1 BÀI LUẬN ĐỀ TÀI
ThịtrườngchứngkhoánViệtNamvà
cácgiảipháptrongthờigiantới
Nhóm 5-K21.Đêm
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
I. LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (TTCK): 4
1. Cơ sở hình thành thị trường chứng khoán: 4
2. Khái niệm, bản chất, cơ cấu tổ chức và vai trò của thị trường chứng khoán: 4
3. Phân loại thị trường chứng khoán: 6
kinh tế nước ta. Do đó, nhiệm vụ cần phải đề ra trong thời gian tới là vực dậy, tiếp tục thúc đẩy phát
triển và hoàn thiện thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tiếp cận vấn đề từ việc đánh giá thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay,
qua đó kiến nghị một số giải pháp nhằm vực dậy và phát triển thị trường chứng khoán trong thời
gian tới, tiểu luận môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ của Nhóm có kết cấu 03 phần như sau:
− Phần 1: Lý thuyết về thị trường ch
ứng khoán;
− Phần 2: Thực trạng thị trường chứng khoán tại Việt Nam hiện nay;
− Phần 3: Các giải pháp kiện toàn thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới.
4
NỘI DUNG
I. LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (TTCK):
1. Cơ sở hình thành thị trường chứng khoán:
Do sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tích vốn trong xã hội tăng lên và trở nên đa dạng,
phong phú; người thì cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư, người thì có vốn nhàn rỗi muốn
cho vay để sinh lời. Đầu tiên, họ tìm gặp nhau trực tiếp trên cơ sở quen biết. Tuy nhiên sau đó, khi
cung c
ầu vốn không ngừng tăng lên thì hình thức vay, cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ quen biết
không đáp ứng được. Vậy cần phải có một thị trường cho cung và cầu gặp nhau, đáp ứng các nhu
cầu tài chính của nhau – đó là thị trường tài chính.
chủ thể thiếu vốn. Là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung cầu của vốn đầu tư mà ở đó giá cả
của chứng khoán chứ
a đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. TTCK là hình thức
phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.
2.3 Cơ cấu tổ chức của thị trường chứng khoán:
Bất cứ một TTCK nào của bất cứ nước nào, dù mới thành lập hay đã phát triển, đều cấu thành
bởi hai bộ phận thị trường có tổ chức khác nhau:
- Thị trườ
ng sơ cấp (primary market) là giai đoạn khởi đầu của TTCK. Đây là nơi mua bán
những chứng khoán mới phát hành. Vì vậy, trong thực tế thị trường sơ cấp còn được gọi là thị
trường phát hành chứng khoán. Nguồn vốn chủ yếu của thị trường này là nguồn tiết kiệm của công
chúng cũng như một số tổ chức phi tài chính. Như vậy thị trường sơ cấp thực hi
ện chức năng quan
trọng nhất của TTCK đó là chức năng kinh tế: mang nguồn tiền nhàn rỗi đến cho người cần sử
dụng, đưa nguồn tiết kiệm vào công cuộc đầu tư. Vai trò của thị trường sơ cấp là tạo ra hàng hóa
cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế.
- Thị trường thứ cấp (secondary market) còn được gọi là thị tr
ường cấp hai, là nơi giao dịch mua
bán các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp và là một bộ phận quan trọng của
TTCK, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp. Những chứng khoán giao dịch ở đây có thể được
mua đi bán lại nhiều lần với giá cả cao thấp khác nhau. Vì vậy trong thực tế, thị trường thứ cấp còn
được gọi là thị trường giao dịch luân chuyển chứng khoán, là nơi chủ yếu tạo điều kiện trao đổi
chứng khoán “cũ”, mà chủ sở hữu của chúng lúc này nhà đầu tư, chứ không phải là của công ty
phát hành, càng không phải của Sở giao dịch. Thị trường thứ cấp thực hiện các chức năng: tạo dễ
dàng để bán những công cụ tài chính nhằm thu tiền mặt, lấy ngân quỹ, tức là tạo cho các công cụ
6
tài chính tăng cao tính thanh khoản; kiếm lời từ việc nắm giữ chứng khoán; xác định giá chứng
khoán hợp lý trên cơ sở đấu giá tự do (cạnh tranh hoàn hảo); giá hợp lý trên thị trường thứ cấp ảnh
hưởng đến giá phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp.
7
bán với số lượng lớn, có thể gọi là “mua sỉ” chứng khoán niêm yết thông qua thương lượng. Các
thương vụ được thu xếp bởi các công ty chứng khoán là nhà tạo giá của thị trường OTC, các công
ty này phải đăng ký và được phép mua bán lô lớn chứng khoán niêm yết.
- Thị trường thứ tư: để tạo thuận lợi cho các tổ chức tài chính chuyên nghiệp có điều kiện trực
tiếp mua bán chứng khoán cho tổ chức của mình, các th
ị trường lớn có lập ra một mạng giao dịch
nội bộ gọi là “INSTINET” phục vụ cho việc giao dịch các khối lượng lớn chứng khoán giữa họ với
nhau. Cả loại niêm yết trên sàn hoặc loại mua bán OTC đều có thể đem ra giao dịch. Các tổ chức
tham gia vào mạng này thường là các ngân hàng, các quỹ hỗ tương đầu tư, các đại diện quản lý quỹ
hưu trí và nhiều tổ chức khác tùy theo quy định.
3.2 Căn cứ vào địa điểm phát hành, thị trường chứng khoán được chia làm hai loại:
- TTCK chính thức – Sở giao dịch chứng khoán còn gọi là TTCK tập trung như đã trình bày ở
trên.
- TTCK phi chính thức gồm có 2 loại: một là TTCK bán tập trung, một là thị trường thứ ba cũng
đã trình bày ở trên.
3.3 Căn cứ vào phương thức giao dịch, thị trường chứng khoán được chia làm 2 loại:
- Thị trườ
ng giao ngay: còn gọi là thị trường thời điểm, có nghĩa là thị trường giao dịch mua bán
theo giá của ngày hôm đó. Còn việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày
tùy theo mỗi TTCK quy định riêng số ngày này.
- Thị trường tương lai: là thị trường mua bán chứng khoán theo những hợp đồng mà giá cả được
thỏa thuận ngay trong ngày giao dịch, nhưng việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳ
hạn nhất định ở tương lai (có thể là 1 tháng, 6 tháng hay 1 n
ăm…).
3.4 Căn cứ vào đặc điểm các loại hàng hóa lưu hành trên thị trường chứng khoán, thị trường
chứng khoán chia làm 3 loại:
- Thị trường cổ phiếu: giao dịch mua bán những cổ phiếu thường và những cổ phiếu ưu đãi.
- Thị trường trái phiếu: giao dịch mua bán trái phiếu dài hạn kho bạc, trái phiếu đô thị, công trái
nhà nước, trái phiếu công ty, trái phiếu cầm cố.
trên TTCK. Tùy theo số vốn điều lệ và nội dung trong đăng ký kinh doanh mà công ty chứng
9
khoán có thể thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán như: môi giới chứng
khoán, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư và lưu ký chứng
khoán.
- Các ngân hàng thương mại: ở một số nước các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn tự có
để tăng và đa dạng hóa lợi nhuận qua việc đầu tư vào chứ
ng khoán. Ở Việt Nam, các ngân hàng
thương mại thành lập các công ty con chuyên doanh trong hoạt động kinh doanh chứng khoán.
- Các trung gian tài chính khác như quỹ đầu tư, …
4.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán:
- Cơ quan quản lý Nhà nước: nhận thấy cần thiết phải có một cơ quan bảo vệ lợi ích của các nhà
đầu tư và đảm bảo cho TTCK hoạt động một cách thông suốt cũng như việc thanh tra giám sát hoạ
t
động của các chủ thể trên thị trường chính là việc cần thiết phải có một cơ quan thực hiện các
nhiệm vụ trên. Ở Việt Nam có Ủy ban chứng khoán nhà nước thuộc Bộ Tài Chính.
- Sở giao dịch chứng khoán: Sở giao dịch chứng khoán thực hiện việc vận hành thị trường thông
qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ cho các họat động giao dịch trên
S
ở giao dịch. Ngoài ra, Sở giao dịch cũng ban hành những quy định điều chỉnh các hoạt động giao
dịch trên Sở giao dịch phù hợp với quy định của Pháp luật.
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là một tổ chức tự quản và thường thực hiện một số
chức năng chính sau: khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán, ban hành và
thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ
sở của Pháp luật về chứng khoán, điều tra và giải quyết
các tranh chấp giữa các thành viên trong thẩm quyền, hợp tác với các cơ quan nhà nước và các cơ
quan khác để giải quyết các vấn đề có liên quan đến hoạt động chứng khoán.
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán: là tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và
tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán.
công ty, nắm giữ cổ phiếu của giám đốc, người quản lý, cổ đông đa số. Các thông tin càng được
công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút đuợc nhà đầu tư tham gia vào TTCK.
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình thành một cách
thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Do đó, ở hầu hết các nước trên thế giới hiện
11
nay, mỗi nước chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy nhất (tuy nhiên, người dân mọi miền đất
nước đều có thể tiếp cận thị trường thông qua các phòng giao dịch của công ty chứng khoán mở tới
các điểm dân cư).
Một số nước khác còn tồn tại vài Sở giao dịch chứng khoán do lịch sử để lại thì đều nối mạng
với nhau hoặc giao dịch những chứng khoán riêng biệt.
II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY:
1. Sơ lược về thị trường chứng khoán Việt Nam:
Đối với các nước phát triển, các chỉ báo của TTCK được xem như là một công cụ phản ánh
động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và khá chính xác nhất. Chính vì vậy, TTCK luôn
được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế.
TTCK Việ
t Nam trải qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển (từ năm 2000 đến năm 2011) đã
từng bước khẳng định vai trò của nó như là một kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế bổ
sung cho hệ thống ngân hàng. Có thể sơ lược lịch sử hình thành TTCK Việt Nam như sau:
1.1 Diễn biến thị trường chứng khoán giai đoạn 2000-2005:
Năm 2000, với 02 công ty niêm yết khi đưa Thị trường giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí
Minh vào hoạt động, TTCK đã có mức tăng trưởng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóa khan
hiếm, chỉ số VN-Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày 25/06/2001. Sau đó,
thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 03 năm sau đó trước khi tăng mạnh trở lại vào cuối năm
2003. Năm 2005, sau khi Thị trường giao dịch chứng khoán Hà Nội đi vào hoạt động, tổng số các
công ty niêm yết trên cả hai thị trường là 44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 ngàn tỷ đồng.
Tuy nhiên, nhìn chung giai đoạn 2000-2005 là giai đoạn hoạt động khá trầm của TTCK Việt Nam.
1.2 Diễn biến thị trường chứng khoán giai đoạn 2006-2008:
TTCK Việt Nam giai đoạn cuối năm 2006 và đầu năm 2007 chính là giai đoạn mà thị trường
giao dịch chứng khoán và 4 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết, với tổng giá trị niêm yết
đạt 127,489 nghìn tỷ đồng, tăng 66,5 lần so với cuối năm 2005. Tổng giá trị vốn hóa thị
trường tính từ thờ
i điểm ngày 31/12/2009 ước đạt 620,551 nghìn tỷ đồng tương đương với
gần 38% GDP cả năm 2009.
1.4 Diễn biến thị trường chứng khoán 2010:
Sang đến năm 2010, xu hướng thị trường được chia làm 04 giai đoạn chính:
− Giai đoạn 1 (từ 01/10-04/11): giảm nhẹ, đi ngang xen kẽ các đợt tăng nhẹ. TTCK mở
cửa năm 2010, với liên tiếp các phiên giảm điểm ảnh hưởng bở
i thông tin không chính
thức từ việc tăng lãi suất cơ bản, VN-Index rơi mạnh từ 530 xuống còn 478 điểm. Tiếp
đó, VN-Index tăng quay lại ngưỡng 530 do được hỗ trợ bởi thông tin lãi suất cơ bản vẫn
được giữ ở mức 8% và việc phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu chính phủ tại thị
trường Mỹ. Kỳ vọng về kết quả kinh quý I của các doanh nghiệp khiến VN-Index tăng
nhẹ trở
lại vào cuối tháng tư.
− Giai đoạn 2 (từ 05/11-08/11): giảm, đi ngang và giảm mạnh. Đầu tháng 5, VN-Index
đột ngột quay đầu giảm điểm do ảnh hưởng từ khủng khoảng nợ châu Âu lan rộng mà
khơi ngòi là Hy Lạp. Tiếp đó, tin đồn về thông tư 13 ra đời đã kiến cho VN-Index tiếp tục
rơi. Từ đầu tháng 6 đến cuối tháng 7, VN-Index lình xình đi ngang, một phần bị ảnh
hưởng l
ớn bởi số lượng cổ phiếu niêm yết bổ sung và niêm yết mới. Trong giai đoạn này
có khoảng 3.058.308.677 cổ phiếu được đưa vào giao dịch chiếm khoảng 43% tổng số cổ
phiếu niêm yết bổ sung và niêm yết mới năm 2010. Vào cuối tháng 7, VN-Index tiếp tục
bị giáng một đòn khá mạnh từ thông tin chính phủ quyết định tái cơ cấu tập đoàn công
14
nghiệp tàu thủy Vinashin. Với khoản nợ là 4,5 tỷ USD. Việc rơi tự do của VN-Index, còn
được củng cố thêm bằng việc bán giải chấp của hầu hết các mã chứng khoán do dùng đòn
bẩy tài chính. Cuối tháng 8, VN-Index tạo đáy tại vùng 420-424.
58,74 điểm, như vậy so với đầu năm 2011 sàn Hồ Chí Minh đã giảm mạnh 27,46% còn
sàn Hà Nội thì lao dốc đến hơn 48,6%. Thanh khoản của TTCK cũng giảm mạnh, so với
15
con số của năm 2010 thì giá trị trung bình của mỗi phiên giao dịch của mỗi sàn đều sụt
giảm mạnh đến xấp xỉ 60%.
VN-Index và HNX-Index trong năm 2011 (Nguồn: VCBS tổng hợp)
Phần đông các công ty chứng khoán (CTCK) gặp khó khăn và chịu thua lỗ trong năm
2011: cùng với sự sụt giảm cả về điểm số lẫn giá trị giao dịch của TTCK Việt Nam thì,
theo thống kê chưa đầy đủ, trong năm 2011, số lượng công ty chứng khoán chịu thua lỗ
chiếm ưu thế áp đảo. Trong số hiếm hoi những công ty có lợi nhuận thì các khoản này chủ
y
ếu đến từ mảng kinh doanh khác ngoài dịch vụ môi giới cũng như tự doanh. Tính đến
thời điểm hiện tại có khoảng 105 CTCK đang hoạt động thì hơn 80% con số này phải đối
diện với Báo cáo tài chính lợi nhuận âm khi doanh thu sụt giảm trong khi chi phí lại đội
lên cao. 1.400 tỷ đồng là số tiền mà 18/27 CTCK niêm yết ghi lỗ trong 09 tháng đầu năm
2011. Để tiếp tục tồn tại, một số công ty đã phả
i cắt giảm nhân sự thậm chí là loại bỏ một
số nghiệp vụ, trong đó có môi giới cụ thể như trường hợp của CTCK SME, chứng khoán
Gia Anh, chứng khoán Đông Dương, chứng khoán Hà Nội… và lấn sân sang lĩnh vực bất
động sản, như CTCK Kim Long (KLS), CTCK Sài Gòn (SSI)… hoặc chuyển tiền gửi tiết
kiệm ngân hàng. Các CTCK không kiểm soát chặt chẽ quy trình nội bộ và quản lý rủi ro,
dẫn đến thời đi
ểm thanh toán không chuyển đủ tiền thanh toán vào tài khoản. Điển hình
cho hiện tượng này trong thời gian qua là vụ việc của CTCK SME, TAS. Bên cạnh đó
hiện tượng cắt giảm nhân sự cũng diễn ra trên diện rộng. Với hơn 100 CTCK hoạt động
16
trong khi thị trường diễn biến ảm đảm, thị phần của từng công ty bị thu hẹp lại, hoạt động
g
tr
ư
ở
n
g
GDP
(
%
)
2010 2011*
2012*
Thế
g
iới
5.2 3.9
3.8
Châu
Á
-Thái Bình Dư
ơ
n
g
8.4 6.3
6.5
Châu
Á
3.3 3.7
3.2
M
ỹ
La-tinh
6.1 4.5
4.0
Trun
g
Đôn
g
và Châu Phi
4.7 4.4
4.3
B
ắc
M
ỹ
3.0 1.6
1.8
Đôn
g
Â
u 2.3 1.9
18
tồn tại hai tỷ giá từ những tháng cuối năm 2010 tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do
tăng mạnh và vượt xa khỏi tỷ giá chính thức 10% và dao động xung quanh mức 21.000 -
21.500. Để giải quyết vấn đề tỷ giá vào đầu tháng 2 (11/02/2011) Ngân hàng Nhà nước đã
phá giá đồng nội tệ lên tới 9,3%, đây là lần phá giá cao nhất từ năm 2008 (Tỷ giá liên
ngân hàng tăng từ 19.500->20.693 VND/USD) với mức điều chỉnh tăng giảm cho phép
trong biên độ
từ +-3% giảm xuống +/-1%. Ngay sau khi phá giá VND, tình hình kinh tế
đã phản ứng khá mạnh, tỷ giá liên tục tăng. Tuy nhiên sau khi lập đỉnh vào ngày
19/04/2011, cùng với những biện pháp kiểm soát ngoại tệ như kết hối, thắt chặt tín dụng
ngoại tệ nên tỷ giá đã được kiểm soát trong một thời gian dài từ tháng 5-10/2011. Tuy
nhiên vào giữa tháng 08/2011 trước những biến động mạnh của thị trường vàng và việc
nhập khẩu vàng nên tỷ giá đ
ã có những biến động trở lại, tỷ giá trên thị trường tự do đã có
lúc lên đến 21.900. Cụ thể, cán cân thanh toán tổng thể năm 2011 ước đạt khoảng 2,5 –
4,5 tỷ USD.
2.2.5 Giá vàng:
Thị trường Vàng là một trong những kênh cạnh tranh vốn với TTCK, chính vì vậy
những biến động trên thị trường vàng sẽ là một trong những nhân tố quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp đến TTCK. Năm 2011, trước những diễn bi
ến phức tạp của khủng hoảng
Nợ công thế giới như Ireland, Hy Lạp và Bồ Đào Nha, vàng đã được nhiều nhà đầu tư
trên thế giới lựa chọn vàng là kênh trú ẩn an toàn. Giao dịch vàng trên thế giới tăng mạnh
và đã đẩy giá vàng thế giới lên cao và lập kỷ lục ở mức $1.920/oz vào đầu tháng 9 sau đó
giảm dần trong quý IV. Giá vàng trong nước cũng đã giao động với biên độ mạnh, tă
ng từ
mức khoảng 37 triệu đồng/lượng lên tới mức cao nhất là 49 triệu đồng/lượng, sau đó giảm
dần và đứng quanh mốc 44 triệu đồng/lượng vào thời điểm cuối năm 2011.
2.2.6 Chính sách tiền tệ:
− BTC đã có văn bản báo cáo tổng thể và có giải pháp thúc đẩy TTCK trình Chính phủ. Qua đó,
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo BTC khẩn trương triển khai các giải pháp tái cấu trúc TTCK, để sớm
đưa TTCK trở thành kênh huy động vốn chủ yếu cho nền kinh tế.
− UBCK cho biết năm 2012 sẽ triển khai T+2 và đề xuất với NHNN về việc tách tín dụng chứng
khoán ra khỏi nhóm phi sản xuất, để “cởi trói” dòng vốn chảy vào chứng khoán.
− NHNN cho biết dòng vốn vào chứng khoán sắp tới sẽ vẫn phải kiểm soát nhưng hợp lý hơn.
Bên cạnh đó, Thống đốc NHNN cũng cho biết sẽ khống chế tốc độ tăng trưởng của hệ thống ngân
20
hàng, để hệ thống không hút hết tiền của nền kinh tế. Từ đó, lãi suất ngân hàng sẽ giảm, kéo theo
lãi suất cho vay giảm. Trong thời gian tới, NHNN sẽ xác lập lại vị thế cân bằng giữa thị trường tiền
tệ với thị trường vốn nhằm khôi phục TTCK.
Trên cơ sở đó, trong thời gian gần đây các cơ quan quản lý Nhà nước đã có chủ trương và ban
hành một số chính sách nhằm vực dậy lại TTCK như:
− Năm 2011, BTC đã ban hành nhiều thông tư nhằm phát triển TTCK như Thông tư 74 cho phép
margin, mở nhiều tài khoản, giao dịch cổ phiếu trong ngày; Thông tư 183 về quỹ mở; Thông tư 37
hướng dẫn thi hành Nghị định 85 về xử phạt vi phạm chứng khoán, quy trách nhiệm cụ thể đến
từng cá nhân.
− Kể từ ngày 01/04/2012, Thông tư số 226 chính thức có hiệu lực thi hành. Đây là cơ sở pháp lý
quan trọng để thực hiện việc quản lý, giám sát, tái cấu trúc các công ty chứng khoán trên cơ sở
phân loại, xử lý theo các mức cảnh báo, kiểm soát, kiểm soát đặc biệt. Thậm chí nếu công ty chứng
khoán không khắc phục được theo yêu cầu sẽ đình chỉ hoạt động.
− BTC đang xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán
theo hướng tập trung vào công tác quản trị, quản lý an toàn tài chính, hướng dẫn cụ thể về việc hợp
nhất, sáp nhập, giải thể. Ngoài ra, sẽ tăng cường công tác giám sát đối với công ty chứng khoán
thông qua việc ban hành quy định đánh giá xếp hạng, phân loại hoạt động theo tiêu chuẩn quốc tế.
Đồng thời, xây dựng hệ thống chấm điểm mức độ rủi ro và quy trình hoạt động của công ty chứng
khoán để áp dụng cơ chế kiểm tra, giám sát theo mức độ rủi ro.
− BTC và UBCK đã xây dựng Đề án tái cấu trúc TTCK. Đề án sẽ là cơ sở để BTC, UBCK thực
hiện từng bước tái cấu trúc TTCK từ nay đến năm 2015 trên các lĩnh vực: cải cách cơ sở hàng hóa;
hàng là tín dụng dài hạn, điều đó sẽ rất rủi ro cho hệ thống ngân hàng vì vậy cần có các giải pháp
hỗ trợ để TTCK phát triển, hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng.
9 Trên thực tế, vốn ngắn hạn và vốn dài hạn luôn có sự liên thông với nhau, các ngân hàng vẫn
phải huy động vốn trên TTCK và cũng có thể hoàn toàn không cho vay dài hạn. Các nước vẫn cho
phép các ngân hàng cho vay giao dịch ký quỹ qua công ty chứng khoán theo một tỷ lệ nhất định
trên cơ sở bảo đảm tỷ lệ an toàn tài chính đối với từng ngân hàng và đối tượng vay. Khoản cho vay
ký quỹ này thực tế là khoản cho vay ngắn hạn dưới 12 tháng và chủ yếu để mua chứng khoán trên
thị trường thứ cấp, không phải góp vốn dài hạn.
22
9 Về nguyên lý và thực tế trên thế giới cho thấy, việc duy trì thanh khoản của TTCK có ảnh
hưởng tích cực tới giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế nhờ vào khả năng luân
chuyển và sử dụng tối đa nguồn lực tài chính. Rủi ro thanh khoản hay khả năng giao dịch chứng
khoán khó khăn làm cho giá chứng khoán sẽ giảm, nói cách khác là chi phí vốn tăng.
9 Trong nhiều năm qua, vấn đề liên thông vốn giữa ngân hàng và chứng khoán của ta là khá lỏng
lẻo, việc kiểm soát rủi ro theo các tiêu chí phù hợp tại các ngân hàng và công ty chứng khoán còn
chưa được thực hiện đầy đủ. Vì vậy có nhiều trường hợp luồng tiền qua chứng khoán lại đi vào bất
động sản hoặc vào các nghiệp vụ đòn bẩy tài chính có tính rủi ro cao. Tuy nhiên nếu từ tình hình
trên lại chuyển sang giải pháp thắt chặt tất cả các luồng tín dụng vào chứng khoán là ta đang
chuyển từ thái cực này sang thái cực khác. Vấn đề quan trọng là cần có các tiêu chí kiểm soát rủi ro
để bảo đảm dòng tiền vào là ngắn hạn và được đi đúng hướng trên cơ sở tình hình của từng ngân
hàng và công ty chứng khoán. Nếu chúng ta có chính sách phù hợp sẽ huy động và khơi thông
nguồn vốn trên TTCK phục vụ cho các ngân hàng, doanh nghiệp và cả nền kinh tế.
− Tái cấu trúc thành câu chuyện sống còn:
9 Mục tiêu đến năm 2015, TTCK Việt Nam có quy mô vốn hoá của thị trường cổ phiếu đạt
khoảng 60% GDP. Bên cạnh việc chú trọng phát triển quy mô các thị trường, trong năm 2012 sẽ
phải thực hiện từng bước tái cấu trúc lại các thị trường tài chính và dịch vụ tài chính trong khuôn
khổ nội dung tái cấu trúc lại nền kinh tế.
9 Theo đề án tái cấu trúc TTCK do BTC xây dựng trình Chính phủ, dự kiến thông qua vào quý
I/2012, chủ trương phát triển TTCK giai đoạn sắp tới sẽ hướng tới mục tiêu: tăng quy mô, củng cố
vốn đầu tư của nhà đầu tư tổ chức nước ngoài, giảm thiểu hoặc bán hết cổ phần của nhà nước tại
các doanh nghiệp không thiết yếu. Mở rộng room (tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong
các doanh nghiệp niêm yết) (trừ ngành ngân hàng) đối với những lĩnh vực không cần hạn chế để
thu hút vốn của khối đầu tư nước ngoài.
− Nhanh chóng xóa bỏ các rào cản phát triển TTCK Việt Nam bằng cách khắc phục những yếu
kém do tính không hoàn hảo của thị trường gây ra:
9 Khắc phục hiện tượng thông tin bất cân xứng bằng cách thực hiện minh bạch hoá, khai thông
kênh thông tin đối với giới đầu tư trên thị trường. Khuyến khích các công ty định mức tín nhiệm có
24
uy tín như Standard & Poor’s, Moody thành lập chi nhánh tại Việt Nam. Để đánh giá được năng
lực tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam thì cần phải có những tổ chức chuyên nghiệp, những
tổ chức tài chính có uy tín như trên thì mới có thể đánh giá được khả năng tài chính của các doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Ngoài ra bản thân các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
cần phải công khai hơn, minh bạch về tài chính hơn thì mới có thể đạt được tín nhiệm trên thị
trường. Đây cũng là một trong những khó khăn và thách thức khi phát triển hệ thống định mức tín
nhiệm cũng như việc mở rộng quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay.
9 Thúc đẩy hoạt động đào tạo, nghiên cứu và nâng cao nhận thức về TTCK cho công chúng đầu
tư để tránh tình trạng đầu tư theo bầy đàn như hiện nay.
9 Tăng cường năng lực hoạt động của các tổ chức trung gian trên thị trường và tạo ra một cơ chế
cạnh tranh công bằng để giảm chi phí giao dịch cho các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân.
Quy định một mức giá chung hợp lý xuyên suốt trên thị trường.
Hệ thống tài chính xảy ra đổ vỡ, khủng hoảng, Chính phủ phải đứng ra can thiệp bằng chính
sách cứng rắn. Các chính sách này đến lượt nó lại bóp méo các quan hệ thị trường, không phân bổ
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, cản trở sự phát triển kinh tế xã hội và dẫn đến thất bại của
Chính phủ. Để giải quyết, Chính phủ trở lại nới lỏng và tự do hoá TTCK, như vậy có một “vòng
luẩn quẩn” trong hoạt động và phát triển của TTCK của các nước đang phát triển nói chung và
TTCK Việt Nam nói riêng khi mà chính phủ can thiệp quá sâu vào thị trường với kỳ vọng khắc
phục thất bại thị trường. Điều chỉnh cấu trúc của thị trường sao cho phù hợp với cấu trúc kinh tế,
cân đối sự phát triển của các thành tố trong thị trường. Đặc biệt là giảm bớt sự can thiệp một cách