0
CHUYÊN ĐỀ
TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ CÁC BIỆN PHÁP
BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC 4
I. PHÂN BỐ CỦA NƯỚC TRÊN TRÁI ĐẤT 4
1. Nước ngọt trên bề mặt đất 4
2. Nước ngọt trong lòng đất 5
II. TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM 6
III. TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 6
1. Nước mặt 6
2.Nước dưới đất 6
CHƯƠNG 2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC - MỘT SỐ BỆNH
LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC 8
I. TÍNH CHẤT VẬT LÝ 8
1. Nhiệt độ 8
2. Độ màu 8
3. Độ đục 8
4. Mùi vị 8
5. Cặn 8
6. Tính phóng xạ 8
II. TÍNH CHẤT HÓA HỌC 8
III. CÁC BỆNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC 10
trái đất. Do đó con người cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý
nguồn tài nguyên nước.
Hiện nay, đã có nhiều hoạt động tuyên truyền chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ tài
nguyên nước, đưa ra nhiều biện pháp nhằm kêu gọi tất cả các thành viên trong xã hội nâng
cao ý thức, cùng hành động tích cực bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên này. Bảo vệ tài
nguyên nước là nhiệm vụ cấp bách, nó không chỉ đáp ứng các yêu cầu trước mắt mà còn tạo
nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tài nguyên và môi trường trong tương lai lâu dài,
vì đó là sự sống còn của chính chúng ta và con cháu sau này. 4 CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC
I. PHÂN BỐ CỦA NƯỚC TRÊN TRÁI ĐẤT
Lượng nước tự nhiên có 97% là nước mặn phân bổ ở biển và đại dương, 3,5% còn lại phân
bố ở đất liền.Tổng lượng nước lớn nhưng lượng nước ngọt mà con người có thể sử dụng được rất ít và
chỉ có thể khai thác được từ các nguồn sau:
1. Nước ngọt trên bề mặt đất:
- Lượng nước mưa rơi xuống mặt đất,
- Nước tồn tại trong các sông, rạch, ao, hồ,
- Một phần rất ít nước từ đầm lầy và băng tuyết.
không những cung cấp lượng nước ngọt khá lớn cho nền kinh tế nước nhà mà còn giúp tăng
cường hệ thống giao thông thủy. Toàn Việt Nam có 9 hệ thống sông lớn: Sông Cửu Long,
sông Đồng Nai, sông Mã, sông Cả, sông Thái Bình, sông Thu Bồn, sông Ba. Lượng nước có
thể chủ động sử dụng là 325x109 m3/ngày. Ngoài ra còn có 460 hồ vừa và lớn.
Hàng năm, Việt Nam có lượng mưa trung bình là 2.050 mm trong năm, cao nhất là
2.640mm và thấp nhất là 1.600 mm và tập trung chủ yếu vào các tháng 7,8 và 9 chiếm đến
90% lượng mưa của cả năm, đây là nguồn nước ngọt dồi dào bổ cấp cho nước sông rạch và
nước dưới đất .
Trữ lượng nước dưới đất ở Việt Nam dồi dào, nằm trong các tầng chứa nước. Trữ lượng
nước dưới đất theo các tài liệu thăm dò vào khoảng 1,2x109 m3/ngày, thăm dò sơ bộ là
15x109 m3/ngày.
Theo thống kê đến năm 2005 cho thấy, nhiều tỉnh thành trong cả nước đang khai thác nước
dưới đất với lưu lượng khá lớn sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất Công nghiệp, Nông
nghiệp Dịch vụ.
• Hà Nội : 750 000 m3/ngày
• Thành phố Hồ Chí Minh : 1.600.000 m3/ngày
• Tây Nguyên : 500 000 m3/ngày
III. TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. Nước mặt:
Là nguồn nước từ các Sông lớn như Sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông với hệ thống
kênh rạch dài khoảng 7.880km, tổng diện tích mặt nước 35.500 ha. Nước nhạt được khai
thác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất.
2. Nước dưới đất:
Riêng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trữ lượng tiềm năng nước dưới đất tại các tầng
chứa nước là: 2.501.059m3/ngày. Phân bổ như sau:
truyền ánh sáng. Độ đục không gây độc hại đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến quá trình
lọc và khử trùng nước.
4. Mùi vị: Các chất khí, khoáng và một số hóa chất hòa tan trong nước làm cho nước có
mùi. Các mùi vị thường gặp: mùi đất, mùi tanh, mùi thúi, mùi hóa học đặc trưng như Clo,
amoniac, vị chát, mặn, chua…
5. Cặn: Gồm có cặn lơ lửng và cặn hòa tan (vô cơ và hữu cơ), cặn không gây độc hại đến
sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước.
6. Tính phóng xạ: Nước ngầm thường nhiễm các chất phóng xạ tự nhiên, thường nước này
vô hại đôi khi có thể dùng để chữa bệnh. Nhưng nếu chỉ tiêu này bị nhiễm bởi các chất
phóng xạ từ nước thải, không khí, từ các chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép thì rất
nguy hiểm.
II. TÍNH CHẤT HÓA HỌC
1. Độ pH: Phản ánh tính axit hay tính kiềm của nước. pH ảnh hưởng đến các hoạt động sinh
học trong nước, tính ăn mòn, tính hòa tan.
2. Độ axít: Trong nước thiên nhiên độ axít là do sự có mặt của CO2, CO2 này hấp thụ từ khí
quyển hoặc từ quá trình oxy hóa các chất hữu cơ trong nước thải công nghiệp (chiếm đa số)
và nước phèn. Độ axít không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng ảnh hưởng đến quá
trình xử lý nước cấp và nước thải.
3. Độ kiềm: do 3 ion chính HCO3-, OH-, CO32-làm cho nước có độ kiềm. Nước có độ
kiềm cao làm cho người sử dụng nước cảm thấy khó chịu trong người. Độ kiềm ảnh hưởng
đến quá trình keo tụ, khử sắt, làm mềm nước, kiểm tra độ ăn mòn, khả năng đệm của nước 9
thải, của bùn.
4. Độ cứng: Độ cứng của nước biểu thị hàm lượng các ion Ca2+ và Mg2+. Độ cứng không
gây độc hại đến sức khỏe con người, nhưng dùng nước có độ cứng cao sẽ tiêu hao nhiều xà
hiểm do cặn silicát lắng động trên thành nồi, thành ống làm giảm khả năng truyền nhiệt và
gây tắc ống.
15. Phốt phát (PO42-): Có phốt phát vô cơ và phốt phát hũu cơ. Trong môi trường tự nhiên,
phốt phát hữu cơ hầu hết là những chất mang độc tính mạnh dưới dạng thuốc diệt côn trùng,
các vũ khí hóa học. Phốt phát làm hóa chất bón cây, chất kích thích tăng trưởng, chất tạo bọt
trong bột giặt, chất làm mềm nước, kích thích tăng trưởng nhiều loại vi sinh vật, phiêu sinh
vật, tảo… phốt phát gây nhiều tác động trong việc bảo vệ môi trừơng.
16. Nitơ (N) và các hợp chất chứa Nitơ (NH4+, NO2-, NO3-): Sự phân hủy của rác thải, các
chất hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp tạo thành các sản phẩm 10
amoniac, nitrít, nitrát. Sự hiện diện của các hợp chất này là chất chỉ thị để nhận biết trạng
thái nhiễm bẩn của nguồn nước.
17. Kim loại nặng: có mặt lợi và mặt hại:
- Mặt lợi: với hàm lượng hữu ích, giúp duy trì và điều hòa những hoạt động của cơ thể.
- Mặt hại: với hàm lượng cao gây khó chịu hoặc dẫn đến ngộ độc.
18. Các thành phần độc hại khác: Là thành phần các chất mà chỉ tồn tại trong nước với một
hàm lượng rất nhỏ cũng đủ gây độc hại đến tính mạng con người, thậm chí gây tử vong, đó
là các chất: Asen (As), Berili (Be), Cadimi (Cd), Xyanua (CN), Crôm (Cr), Thủy ngân (Hg),
Niken (Ni), Chì (Pb), Antimoan (Sb), Selen (Se), Vanadi (V). Một vài gam thủy ngân hoặc
Cadimi có thể gây chết người, với hàm lượng nhỏ hơn chúng tích lũy trong các bộ phận của
cơ thể cho tới lúc đủ hàm lượng gây ngộ độc. Chì tích lũy trong xương, Cadimi tích lũy
trong thận và gan, thủy ngân tích lũy trong các tế bào não.
19. Chất béo và dầu mỡ: Chất béo và dầu mỡ dễ phân tán và khuyết tán rộng. Chất béo đưa
vào nguồn nước từ các nguồn nước thải, các lò sát sinh, công nghiệp sản xuất dầu ăn, lọc
dầu, chế biến thực phẩm… Chất béo ngăn sự hòa tan ôxy vào nước, giết các vi sinh vật cần
thiết cho việc tự làm sạch nguồn nước.
20. Thuốc diệt cỏ và trừ sâu: Thuốc diệt cỏ và trừ sâu ngoài việc gây ô nhiễm vùng canh tác
nghiên cứu của thế giới, người uống nước ô nhiễm asen lâu ngày sẽ có triệu chứng đầu tiên
như có các đốm sẫm màu trên thân thể hay đầu các chi, đôi khi gây niêm mạc trên lưỡi hoặc
sừng hoá trên bàn tay, bàn chân. Asen có thể gây ung thư gan, phổi, bàng quang và thận,
gây bệnh tim mạch, cao huyết áp
Trầm trọng hơn trong những năm gần đây xuất hiện các “Làng ung thư” do ô nhiễm môi
trường đặc biệt là sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm như ở Hà Tây, Thạch Sơn, Nghệ An,
Quảng Trị… do tiếp súc và sử dụng nguồn nước và môi trường ô nhiễm trầm trọng trong
thời gian dài.
Qua số liệu điều tra các hộ gia đình tại một số quận huyện ngoại thành trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh như Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh …, Các gia đình đều sử dụng nước
giếng khoan hoặc giếng đào nhưng phần lớn không có hệ thống xử lý nước, nước bơm lên
là dùng ăn uống trực tiếp, đây chính là nguyên nhân dể mắc phải các chứng bệnh nêu trên. 12
CHƯƠNG 3
CÁC TÁC ĐỘNG GÂY SUY THOÁI
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC
Ngày nay, nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu lợi nhuận cao, con người đã lờ đi
các tác động ảnh hưởng đến các nhân tố tự nhiên và môi trường một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển và các nước nghèo đã làm cho môi
trường nước bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng hơn.
Sự gia tăng dân số quá nhanh là nguyên nhân chính gây áp lực lên nguồn nước. Vì nhu cầu
nước cho phát triển nông nghiệp để gia tăng lương thực thực phẩm, phát triển công nghiệp
để gia tăng hàng hóa và gia tăng thêm nhiều hình thức dịch vụ…- Nhiều sự cố gây thất thoát nước do đường ống dẫn nước cũ gẫy bể lâu ngày, rò rỉ nước từ
van hư củ. Lười hoặc quên tắt van cũng là nguyên nhân gây lãng phí nước.
15 - Giữa nước mặn và nước nhạt có một ranh giới, khi họat động khai thác nước dưới đất quá
mức đường ranh giới này sẽ tiến dần đến công trình khai thác, mực nước mặn xâm nhập
dần, đẩy lùi mực nước ngọt vào sâu và làm nhiễm mặn các công trình khai thác trong khu
vực. Mặt khác do nước biển tràn vào hoặc do con người dẫn nước biển vào sâu trong ruộng
để làm muối, dẫn đến xâm nhập mặn vào tầng chứa nước.
- Để gia tăng môi trường sống, con người phá rừng lấp đất, sang ruộng cất nhà làm đường
dẫn đến mất khả năng giữ nước của đất, lượng nước bề mặt không được thấm bổ cập vào
nước ngầm mà chảy vào sông rạch ra biển. Ngoài ra còn gây ngập lụt, trược lỡ đất.
II. ẢNH HƯỞNG DO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
- Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý thức tiết kiệm
nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước
thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt
là nguồn nước ngầm.
18 III. ẢNH HƯỞNG DO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ
- Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn
đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ
sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về. Đặc biệt ở
các khu vực chưa có hệ thống cấp nước, mật độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh,
từ đó dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất.
- Các chất thải công nghiệp như khối, bụi…tạo nên mưa axít không những làm thay đổi chất
lượng nước ngọt, mà còn ảnh hưởng xấu đến đất và môi trường sinh thái.
- Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa được xử lý
vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất. Thậm chí có nơi còn cho nước
thải chảy tràn trên mặt đất để tự thấm xuống đất hoặc đào các hố dưới đất để xả nước thải
làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tầng nước dưới đất.
19 IV. ẢNH HƯỞNG DO MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN KHÁC
- Hệ thống kênh rạch không được nạo vét dẫn đến tích tụ một khối lượng lớn các vật chất
hữu cơ từ nước thải, rác thải gây bồi lắng và ảnh hưởng đến việc tiêu thoát của dòng nước.
tiết kiệm nước, không tận dụng nguồn nước mưa, nước ao hồ để sử dụng trong tưới cây, làm
mát… khai thác sử dụng tài nguyên nước chưa đúng quy định của nhà nước, chưa nhận thức
đầy đủ về bảo vệ tài nguyên nước và môi trường. Do đó để có nguồn nước sử dụng bền
vững, cần có những hoạt động tích cực nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên nước tốt hơn.
I. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NHẰM BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC
1. Thường nạo vét sông rạch để khơi thông dòng chảy. Không lấn chiếm lòng sông, kênh
rạch để xây nhà, chăn nuôi thủy hải sản. Việc nuôi thủy sản trên các dòng nước mặt phải
theo quy hoạch.
2. Trong sản xuất nông nghiệp phải có chế độ tưới nước, bón phân phù hợp. Tưới cây khi
trời mát, ủ gốc giữ ẩm cho cây. Tránh sử dụng thuốc trừ sâu dư thừa, không rõ nguồn gốc.
Nên áp dụng các phương pháp sinh học để tiêu diệt sâu bọ côn trùng. 21
3. Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nên nuôi trong chuồng trại có hệ thống xử lý chất thải.
Không chăn thả rong dễ dẫn đến ô nhiễm nguồn nước và môi trường.
4. Sử dụng nước mặt (nước sông, hồ …), nước từ các công trình cấp nước công cộng để hạn
chế khai thác nước dưới đất và tránh gây ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước. Nếu có công trình
khai thác nước dưới đất thì phải khai thác đúng kỹ thuật và sử dụng hợp lý, tiết kiệm:a) Thế nào là khai thác nước dưới đất đúng kỹ thuật:
- Khoan đúng kỹ thuật: cần có hiểu biết về kỹ thuật khoan, hiểu biết sơ cấp về cấu trúc địa
chất do đó khi muốn khoan giếng phải thuê đơn vị có chức năng hành nghề khoan (đơn vị
có giấy phép hành nghề khoan giếng).
- Phải trám lấp giếng hư: Các giếng khoan hư hoặc không còn sử dụng phải trám lấp đúng
quy trình kỹ thuật để tránh xâm nhập nước bẫn vào tầng chứa nước.
22
Không để nước rò rỉ lâu ngày.
- Nên sử dụng các thiết bị tiết kiệm nước như:
+ Sử dụng bồn cầu có chế độ điều chỉnh cơ cấu xả nước điều chỉnh phù hợp nhằm giảm thể
tích nước xả.
+ Khuyến khích các nơi công cộng, trường học, văn phòng, siêu thị, chợ sử dụng sản phẩm
tiết kiệm nước như vòi nước có chức năng ngắt nước nhất định, ngắt nước cảm ứng nhiệt,
bồn vệ sinh cảm ứng nhiệt…
+ Sử dụng vòi sen có nhiều tia phun nước mạnh sẽ giảm được lượng nước sử dụng.
- Ngâm đồ bẩn trước khi giặt. Hạn chế giặt đồ làm nhiều lần trong ngày.
- Khi tưới cây, rửa xe, tắm rửa gia xúc, vệ sinh chuồng trại, phun làm mát… dùng vòi nước
có gắn thêm nòng phun vừa đáp ứng được yêu cầu sử dụng, vừa tiết kiệm được nguồn nước
sử dụng.
- Khuyến khích sáng tạo các hình thức sử dụng nước tiết kiệm nhưng vẫn đạt mục đích sử
dụng. Ví dụ:
+ Sử dụng nước tuần hoàn trong giải nhiệt máy móc thiết bị…
+ Phương pháp tưới tiết kiệm nước: hệ thống tưới máng thủy canh…
5. Có hình thức xả thải phù hợp:
- Phải xử lý nước thải trước khi xả vào cống, sông hồ, kênh rạch. Không đổ nước thải chưa
xử lý vào hố để tự thấm hoặc để chảy tràn lan trên mặt đất. Không chôn nước thải, rác thải
nguy hại vào lòng đất.
- Rác thải không được xả bừa bãi trên đường, hè phố, sông rạch ao hồ mà phải thu gôm
phân loại theo đúng quy định.
- Nhà vệ sinh, chuồng trại nuôi gia súc phải xây hệ thống xử lý như hầm biogas.
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP XỬ LÝ NƯỚC ĐƠN GIẢN
1. Đối với nước nhiễm sắt, phèn:
Để đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế, nước sinh hoạt bắt buộc phải được khử trùng. Phương pháp
khả thi rẻ tiền là dùng nước Javen (hypochlorit natri hoá học). Cách xử lý khác là sục clo
khí hoặc pha chế bột Clorine vào nước. Cũng có thể khử trùng nước bằng ozone hay tia cực
tím, nhưng không phù hợp với việc nước sau khử trùng phải tiếp tục lưu chuyển trong
đường ống và bể chứa.
III. NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN CÙNG NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC
A. Trách nhiệm của nhà nước và chính quyền địa phương:
1. Xây dựng và phổ biến các văn bản Luật, Nghị định, Quy định về sử dụng và bảo vệ Tài
nguyên nước.
* Một số văn bản Luật đã được ban hành rộng rãi:
- Luật Tài nguyên nước và thông tư hướng dẫn thực hiện;
- Các văn bản xử lý xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường
* Các văn bản đang soạn thảo:
- Chính sách tính thuế Tài nguyên nước, thu phí và lệ phí nhằm giới hạn mức sử dụng và
nâng cao ý thức tiết kiệm trong vấn đề sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên nước.
- Chương trình giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc sử dụng
tiết kiệm và bảo vệ Tài nguyên nước. Chính sách khen thưởng, khuyến khích các công trình
nghiên cứu sử dụng tiết kiệm nước.
2. Hướng dẫn các hình thức khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước đúng kỹ thuật để
bảo vệ Tài nguyên nước.
3. Điều tra, khảo sát đánh giá nguồn tài nguyên và lập kế họach phân vùng khai thác hợp lý.
Điều tra đánh giá những tác động gây ảnh hưởng đến Tài nguyên nước.
4. Tuyên truyền vận động và tổ chức nhiều cuộc thi về ý thức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ
Tài nguyên nước trong nhân dân từ cấp quận đến cấp phường xã.
B. Trách nhiệm của người dân:
1. Nêu cao ý thức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ Tài nguyên nước: