ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH NƯỚC SẠCH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN ĐẦU TƯ NƯỚC SẠCH VÀ MÔI TRƯỜNG HÙNG THÀNH - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
__________________

***

__________________
MAI QUANG TRUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH NƯỚC SẠCH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN ĐẦU TƯ NƯỚC SẠCH VÀ
MÔI TRƯỜNG HÙNG THÀNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI - 2014
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
__________________

***

__________________
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH NƯỚC SẠCH
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN ĐẦU TƯ NƯỚC SẠCH VÀ
MÔI TRƯỜNG HÙNG THÀNH
Tên sinh viên : Mai Quang Trung
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế
Lớp : KTB – K55
Niên khóa : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Các Mác
i

không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự thông cảm
và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các độc giả để khóa luận được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin gửi lời chúc sức khoẻ và chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Mai Quang Trung

ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh rất quan trọng với các nhà quản trị
trong việc lập kế hoạch cho tương lai và khắc phục tồn tại cũng như thiếu sót trong
doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong quy luật cạnh tranh
khắc nghiệt của cơ chế thị trường thì phải sử dụng các nguồn lực của mình một
cách có hiệu quả nhất. Vì vậy để sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất, vấn đề
thống kê và phân tích kết quả sản xuất kinh doanh mang một ý nghĩa quan trọng cần
đặt lên hàng đầu. Nó giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp có được những quyết
định đúng đắn, kịp thời và có các thông tin chính xác nhất vì kết quả sản xuất là sự
phản ánh chính xác toàn bộ kết quả quá trình sản xuất kinh doanh của các đơn vị
kinh tế, đồng thời kết quả sản xuất cũng là biểu hiện của năng suất lao động.
Cũng như mọi doanh nghiệp nói chung Công ty Cổ phần Tập đoàn đầu tư
nước sạch và môi trường Hùng Thành cũng phải đối mặt với nhiều thử thách để có
thể vươn lên. Do đó, việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Công ty Cổ phần Tập đoàn đầu tư NS và MT Hùng Thành có ý nghĩa và
vai trò quan trọng, không những giúp bản thân doanh nghiệp đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh mà còn đề ra các biện pháp nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Công ty.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sản xuất
kinh doanh nước sạch tại Công ty Cổ phần Tập đoàn đầu tư nước sạch và môi

dụng chi phí tương đối có hiệu quả nhưng chưa cao. Nếu so sánh với các công ty
khác cùng ngành thì chỉ ở mức trung bình. Chính vì vậy, công ty cần cố gắng hơn
để đạt được hiệu quả sử dụng chi phí ở mức cao nhất tạo ra mức doanh thu và lợi
nhuận cao hơn nữa, nâng cao đời sống cho cán bộ lao động trong công ty.
- Hiệu quả kinh tế - xã hội: Mặc dù hiện nay Công ty có rất nhiều khó khăn
nhưng Công ty vẫn thực hiện tốt các chỉ tiêu tài chính nộp ngân sách Nhà nước
hàng năm ở mức cao. Công ty mở rộng đầu tư, xây dựng thêm các nhà máy nước
sạch, thầu nhiều công trình xây dựng và cấp nước mới tạo thêm công ăn việc làm
cho người lao động.
iv
6. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của Công ty
- Sản lượng nước sạch mà Công ty sản xuất ra.
- Tổng chi phí.
- Lao động và nguồn vốn.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị, máy móc.
- Yếu tố công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Vật tư, nguyên vật liệu.
- Trình độ và năng lực lãnh đạo, quản lý trong công ty.
- Ảnh hưởng tử phía nhà nước và khách hàng.
7. Để góp phần nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty trong thời gian tới cần
thực hiện một số giải pháp sau:
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức hoạt động của Công ty.
- Nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động
- Tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư để huy động nguồn vốn
trong nước và quốc tế đồng thời tiến hành phân phối, quản lý và sử dụng vốn một
cách hợp lý, hiệu quả cao nhất.
- Mở rộng phát triển thị trường nước sạch của Công ty đến các vùng nông
thôn, thị trấn, thị xã, Xây dựng chính sách giá cả hợp lý vừa đem lại lợi nhuận cho
Công ty vừa đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng.
- Giảm thiểu tình trạng thất thoát nước đến mức thấp nhất.

Bảng 4.11: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh qua 3 năm 2011
- 2013 60
Bảng 4.12 : Cơ cấu vốn kinh doanh của công ty Công ty giai đoạn 2011 - 2013 61
Bảng 4.14: Cơ cấu tài sản lưu động của công ty qua 3 năm 2011 – 2013 63
Bảng 4.15: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty 64
Bảng 4.16: Hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty 66
Bảng 4.17: Hiệu quả sử dụng lao động trong Công ty (2011 - 2013) 69
71
Bảng 4.18: Hiệu quả sử dụng chi phí trong Công ty (2011 – 2013) 71
Bảng 4.19: Hiệu quả kinh tế xã hội của Công ty giai đoạn 2011 – 2013 72
Bảng 4.20: Ma trận SWOT phát triển SXKD của Công ty 80
vii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
HÌNH:
Hình 4.1: Biểu đồ sản lượng nước sản xuất, sản lượng nước tiêu thụ, sản lượng
nước hao hụt qua 3 năm 2011 - 2013 44
Hình 4.2: Lao động Công ty phân theo trình độ học vấn từ năm 2011 - 2013 48
Hình 4.3: Lao động Công ty phân theo tính chất lao động từ năm 2011 - 2013 49
Hình 4.4: Tài sản Công ty qua 3 năm 2011 – 2013 53
Hình 4.5: Nguồn vốn của Công ty qua 3 năm 2011 – 2013 54
SƠ ĐỒ:
Sơ đồ 3.1. Tổ chức bộ máy công ty 33
viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BQ : Bình quân
CC : Cơ cấu
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
CNV : Công nhân viên
ĐVT : Đơn vị tính
HCSN : Hành chính sự nghiệp

vị kinh tế là rất quan trọng, là công cụ để đề ra định hướng và chương trình định
hướng. Trong nền kinh tế thị trường, để chiến thắng trong cạnh tranh đòi hỏi các đơn vị
kinh tế phải thường xuyên áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến phương thức
hoạt động, cải tiến phương thức quản lý sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng suất
chất lượng và hiệu quả. Vì vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn là
bài toán khó đối với nhiều doanh nghiệp.
Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế nước ta hiện nay là
sự cần thiết, nó xuất phát từ yêu cầu khách quan của các quy luật kinh tế, từ việc
đảm bảo chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước và yêu cầu hiệu quả kinh tế của
doanh nghiệp. Với những thành tựu to lớn về sự phát triển kinh tế, văn hóa, trình độ
kỹ thuật càng cao thì việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh càng quan trọng
trong quá trình quản lý doanh nghiệp bởi mục đích cuối cùng là tìm ra phương án
kinh doanh có hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường trong
quá trình sản xuất.
1
Cũng như mọi doanh nghiệp nói chung Công ty cổ phần Tập đoàn đầu tư
nước sạch & môi trường Hùng Thành là một doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong
lĩnh vực cung cấp nước sạch, xử lý nước thải và bảo vệ môi trường. Đối với Công
ty hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm một vị trí hết sức quan trọng là một nhiệm
vụ chủ yếu trong quá trình tồn tại, duy trì và phát triển của Công ty trong lĩnh vực
kinh doanh.
Do đó, việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá hiệu quả SXKD của Công ty
Cổ phần Tập đoàn đầu tư NS và MT Hùng Thành có ý nghĩa và vai trò quan trọng.
Không những giúp bản thân Công ty đánh giá được hiệu quả SXKD mà còn đề ra
các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
hiệu quả sản xuất kinh doanh nước sạch tại Công ty Cổ phần Tập đoàn đầu tư
nước sạch và môi trường Hùng Thành”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về hiệu quả sản xuất - kinh doanh
2.1.1.1 Khái niệm SXKD và phát triển SXKD
- Khái niệm SXKD:
+ Sản xuất (Theo từ điển Bách khoa toàn thư): Là quá trình con người sáng
tạo ra tư liệu vật chất (vật phẩm, năng lượng, dịch vụ) thích hợp với nhu cầu của
con người và xã hội, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
+ Kinh doanh (Theo từ điển Bách khoa toàn thư): Là phương thức hoạt động
kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương
pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt
động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại,
dịch vụ ) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt
mục tiêu vốn sinh lời nhiều nhất.
- Khái niệm phát triển SXKD:
Khái niệm về phát triển SXKD (theo từ điển Sciteclabs.com): Phát triển
SXKD là tập hợp những nỗ lực, cố gắng để xác định, nghiên cứu, phân tích, sản
xuất và đưa ra thị trường các dịch vụ mới và sản phẩm mới. Việc phát triển SXKD
tập trung vào việc thực hiện kế hoạch, chiến lược SXKD, thông qua việc đầu tư các
nguồn lực vào công nghệ sản phẩm và các công ty, cùng với việc thiết lập các mối
quan hệ chiến lược khi cần thiết.
2.1.1.2 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải
làm ăn có hiệu quả. Đây là một sự thật hiển nhiên, một chân lý. Thế nào là hiệu quả
sản xuất kinh doanh? Ngày nay, người ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ở mỗi góc độ, mỗi lĩnh vực khác nhau, ở mỗi điều
kiện lịch sử, giác độ nghiên cứu không giống nhau thì hiệu quả cũng được xem xét,
nhìn nhận khác nhau. Để hiểu được phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản
4
xuất kinh doanh thì trước tiên chúng ta tìm hiểu phạm trù hiệu quả kinh tế nói
chung là gì?
- Quan điểm 1: Theo nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith cho rằng:

hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như sau: Hiệu
quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các
nguồn lực lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác nhằm đạt được
mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau song vẫn có thể khẳng định trong
cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, mọi công ty, doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh đều nhằm mục đích là lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp
phải xác định chiến lược kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển cho phù hợp với
những thay đổi của môi trường cạnh tranh như hiện nay, phải phân bổ quản trị các
nguồn lực và luôn luôn kiểm tra quá trình đang diễn ra là có hiệu quả.
2.1.2. Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
Tuỳ vào cách tiếp cận khi nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh ta có
nhiều cách phân loại khác nhau:
2.1.2.1. Căn cứ vào thời gian
- Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn: là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh
giá ở từng khoảng thời gian ngắn. Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn chỉ đề cập đến
từng khoảng thời gian ngắn hạn như tuần, tháng, quý, năm
- Hiệu quả kinh doanh dài hạn: là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh
giá trong khoảng thời gian dài, gắn với chiến lược, kế hoạch dài hạn hoặc thậm chí
nói đến hiệu quả kinh doanh dài hạn người ta thường nhắc đến hiệu quả lâu dài gắn
với quãng thời gian tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Cần chú ý rằng giữa hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn có mối quan hệ
biện chứng với nhau nhưng trong nhiều trường hợp có mâu thuẫn với nhau. Về
nguyên tắc chỉ có thể xem xét, đánh giá hiệu quả kinh doanh ngắn hạn trên cơ sở
vẫn đảm bảo đạt được hiệu quả kinh doanh dài hạn trong tương lai.
6
2.1.2.2. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng của hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế cá biệt: là hiệu quả kinh tế thu được từ hoạt động kinh
doanh của từng doanh nghiệp của từng thương vụ kinh doanh. Biểu hiện chung của
hiệu quả kinh tế cá biệt là doanh lợi mà mỗi doanh nghiệp đạt được và đó chính là

làm cơ sở để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp.
2.1.2.4. Căn cứ vào mối quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí
- Hiệu quả tuyệt đối: là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án
cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra. Chẳng hạn:
tính toán mức lợi nhuận thu được từ một đồng chi phí sản xuất hoặc từ một đồng
vốn bỏ ra
Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một
thương vụ nào đó, để biết được với những chi phí bỏ ra sẽ thu được những lợi ích cụ
thể và những mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí hay
không cho thương vụ đó. Vì vậy, trong công tác sản xuất kinh doanh, bất kỳ công
việc gì đòi hỏi phải bỏ ra chi phí dù với một lượng lớn hay nhỏ cũng phải tính toán
hiệu quả tuyệt đối.
- Hiệu quả tương đối: Được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả
tuyệt đối của các phương án với nhau. Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là
mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối các phương án. Mục đích chủ yếu của việc
tính toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các phương án, từ đó cho phép lựa
chọn một cách làm, một phương án có hiệu quả nhất.
Giữa hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối, mặc dù độc lập với nhau song
lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau và làm căn cứ của nhau.
Thật vậy, trên cơ sở của hiệu quả tuyệt đối người ta sẽ xác định phương án tối ưu.
Nói một cách khác, trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng phương án tìm ra
mức chênh lệch về hiệu quả giữa các phương án. Đó chính là hiệu quả so sánh.
2.1.3. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc
thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất
8
lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết
của hiệu quả kinh doanh. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng

phương thức hoạt động riêng. Xây dựng các chiến lược, các phương án kinh doanh
một cách phù hợp và có hiệu quả.
Như vậy trong cơ chế thị trường nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vô
cùng quan trọng. Nó được thể hiện thông qua:
+ Thứ nhất: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm
bảo sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên
thị trường, mà hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại
này. Đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp là luôn tồn tại và phát triển một cách
vững chắc. Do đó, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu,
khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện
nay. Do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu
nhập của mỗi doanh nghiệp phải không ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện
nguồn vốn và các yếu tố kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của các quá trình sản
xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh
nghiệp phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là
điều kiện hết sức quan trọng việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một cách nhìn khác là sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo
ra hàng hoá, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội, đồng
thời tạo ra sự tích lũy cho xã hội. Để thực hiện được như vậy thì mỗi doanh nghiệp
đều phải vươn lên để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong quá
trình hoạt động kinh doanh. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất
trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta buộc phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh như là một yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, sự tồn tại mới chỉ là yêu cầu mang
tính chất giản đơn, còn có sự phát triển và mở rộng của doanh nghiệp mới là yêu
cầu quan trọng. Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệp luôn phải đi kèm với sự phát
triển mở rộng doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tích luỹ đảm bảo cho quá trình tái
sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát triển. Như vậy để phát triển và mở rộng
doanh nghiệp mục tiêu lúc này không còn để bù đắp chi phí bỏ ra để phát triển quá
10

11
môi trường pháp luật lành mạnh là rất quan trọng. Môi trường pháp luật đảm bảo
tính bình đẳng của mọi loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, cạnh tranh
với nhau một cách lành mạnh, mối doanh nghiệp buộc phải chú ý đến phát triển các
yếu tố nội lực, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và khoa học quản trị tiên tiến
để tận dụng các cơ hội bên ngoài nhằm phát triển kinh doanh lành mạnh, tránh
những đổ vỡ không cần thiết ra ngoài xã hội.
 Môi trường văn hoá, xã hội
Tình trạng thất nghiệp, trình độ giáo dục, phong cách, lối sống, phong tục,
tập quán, tâm lý xã hội đều tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả
sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, có thể theo hai chiều hướng tích cực
hoặc tiêu cực. Trình độ văn hoá ảnh hưởng tới khả năng đào tạo cũng như chất
lượng chuyên môn và khả năng tiếp thu các kiến thức cần thiết của đội ngũ lao
động, phong cách, lối sống, tập quán, tâm lý xã hội Nó ảnh hưởng tới cầu về sản
phẩm của các doanh nghiệp nên nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp.
 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nhân tố bên ngoài tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố như: tốc độ tăng
trưởng kinh tế, tốc độ tăng thu nhập quốc dân, lạm phát Các yếu tố này luôn là các
nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu tốc độ
tăng trưởng kinh tế của đất nước cao và ổn định thì nó sẽ tạo ra một môi trường
kinh doanh ổn định cho doanh nghiệp hoạt động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực
của mình. Ngược lại, tăng trưởng kinh tế của đất nước không ổn định và trì trệ kéo
dài sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: thị trường
của doanh nghiệp bị thu hẹp, nguồn lực sử dụng bị lãng phí, không hiệu quả
Lạm phát cũng là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống kinh tế của
đất nước nói chung và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Tốc độ lạm
phát của đất nước được kiềm chế và ổn định sẽ làm cho giá trị đồng tiền trong nước ổn
định, các doanh nghiệp sẽ yên tâm sản xuất kinh doanh và đầu tư mở rộng sản xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status