tiểu luận những thuận lợi và khó khăn của nông nghiệp việt nam - Pdf 15


Đề tài
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA
NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
1
Mục Lục
Mục Lục 2
A: LỜI MỞ ĐẦU 2
B:NỘI DUNG CHÍNH 3
I: TỔNG QUAN VỀ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 3
II:NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 4
1: NHỮNG THUẬN LỢI CHO PHÁT TRIÊN NÔNG NGHIỆP 4
2: NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA NÔNG NGHIÊP VIỆT NAM 7
C:KẾT LUẬN 11
A: LỜI MỞ ĐẦU.
Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả
những nước đã đạt đến trình độ phát triển cao.Nó là một trong hai ngành sản xuất
vật chất quan trọng của nền kinh tế, là khu vực sản xuất chủ yếu, đảm bảo việc làm
và đời sống cho xã hội, là thị trường rộng lớn cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản
phẩm của nền kinh tế, là nguồn nhân lực và tích lũy cho công nghiệp
Việt Nam hiện nay vẫn còn là một nước sản xuất chủ yếu về nông nghiệp với
trên 75% dân số cả nước sống tập trung ở các vùng nông thôn. Lao động nông
nghiệp chiếm trên 80% lao động nông thôn và trên 70% lao động trong toàn xã
hội. Trong nhiều năm qua, sản xuất nông nghiệp ở nông thôn chiếm từ 25 - 40%
2
tổng sản phẩm trong nước và đạt trên 40% tổng giá trị giá trị xuất khẩu cho cả
nước.Vì vậy phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay luôn là một yêu cầu
cấp thiết của nước ta. Để nông nghiệp có thể hoà nhịp cùng đất nước phát triển
trong thời kỳ hội nhập.
Trong những năm qua nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến lớn. Từ
một nước nông nghiệp lạc hậu nghèo đói, thiếu lương thực,thực phẩm đã ngày một

vượt chỉ tiêu kế hoạch 5 năm bình quân một triệu tấn và 1,1 tỷ USD/năm. Giá trị gia
tăng ngành nông nghiệp bình quân đạt khoảng 3,7-4%/năm, an ninh lương thực
quốc gia được đảm bảo. Đặc biệt trong năm 2010, giá trị sản lượng nông lâm ngiệp
và thủy sản theo giá so sánh năm 1994, ước đạt 232,65 nghìn tỷ đồng , cao hơn 3%
so với năm 2009.Trong con số kể trên, giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 168,39
nghìn tỷ đồng, tăng 4,2 %, thủy sản ước đạt 56,9 nghìn tỷ đồng tăng 6,1% và lâm
nghiệp đạt 7,37 nghìn tỷ đồng tăng 4,6%.
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã từng bước được đổi
mới theo hướng hiệu quả hơn nhằm phát huy thế mạnh của từng vùng, gắn kết hơn
với thị trường tiêu thụ nông sản thị trường .Các ngành nghề phi nông nghiệp cũng
đã từng bước được khôi phục và phát triển đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho
dân cư.
- Với truyền thống vượt khó đi lên, mong rằng trong thời gian tới cùng với
nhũng nổ lực của người nông dân cả nước, đội ngũ cán bộ ngành nông nghiệp Việt
Nam sẽ tiếp tục chung tay, đoàn kết đẩy mạnh xây dựng nền nông nghiệp phát triển
toàn diện theo hướng hiện đại,bền vững, sản xuật hàng hóa lớn, có năng suất, chất
lượng và hiệu quả cạnh tranh cao. Phát huy, khai thác những thuận lợi và hạn chế
khắc phục những khó khăn còn tồn tại trong quá trình phát triển nông nghiệp giai
đoạn hội nhập kinh tế thế giới, để nông nghiệp Việt Nam với các sản phẩm của nó
có thể đứng vững trước sự cạnh tranh của mặt hàng nông sản của các nước khác.
II:NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NGÀNH NÔNG
NGHIỆP VIỆT NAM
1: NHỮNG THUẬN LỢI CHO PHÁT TRIÊN NÔNG NGHIỆP
- Trong thời kỳ đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu
nổi bật, duy trì tốc độ tăng trưởng đều và ổn định, thể hiện được lợi thế so sánh của
Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong thời gian qua nông
4
nghiệp đã thực sự trở thành chỗ dựa cho nền tảng công nghiệp và dịch vụ, góp phần
quan trọng vào việc đảm bảo ổn định xã hội ở nước ta.
So với năm 1986, năng suất nông sản năm 2010 đã tăng gấp nhiều lần. Việt

triển Châu Á (ADB) đã cho Việt Nam vay 210 triệu USD để phát triển cơ sở hạ
tầng nông thôn và các chương phát triển nông nghiệp bền vững ở vùng núi phía
Bắc.
- Trình độ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, mức độ cơ giới hóa nông nghiệp
từng bước được cải thiện như là việc áp dụng rông rãi khoa học kỹ thuật vào trong
sản xuất, cơ khí hóa nông nghiệp có bước tiến bộ.Đến nay, nhiều khâu trong sản
xuất nông nghiệp đạt tỷ lệ cơ giới hóa cao như: làm đất đạt 70%, tưới tiêu nước đạt
85%, tuốt lúa 83,6%, phát triển mạnh máy gặt đập liên hợp phục vụ thu hoạch lúa.
- Việc ứng dụng khoa học- công nghệ, thực hiện tốt công tác thủy lợi làm
tiền đề để các giống lúa mới thích nghi phát triển, tạo ra đột phá thật sự to lớn về
sản lượng nông sản cũng là một yếu tố quan trọng đẫn đến những kết quả khả quan
cho nông nghiệp nước ta trong thời gian qua. Nhiều năm qua, chúng ta đã tạo ra
được những bộ giống cây trồng phong phú, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu của
sản xuất ở các vùng sinh thái, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao
tính cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thi trường trong nước và trên thế giới.
Nhiều giống cây trồng đã bắt đầu được nghiên cứu một cách có hệ thống, tính xã
hội hóa của ngành giống cây trồng đã được phát huy tốt.
* Thứ ba là nhóm các yếu tố về thị trường, các yếu tố này bao gồm:
- Nước ta sau gia nhập vào WTO nông nghiệp Việt Nam có 3 cái được. Thứ
nhất, thị trường nông sản mở rộng, hàng hóa nông sản có thể bán trong nước và cho
các nước thành viên khác. Thứ hai, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng mạnh
đặc biệt là vào lĩnh vực nông nghiệp, nhờ vậy sẽ thúc đẩy nền nông nghiệp Việt
Nam phát triển mạnh lên. Thứ ba là bà con nông dân sẽ có dịp tiếp cận những tiến
bộ khoa học kỹ thuật mới ngày càng nhiều hơn, nhanh hơn và sâu rông hơn.
- Quy mô thị trường trong nước đã ngày một lớn hơn, thu nhập của người
dân ngày càng gia tăng. Do đó thị trường nội địa có khả năng sẽ trở thành nơi tiêu
thụ được một lượng lớn các sản phẩm mà ngành nông nghiệp sản xuất ra.
6
- Đặc biệt là sau khi gia nhập WTO các sản phẩm nông nghiệp có cơ hội
được tiếp cận với các thị trường Mỹ, Nhật, EU một cách thuận lợi hơn vì trước đây

mạ chết tập trung.
-Tình trạng sử dụng hóa chất tràn lan trong nông nghiệp hiện nay cũng rất
đáng báo động đẫn đến nguy cơ đất nông nghiệp bị thoái hóa, bạc màu. Trong khi
đó, các công ty trong lĩnh vực chế phẩm sinh học của ta lại rất yếu, nhiều sản phẩm
nhập từ nước ngoài về đã quá hạn sử dụng hoặc đã bị cấm sử dụng trên thế
giới,chính vì vậy mà gây khó khăn thêm cho phát triển nông nghiệp.
- Không những vậy diện tích đất canh tác nông nghiệp mỗi năm mỗi giảm,
trong khi đó năng suất lao động nông nghiệp rất thấp, cơ cấu kinh tế nông thôn tuy
có thay đổi nhưng chưa đáng kể. Diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu
người của nước ta khá thấp chỉ có 0,1 ha/ người, chỉ bằng 1/3 mức binh quân của
thế giới. Bên cạnh đó thì các nguồn lực về sinh học đa dạng, phong phú chưa được
khai thác.
- Một khó khăn nữa đó là nhận thức của nhiều người về vai trò của nông
nghiệp hiện nay vẫn chưa tương xứng với sự đóng góp quan trọng của lĩnh vực này
đối với quá trình phát triển kinh tế- xã hội của nước ta. Dường như công nghiệp và
dịch vụ chưa coi trọng thị trường nông nghiệp nói chung.
- Sản xuất nông nghiệp ở một số vùng của nước ta còn mang nặng tính tự
phát của người dân , trong khi sự định hướng, hỗ trợ, tư vấn rõ ràng của nhà nước,
chính quyền địa phương còn thiếu. Đó thật sự là lo ngại khi để “người nông dân tư
duy trên mảnh đất của mình”. Thói quen “ phường hội”, nặng về lợi trước mắt dẫn
đến chỗ người dân phá lúa chuyển sang nuôi trồng thủy sản tràn lan.
- Đời sống của người nông dân tuy được cải thiệN nhưng vẫn còn nghèo. Dù
chúng ta đã đạt được nhiều thành quả về xuất khẩu lúa gạo và các nông sản phẩm
khác nhưng nông dân trồng chúng thì vẫn là những người nghèo về vật chất và tinh
thần. Mặc dù sản lượng lương thực mỗi năm lại tăng hơn 1 triệu tấn nhưng thu nhập
của nông dân thì vẫ chưa được cải thiện bao nhiêu.
- Điều đáng lo ngại nhất là nguồn lao động nông nghiệp tuy dồi dào nhưng
lao đông qua đào tạo chỉ chiếm 24%, ở nông thôn nơi trực tiếp sản xuất chỉ có 13%.
8
Trình độ canh tác của đại bộ phận người dân tham gia sản xuất nông nghiệp còn

đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất do đó đã phải nhập nhiều sản phẩm từ nước ngoài
về, những sản phẩm này có thể đã hết hạn sử dụng hoạt đã bị cấm sử dụng trên thế
giới, chính vì vậy mà đã gây thêm khó khăn cho phát triển nông nghiệp.
* Nhóm các yếu tố thị trường.
- Các ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp vẫn chưa phát triển, tỷ lệ thất thoát
sau thu hoạch còn cao. Nông nghiệp thiếu máy móc thiết bị, phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật, thuốc thú y…dịch vụ hỗ trợ như tín dụng, vận tải, kho bãi, viễn thông tăng
trưởng chậm, giao thông nông thôn tuy đã được đầu tư nhưng chưa thật nhiều .
Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu thị
trường trong nước. Công nghệ và dịch vụ sau thu hoạch chưa phát triển, tỷ lệ thất
thoát sau thu hoạch của lúa từ 12% đến 14%, rau quả 30% ,tỷ lệ này là rất lớn.
- Dịch vụ và cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp nông thôn
không theo kịp đà tăng trưởng kinh tế toàn xã hội. Hệ thống cơ sở hạ tầng, thủy lợi
phục vụ tưới tiêu hoặc còn thiếu hoặc chưa được sử dụng hợp lý, bị hư hỏng do
mưa lũ nên chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất
- Một khó khăn nữa của ngành nông nghiệp là giá cả vật tư nông nghiệp
ngày càng gia tăng trong khi giá thành sản phẩm tăng rất ít hoặc không tăng khiến
người sản xuất có thu nhập rất thấp làm cho người nông dân có xu hướng chuyển
đổi sang các loại giống cây trồng,vật nuôi cho thu nhập cao hơn gây ảnh hưởng đến
cơ cấu sản xuất của nông nghiệp.
-Chất lượng nông sản cũng là một khó khăn của nông nghiệp Việt Nam.
Mặc dù nông nghiệp là ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta và là ngành duy nhất
có thạng dư xuất khẩu nhưng giá trị xuất khẩu nông sản của nước ta lại không cao
vì các sản phẩm nông sản của ta xuất khẩu ra thị trường thế giới chủ yếu là các
nông sản thô, hàm lượng chất xám trong sản phẩm là rất ít nên giá cả không cao.
Một ví dụ là sau 3 năm gia nhập WTO ngành thủy sản nước ta đã phải đối đầu với
các vụ kiện liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm gây ảnh hưởng không.
- Khó khăn nữa là khi gia nhập WTO thì nông nghiệp của chúng ta lại thiếu
thông tin về thị trường, thiếu các hiểu biệt về pháp luật thương mại quốc tế nên khi
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status