KHOA: QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU VÀ ĐẦU TƯ THỰC TẾ TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
FU
GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
LỚP: 110810703
SVTH: NHÓM LUCKY
********************************************
TP. Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2011
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
DANH SÁCH NHÓM LUCKY
1. TRẦN THỊ AN 09218801
2. NGUYỄN THỊ THANH NHÂN 09211331
3. LÊ THỊ OANH 09219111
4. PHAN THỊ PHƯƠNG 09224821
5. NGUYỄN THỊ THƠM 09230971
6. NGUYỄN THỊ THƯƠNG 09219671
2
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN:
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
3
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
1.1. Khái niệm thị trường chứng khoán.
1.2. một số thuật ngữ cơ bản trong thị trường chứng khoán.
1.2.1. phương thức giao dịch.
1.2.2. nguyên tắc khớp lệnh giao dịch.
1.2.3. đơn vị giao dịch và đơn vị yết giá
1.2.4. biên độ giao động giá
1.2.5. lệnh giao dịch
1.2.6. biên lợi nhuận và lãi cơ bản trên cổ phiếu
1.2.7. điều chỉnh hồi tố
1.2.8. mức hỗ trợ và mức kháng cự
1.3. tình hình biến động thị trường chứng khoán tại
TP.HCM và Hà Nội
CHƯƠNG 2: ĐẦU TƯ THỰC TẾ TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1. Mở tài khoản giao dịch chứng khoán
2.2. Lưu ký chứng khoán
2.3. Chuyển nhượng quyền mua chứng khoán phát hành
thêm.
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN
4
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hoạt động đầu tư chứng khoán giới đầu tư không mấy ai
không biết đến lý thuyết thị trường hiệu quả một trong những lý
giao dịch chứng khoán (SGDCK), các
giao dịch được tập trung tại một địa
điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao
dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh
để hình thành nên giá giao dịch.
TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường
OTC (over the counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được
tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên
khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên
thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận.
Các nguyên tắc hoạt động của TTCK:
1. Nguyên tắc cạnh tranh:
Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về
chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên thị
trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng
khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn
các chứng khoán theo các mục tiêu của mình. Trên thị trường thứ cấp, các
nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao
nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá.
2. Nguyên tắc công bằng:
Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ
những qui định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và
6
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những qui
định đó.
3.Nguyên tắc công khai:
Chứng khoán là loại hàng hoá trừu tượng nên TTCK phải được xây dựng
trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật định, các tổ chức phát
hành có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường
7
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm
nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý
quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh.
4. Các tổ chức có liên quan đến TTCK:
- Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực
hiện chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam.
- Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường
và ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch
chứng khoán trên Sở phù hợp với các quy định của luật pháp và
UBCK.
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ
các giao dịch chứng khoán.
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch
vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời
hạn và theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối
với một đợt phát hành cụ thể.
1.2. Một số thuật ngữ cơ bản trong thị trường chứng khoán
1.2.1. Phương thức giao dịch
a) Phương thức khớp lệnh
Phương thức khớp lệnh bao gồm: Khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên
tục.
-Khớp lệnh định kỳ: Là phương thức giao dịch được hệ thống giao dịch
thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán của
khách hàng tại một thời điểm xác định. Nguyên tắc xác định giá thực hiện
trong phương thức khớp lệnh định kỳ như sau:
+ Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất;
+ Nếu có nhiều mức giá thỏa mãn điều kiện nêu trên thì mức giá trùng
hoặc gần với giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn;
50.000 - 99.500 500 đồng
≥ 100.000 1.000 đồng
1.2.4. Biên độ dao động giá
9
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
a) Biên độ dao động giá đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư được
xác định như sau
Biên độ dao động đang áp dụng tại HOSE là 5%
Giá trần: là mức giá cao nhất mà một loại chứng khoán có thể
được thực hiện trong phiên giao dịch.
Giá trần= Giá tham chiếu + (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá)
Giá sàn: là mức giá thấp nhất mà một loại chứng khoán có thể
được thực hiện trong phiên giao dịch.
Giá sàn= Giá tham chiếu – (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá)
Giá tham chiếu
- Giá tham chiếu của cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư đang giao dịch là
giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất trước đó.
- Trường hợp cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư mới được niêm yết, trong
ngày giao dịch đầu tiên, giá tham chiếu được xác định như sau:
+ Tổ chức niêm yết và tổ chức tư vấn niêm yết (nếu có) phải đưa ra mức
giá giao dịch dự kiến để làm giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu
tiên.
+ Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên là +/-20% so với
giá giao dịch dự kiến.
+ Giá đóng cửa trong ngày giao dịch đầu tiên sẽ là giá tham chiếu cho
ngày giao dịch kế tiếp.
- Trường hợp giao dịch chứng khoán không được hưởng cổ tức và các
quyền kèm theo, giá tham chiếu tại ngày không hưởng quyền được xác
định theo nguyên tắc lấy giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất điều
chỉnh theo giá trị cổ tức được nhận hoặc giá trị các quyền kèm theo.
- Mã chứng khoán;
- Số lượng;
- Giá.
11
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
b) Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa của
chứng khoán
Nhập vào hệ thống giao dịch có nội dung như lệnh giới hạn, nhưng không
ghi mức giá mà ghi là ATO.
c) Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa của
chứng khoán
Nhập vào hệ thống giao dịch có nội dung như lệnh giới hạn, nhưng không
ghi mức giá mà ghi là ATC.
1.2.7. Biên lợi nhuận và lãi cơ bản trên cổ phiếu
Biên lợi nhuận: là tỷ lệ được tính toán bằng cách lấy lợi nhuận
chia cho doanh thu. Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu tạo ra được
bao nhiêu đồng thu nhập. Biên lợi nhuận là một công cụ đơn giản, trực
quan và rất hiệu quả, bởi lẽ nó so sánh lợi nhuận (kết quả cuối cùng) với
doanh thu (yếu tố đầu tiên hình thành nên lợi nhuận), cả hai lại tương
xứng với nhau về thời gian. Biên lợi nhuận được biểu hiện bằng con số
phần trăm(%), ví dụ nếu biên lợi nhuận là 15%, tức là một công ty sẽ tạo
ra được 0,15 đồng thu nhập trên mỗi đồng doanh thu bán hàng.
Có hai loại biên lợi nhuận:
- Loại thứ nhất được gọi là biên lợi nhuận sau thuế, bằng tỷ lệ phần trăm
của lợi nhuận sau thuế so với doanh thu.
- Loại thứ hai là biên lợi nhuận trước thuế, là tỷ lệ lợi nhuận trước thuế so
với doanh thu.
Những nhà phân tích và đầu tư thường nghiên cứu cả hai chỉ số này. Một
số người thích sử dụng chỉ số trước thuế hơn, vì chúng thể hiện khả năng
sinh lời thực tế hơn mà không gặp phải rắc rối vì các loại thuế.
tài sản doanh nghiệp đã đầu tư hoặc vốn cổ phần của cổ đông. Doanh
nghiệp thương mại thường có biên lợi nhuận thấp và doanh nghiệp dịch
vụ thường có biên lợi nhuận cao.
- Khả năng sinh lợi của một công ty không chỉ phụ thuộc vào biên lợi
nhuận, mà còn phụ thuộc vào tốc độ tăng tỷ suất lợi nhuận liên tục của
công ty và rất nhiều yếu tố khác. Để có được các thông tin đáng tin cậy
về khả năng sinh lợi của một công ty, nên xem xét chỉ số này trong ít nhất
13
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
3 - 5 năm. Ngoài ra, cần lưu ý là tăng biên lợi nhuận không đồng nghĩa
với việc tăng lợi nhuận.
Lãi cơ bản trên cổ phiếu
Lãi cơ bản trên cổ phiếu được tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân
bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty cho số lượng bình
quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ.
Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của
công ty là các khoản lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp
trong kỳ sau khi được điều chỉnh bởi cổ tức của cổ phiếu ưu đãi, những
khoản chênh lệch phát sinh do thanh toán cổ phiếu ưu đãi và những tác
động tương tự của cổ phiếu ưu đãi đã được phân loại vào nguồn vốn chủ
sở hữu. Việc tính lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ phiếu phổ thông được
thực hiện bằng cách lấy chỉ tiêu lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập
doanh nghiệp trong kỳ trừ (-) các khoản điều chỉnh giảm và cộng (+)
thêm các khoản điều chỉnh tăng lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập
doanh nghiệp.
Số lượng cổ phiếu phổ thông được sử dụng để tính lãi cơ bản trên cổ
phiếu là số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành
trong kỳ. Số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong
kỳ hiện tại và tất cả các kỳ trình bày phải được điều chỉnh cho các sự kiện
(trừ việc chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng) tạo ra sự thay đổi về
điểm này một lần nữa. Không muốn bỏ lỡ cơ hội lần thứ hai, nhiều người
mua sẽ gia nhập thị trường, tạo ra lực cầu đủ lớn để áp đảo số người bán.
Kết quả là giá lại bị đẩy lên, càng củng cố thêm quan điểm cho rằng, giá
không thể nào xuống dưới mức này được. Vô hình trung, tại điểm mốc
này hình thành mức chặn dưới, đó chính là mức hỗ trợ.
Mức hỗ trợ đóng vai trò như giá sàn trong các đồ thị phân tích kỹ thuật,
ngăn không cho giá thị trường tụt xuống dưới mức này. Việc xác định
được mức giá hỗ trợ có thể đem lại cho nhà đầu tư một cơ hội tốt nhất để
mua vào.
15
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
Mức kháng cự (resistance)
Là mức giá mà ở đó áp lực bán đủ mạnh làm cho giá không thể tiếp tục
tăng được nữa. Người mua không sẵn lòng mua ở mức giá đó. Hiểu một
cách đơn giản hơn, với mức giá này, hầu hết các nhà đầu tư trên thị
trường đều tin rằng, giá sẽ hạ.
Mức kháng cự giống như là mức chặn của đường giá, mà tại vị trí đó, thị
trường không thể vượt qua mức này. Nó là chướng ngại vật lớn của
đường giá, một mức mà ở nơi đó người bán đông hơn là người mua. Mỗi
khi giá lên một mức cao mới và sau đó hạ xuống, những người bán bỏ lỡ
đỉnh giá lần trước sẽ có xu hướng bán cổ phiếu khi giá quay lại mức đó.
Tin rằng đó là cơ hội tốt để bán chứng khoán trước khi giá theo chiều
hướng ngược lại, họ có thể tham gia vào thị trường với số lượng đủ lớn,
áp đảo số lượng người mua và do đó sẽ kéo giá xuống. Kết quả đó củng
cố thêm quan điểm của thị trường rằng, mức giá trên là mức chặn, không
cho giá thị trường vượt qua nó và thiết lập tại đó một mức kháng cự. Như
vậy, ngược với mức hỗ trợ, mức kháng cự có vai trò như giá trần trong
các đồ thị phân tích kỹ thuật. Việc xác định được mức kháng cự sẽ giúp
nhà đầu tư xác định được thời điểm hợp lý nhất để bán chứng khoán.
1.2.10. Các chỉ số phân tích
số đánh giá trực tiếp phản ánh hoàn toàn nội tại của công ty về khả
năng tạo ra lợi nhuận ròng (lợi nhuận có thể dùng chi trả cho cổ đông)
trên một cổ phần mà cổ đông đóng góp vốn chứ không từ việc lên hay
xuống giá cổ phiếu công ty trên thị trường chứng khoán. Chỉ số EPS
càng cao thì công ty tạo ra lợi nhuận cổ đông càng lớn và ngược lại.
Ví dụ, nếu đạt 5.000 đồng trên một cổ phần thì điều đó có nghĩa là
công ty tạo ra lợi nhuận là 5% trên vốn góp cổ đông (giả sử mệnh giá
một cổ phần là 100.000 đồng).
Như vậy, nếu một công ty chỉ đạt EPS khoảng 8 - 9% một năm thì chỉ
bằng lãi suất tiền gửi ngân hàng thì bạn có nên mua không, đó là điều
bạn phải cân nhắc trước khi quyết định đầu tư. Nếu bạn mua thì có hai
trường hợp xảy ra:
Nói tóm lại, nếu công ty đạt được mức EPS từ 15% - 35 % là tỉ lệ
tương đối phổ biến tại Việt Nam, nó phản ánh tính ổn định trong hoạt
động kinh doanh và giá vốn chấp nhận được của thị trường vốn. Ví dụ
các công ty cổ phần dưới đây :
17
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
Công Ty( Năm 1999 ) EPS ( đồng ) EPS ( % )
Ngân hàng ABC 151.000 15,1
Cty CP Văn hóa Phương Nam 24.500 24,5
Cty Bánh kẹo BIBICA 50.800 50,8
Cty CP SACOM 21.000 21,0
Cty CP REE 5.300 5,3
Đánh giá tỷ lệ ROE
Làm thế nào nhà đầu tư đánh giá được khả năng sinh lợi của đồng vốn
sở hữu cổ đông để có thể thấy được một đồng vốn tạo khả năng bao
nhiêu đồng lời và tỷ lệ sinh lời của nó để quyết định đầu tư công ty X
này mà không đầu tư vào công ty Y khác có cùng ngành nghề?.
Chỉ số này chưa phản ánh một cách chính xác khả năng sinh lời từ toàn
Chỉ số Current Yield (Hay người ta thường gọi là Yield) là gì? Đây là
chỉ số dùng để phản ánh mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận
được từ công ty với giá cổ phiếu mà nhà đầu tư mua vào nó là tỷ lệ cổ
tức mà cổ đông nhận được trên giá chứng khoán mà cổ đông đó mua
vào
Phân tích mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ công ty và
giá nhà đầu tư mua cổ phiếu, chúng ta thấy có hai trường hợp sau đây
+ Trường hợp 1: Nếu nhà đầu tư mua chứng khoán xong rồi chờ
chứng khoán lên giá để hưởng chênh lệch gọi là lãi vốn (capital gain)
thì nhà đầu tư sẽ không quan tâm gì nhiều đến Yield. Lúc này Yield
không có ý nghĩ gì thực sự quan trọng với họ so với các chỉ số P/E,
EPS như đã đề cập trong bài trước
Trong trường hợp này, các nhà đầu tư đã phân tích mối quan hệ giữa
Yield và EPS. Nếu Yield thấp, ép cao thì họ hy vọng công ty sử dụng
phần lợi nhuận để tái đầu tư tăng lợi nhuận cho các năm tiếp theo giúp
P/E giảm. Lúc này họ dễ dàng bán lại cổ phiếu với P/E cao để có lãi
vốn
+ Trường hợp 2: Nếu nhà đầu tư mua chứng khoán để đầu tư lâu dài
(như để mua làm của) thì tất nhiên họ sẽ quan tâm tới việc thu lợi
nhuận hàng năm, hàng quý. Lúc này chỉ có cổ tức họ thu được. Khi đó
Yield là mục tiêu chính để họ quan tâm.
19
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
Khi công ty chia cổ tức cao có nghĩ là không cần sử dụng lợi nhuận để
lại có thể do: công ty sử dụng vốn vay công ty chưa có kế hoạch mở
rộng sản xuất hoặc thị phần công ty đã bão hoà. Khi đó lợi nhuận
không được dự đoán tăng nhiều trong năm tới đồng nghĩa P/E không
giảm nhiều dẫn đến việc các nhà đầu tư không hy vọng sẽ tăng giá cổ
phiếu của mình trong tương lai.
Thông thường lợi nhuận thu được từ cổ tức công ty trả thấp hơn nhiều
20
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
khoán trái phiếu có quyền đòi ưu tiên) chia cho tổng số cổ phần phát
hành.
Chỉ số này giúp cho nhà đầu tư dánh giá công ty khi đầu tư ở một số
khía cạnh như sau:
Giả sử công ty có phần mệnh giá là 100.000 đồng mà NAV là 120.000
chẳng hạn thì có nghĩa là công ty đã tích luỹ vốn để sản xuất có thể từ
nguồn lợi nhuận để lại phát hành chênh lệch Như vậy nhà đầu tư
mua cổ phần với giá 120.000 đồng thì họ vẫn mua đúng với giá trị thật
trên sổ sách của nó.
Nếu NAV là 120.000 đồng nhưng lợi nhuận công ty đạt được cao thì
nhà đầu tư cũng có thể mua cổ phiếu với giá cao hơn NAV để mong
lợi nhuận gia tăng khi đó sẽ có chia cổ tức có tích luỹ và NAV sẽ tiếp
tục tăng nữa trong thời gian tới.
Nếu NAV là 120.000 đồng nhưng công ty vẫn đang lỗ có nghĩa sẽ tiếp
tục giảm NAV thì bạn có quyết mua với 120.000 đồng hay cao hơn
không. Đây là quyết định khó khăn và rủi ro nhất nó phụ thuộc nhiều
vào việc đánh giá phân tích của nhà đầu tư về công ty ở nhiều khía
cạnh thông tin chính xác về công ty tương lai để quyết định. ở đây chỉ
có một nguyên tắc đơn giản mà nhà đầu tư chấp nhận đầu tư đó là "lợi
nhuận cao thì rủi ro cao".
1.3. Tình hình biến động thị trường chứng khoán tại
TP.HCM và Hà Nội
Tại Sở GDCK TP. HCM (HOSE)
* Khối lượng giao dịch:
- Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ: từ 20.000 cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ trở lên
trong một lần đặt lệnh (bắt buộc phải thực hiện theo phương thức GDTT);
- Trái phiếu: không giới hạn về khối lượng (tất cả trái phiếu đều phải thực
hiện theo phương thức GDTT).
lựa chọn:
- Các giao dịch có khối lượng nhỏ hơn 100.000 cổ phiếu hoặc nhỏ hơn 10
tỷ đồng mệnh giá trái phiếu: áp dụng hình thức thanh toán đa phương với
chu kỳ T+3;
- Các giao dịch có khối lượng lớn hơn hoặc bằng 100.000 cổ phiếu hoặc
10 tỷ đồng mệnh giá trái phiếu thì được lựa chọn 1 trong 3 hình thức
thanh toán: đa phương với chu kỳ thanh toán T+3; song phương với chu
kỳ thanh toán T+2 và trực tiếp với chu kỳ thanh toán từ T+1 đến T+3.
Trình tự tiến hành GTGD (áp dụng cho cả 2 sàn)
- Nếu NĐT đã xác định được đối tác và 2 bên đã thỏa thuận xong các
điều kiện về giá, khối lượng, hình thức thanh toán thì sẽ thông báo cho
CTCK của cả 2 bên. CTCK sẽ thực hiện nhập lệnh vào hệ thống của thị
trường và cuối mỗi phiên, Sở/Trung tâm GDCK sẽ tiến hành tổng hợp
vào kết quả giao dịch toàn thị trường.
23
Thị trường chứng khoán GVHD: TỪ THỊ HOÀNG LAN
- Nếu NĐT chưa xác định được đối tác, khi có nhu cầu, sẽ tới đặt lệnh
chào mua hoặc chào bán tại CTCK. Đại diện giao dịch (ĐDGD) của
CTCK sẽ nhập lệnh vào hệ thống và lệnh này sẽ hiển thị trên cửa sổ lệnh
của Sở/Trung tâm GDCK và CTCK. Căn cứ vào các thông tin chào mua,
chào bán trên sổ lệnh GDTT, các CTCK sẽ liên lạc với nhau, giúp NĐT
tìm kiếm, thỏa thuận với đối tác về mức giá, khối lượng giao dịch Sau
khi đã đạt được thỏa thuận, ĐDGD của CTCK bên bán sẽ nhập lệnh giao
dịch đã được thỏa thuận vào hệ thống gồm: mã, số lượng, giá, số hiệu
thành viên bên mua, ký hiệu lệnh giao dịch, số hiệu tài khoản giao dịch
của NĐT Hệ thống tại Sở/Trung tâm GDCK sẽ nhận, xác nhận các lệnh
giao dịch do CTCK nhập và đưa ra kết quả. Kết quả sẽ hiển thị trên màn
hình của ĐDGD và màn hình của CTCK.
Một số lưu ý:
- Giá trị GDTT ở cả HOSE và HASTC đều không được sử dụng để tính