bổ sung cho các kệ hàng trong cửa
hàng 2 lần/tuần. Đoàn xe tải là một sự kết nổi hiệu quả giữa cửa hàng và các trung tâm
phân phối. Wal – Mart tin tưởng rằng mình cần tuyển những tài xế thực sự gắn bó và
tận tuỵ với công việc phục vụ khách hàng. Công ty chỉ thuê những tài xế nhiều kinh
nghiệm đã lái được hơn 300.000 dặm mà không gây ra tai nạn nào.
Những tài xế xe tải của Wal – Mart nhìn chung thường lái những xe móc chở hàng
từ những trung tâm phân phối của Wal – Mart đến những cửa hàng bán lẻ được phục
vụ bởi những trung tâm phân phối đó. Những cửa hàng bán lẻ này được những trung
tâm phân phối của Wal – Mart xem như là khách hàng của mình. Những người tài xế
Nhóm 13 Page 14
phải báo cáo giờ phục vụ của mình cho Bộ Phối Hợp hằng ngày. Bộ Phối Hợp lên kế
hoạch tất cả những chuyến vận tải phụ thuộc vào những giờ lái và thời gian vận tải ước
lượng giữa những trung tâm phân phối và cửa hàng bán lẻ. Bộ Phối Hợp thông báo
cho những tài xế của mình biết về chuyến xe của họ, hoặc là chuyến đi từ trung tâm
phân phối hay là chuyến về trung tâm phân phối từ những cửa hàng bán lẻ. Những tài
xế này thường lái những chuyến xe móc chở đầy hàng đi từ trung tâm phân phối đến
cửa hàng bán lẻ và trở về với chiếc xe rỗng. Anh ta phải vận tải chuyến xe đến được
các cửa hàng bán lẻ và ngủ qua đêm tại đó. Một người tài xế phải mang đuợc chiếc xe
móc đến kho cảng của 1 cửa hàng theo như đúng thời gian dỡ hàng đã được lên kế

sản phẩm khi nào họ cần. Phương pháp này đảm bảo hơn mối quan hệ giữa các cửa
hàng và trung tâm phân phối, nhà cung ứng hơn trước.
• Cross – Docking:
Cơ bản cross docking mô tả một địa điểm mà hàng hoá chuyển trực tiếp từ nơi nhận
hàng đến khu vực vận chuyển hàng mà không dừng lại hay đưa vào dự trữ.
Hiện tại, Wal – Mart đang áp dụng 5 hình thức Cross – dockings
- Opportunistic Cross docking:
Theo loại hình này thì thông tin chính xác về nơi hàng hóa được chuyển đi, nơi sẽ
được chuyển đến cũng như chính xác số lượng hàng hóa giao nhận là rất cần thiết. Bởi
vì theo loại hình này thì Wal – Mart sẽ nắm bắt chính xác thông tin và chuyển hàng
trực tiếp cho các cửa hàng bán lẻ của mình từ nơi nhà cung cấp mà không cần phải
thông qua dự trữ trong nhà xưởng. Opportunistic cross docking cũng được dùng trong
việc quản trị hệ thống kho bãi của Wal – Mart thông qua hệ thống thông tin, liên kết
giữa Wal – Mart và các nhà bán lẻ, để nhà cung ứng thông báo thường xuyên cho nhà
bán lẻ những mặt hàng cần thiết đã sẵn sàng được vận chuyển và có thể vận chuyển
ngay tức thời.
- Flow through Cross docking:
Theo loại hình này thì luôn luôn có một dòng ổn định hàng hóa đi ra và đi vào trung
tâm phân phối hàng hóa của Wal – Mart. Loại cross docking này thường được áp dụng
cho những hàng hóa dễ bị hư hỏng, chỉ tươi mới trong một khoảng thời gian ngắn như
rau quả, thực phẩm tươi sống; hay cho những loại hàng hóa không dự trữ được lâu
trong kho (sữa, thực phẩm đóng hộp). Hệ thống cross docking này được dùng trong
việc phân phối hàng hóa cho các siêu thị và những cửa hàng bán lẻ giá rẻ khác.
- Distributor Cross docking:
Nhóm 13 Page 16
Trong loại hình cross docking này thì hàng hóa sẽ được nhà cung ứng chuyển trực
tiếp cho các cửa hàng bán lẻ. Không có một trung gian vận chuyển nào tham gia vào
quá trình phân phối này. Điều này làm giảm một lượng chi phí đáng kể cho các nhà
bán lẻ của Wal – Mart vì họ sẽ không phải tốn bất kì chi phí nào cho việc dự trữ. Vì
các nhà bán lẻ tại một số nơi của Wal – Mart không cần phải có trung tâm phân phối

chuyển đổi (Electronic Data Interchange - EDI) và những hệ thống thông tin kinh
doanh.
4. Công nghệ RFID:
RFID là phương pháp nhận dạng tự động, dựa vào việc nhận và lưu trữ giữ liệu từ
xa bằng cách sử dụng các thiết bị nhận và đọc các tín hiệu từ thẻ tag gắn trong hàng
hóa. Thẻ tag RFID có thể được áp dụng cho các sản phẩm, động vật hay con người xét
về mặt nhận dạng, sử dụng sóng radio. Một số loại tag có thể đọc được tín hiệu trong
vòng vài mét.
Hầu hết các loại RFID gồm 2 phần. Một là phần dùng để lưu trữ dữ liệu và xử lý
thông tin, cũng như các chức năng chuyên dụng khác. Bộ phận còn lại là một anten,
nhận và truyền tín hiệu.
Ngày nay, ứng dụng quan trọng của RFID là trong quản trị chuỗi cung ứng, cải thiện
và làm hiệu quả hơn việc quản trị và theo dõi tồn kho. Tuy nhiên, có một nguy cơ đang
hiển hiện, đó là sự phát triển của thị trường cung ứng sẽ không được duy trì nếu như
không có sự kết nối giữa việc tracking indoor với toàn bộ chuỗi cung ứng end to end.
Một số nhà phân tích cho rằng việc liên kết giữa công nghệ RFID với các công nghệ
ngoài trời như GPS và cellular systems là cần thiết để có một giải pháp trọn gói.
Các loại RFID tags: Gồm 3 loại: Tags passive, Tags active, Semi – passive tags
- Passive tags:
Không có nguồn năng lượng bên trong mà sử dụng năng lượng của song radio để
phát ra tín hiệu trả lời. Loại tags này có khả năng nhận và đọc tín hiệu trong phạm vi
từ 10 cm cho tới vài mét.
- Active tags:
Có nguồn năng lượng bên trọng nhằm kích hoạt quá trình nhận, lưu trữ và phát tín
hiệu trả lời. Khả năng liên lạc giữa active tag và các máy đọc là đáng tin cậy. Nguồn
năng lượng tự có bên trong giúp loại tags này phát ra tín hiệu mạnh hơn passive tags
và vì vậy, hiệu quả hơn trong các môi trường mà song radio bị nhiễu bởi độ ẩm và các
loại tia khác, hay các vật chứa nước (bao gồm cả con người và gia súc). Active tags có
khả năng thu nhận và phát tín hiệu trong phạm vi lên tới vài trăm mét và năng lượng
Nhóm 13 Page 18

Cụ thể, kể từ xuất bản đầu tiên bản hướng dẫn CPFR của VICS năm 1998, đã có
hơn 300 công ty áp dụng công nghệ này. Kết quả cho thấy, mức độ sẵn có hàng hóa tại
Nhóm 13 Page 19
các cửa hàng bán lẻ tăng lên từ 2 % tới 8%. Xét trên tổng thể toàn bộ chuỗi cung ứng,
lượng tồn kho giảm từ 10% tới 40%.
Bản hướng dẫn thực hành CPFR đã được chỉnh sửa vài lần, cụ thể là vào năm 2001,
nhằm điểu chỉnh đề phù hợp với tiến trình toàn cầu hóa thị trường. Bản hướng dẫn này
còn được chỉnh sửa một lần nữa (năm 2004) nhằm thích ứng với các công nghệ tích
hợp mới tiên tiến hơn, khắc phục những khuyết điểm của quy trình CPFR cũ.
Dưới đây, nhóm chúng tôi xin trình bày về mô hình CPFR đã được cải tiến.
2. Mô hình CPFR:
Mô hình chung về quy trình
CPFR
Mô hình trên chỉ ra khung
làm việc chung cho nhiều
ngành công nghiệp khác
nhau, chứ không riêng gì
ngành công nghiệp bán lẻ.
Trong bản đồ trên, đối với
ngành bán lẻ, nhà sản xuất
đóng vai trò là người bán,
nhà bán lẻ đóng vai trò là
người mua. Trong các ngành công nghiệp khác, ví dụ như ngành công nghệ cao, vai
trò trên sẽ khác đi ít nhiều. Vd: một công ty lắp ráp thiết bị điện tử có thể đóng vai trò
là người mua đối với các nhà cung cấp thiết bị, bộ phận khác. Trong khi đó, công ty
này lại đóng vai trò là người bán đối với những nhà bán lẻ đồ điện tử khác. Từ đây cho
tới cuối bài viết, chúng tôi xin được đề cập tới vai trò người bán và người mua của nhà
sản xuất và nhà bán lẻ trong ngành công nghiệp bán lẻ, nhằm giúp các bạn dễ theo dõi.
2.1 Các hoạt động trong CPFR:
Như trên bản đồ, các doanh nghiệp khi tham gia vào quy trình CPFR sẽ phối hợp

đáp ứng việc cung cấp được
các thông tin cần thiết cho quá
trình hợp tác (danh mục các thông tin này cần phải được các bên thỏa thuận và đưa ra
các thông tin được đăng ký cho việc chia sẻ). Sau khi có được hai bước đầu tiên trên,
Nhóm 13 Page 21
cần một bước thứ ba quan trọng làm nền tảng cho quy trình là việc đồng bộ hóa thông
tin.
Đáp ứng được ba bước trên, các doanh nghiệp đã có thể tiến hành quy trình CPFR, mà
như đã trình bày ở trên, sẽ tập trung ở bốn mảng: lập chiến lược và hoạch định, quản
trị cung cầu, thực hiện và cuối cùng là phân tích.
Cụ thể như hình dưới đây, trong mảng thừa hành, các bên tham gia phối hợp quản lý
giao dịch kinh doanh. Mảng quản trị cung cầu, các bên tham gia cùng nhau quản trị
chuỗi cung ứng. Mảng chiến lược và hoạch định, các bên phối hợp bán hàng và chiêu
thị. Cuối cùng trong mảng phân tích kết quả hoạt động, các bên cùng nhau tìm ra
insight của khách hàng và phát triển sản phẩm.
2.3 CÁC CÔNG VIỆC TRONG CPFR:

Lĩnh vực chiến lược và hoạch định: các bên tham gia sắp xếp khả năng phối hợp và
đưa ra kế hoạch kinh doanh chung.
Lĩnh vực quản trị cung cầu: cùng nhau dự báo doanh số và lên kế hoạch đặt hàng
cũng như dự báo về số lượng đặt hàng.
Lĩnh vực thực hiện: tiến hành đặt hàng và đáp ứng đơn đặt hàng.
Nhóm 13 Page 22
Giai đoạn phân tích: phân tích kết quả hoạt động cũng như quản trị ngoại lệ.
2.3 Công việc của nhà sản xuất và người bán lẻ.
Để có cái nhìn cụ thể hơn về nhiệm vụ và vai trò của nhà bán lẻ và người sản xuất
trong quy trinh CPFR, chúng tôi xin liệt kê các công việc của từng bên trước khi tham
gia và sau khi tham gia quy trình CPFR trong bảng dưới đây:
Ví dụ như, đội sales của nhà máy thực hiện bản kế hoạch tài chính cho chiến lược
của từng thời kỳ. Những nhà bán lẻ kiểm soát việc theo dõi quản lý bán hàng. Một khi

Production and Supply Planning: lên kế hoạch sản xuất và cung ứng cho thị trường
Logistics/ Distribution: việc phân phối / Logistics.
3. CÁC “KỊCH BẢN” CPFR:
Mô hình CPFR tham khảo này được thiết kế để phù hợp với hầu hết các mô hình chuỗi
phân phối trong tương lai. Bất kì một chương trình nào của mô hình CPFR cũng phải
có sự thay đổi nào đó để tương thích với những nhu cầu đặc trưng trong các mối quan
hệ với các đối tác kinh doanh. Trong những bước tiếp cận đã được đề cập ở trên, có 4
chuỗi dự kiến nổi trội trong việc triển khai mô hình CPFR. Để hỗ trợ tốt hơn cho các
Nhóm 13 Page 24
công ty trong việc nhìn nhận, dự tính việc triển khai CPFR hoặc phối hợp với các đối
tác trong mô hình CPFR này thì những hướng dẫn này của mô hình CPFR cung cấp
những hướng dẫn chi tiết cho các bước đặc trưng của chuỗi.
Bảng 2 là bảng tóm tắt bốn chuỗi đặc trưng chuẩn bởi cách thức phân phối và tính
khả thi trong việc áp dụng vào việc phân loại hàng hóa. Cũng như những phân khúc
trong ngành công nghiệp đã ứng dụng các chuỗi này.
Phân khúc chuỗi Khả năng ứng dụng Ngành công nghiệp tiêu
biểu
Cộng tác bán lẻ Đẩy mạnh khuyến mại
cho các kênh phân phối
và danh mục hàng hóa
Tất cả trừ EDLP
Cộng tác lấp đầy các
trung tâm phân phối
Hoạt động bán lẻ từ các
trung tâm phân phối
- Chuỗi cung ứng thuốc
- Cửa hàng tạp hóa
- Cung ứng công nghệ
phần cứng
Cộng tác lấp đầy các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status