LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại
Chi Nhánh Ngân Hàng Công Thương
Ba Đình
Công Thương Ba Đình làm luận văn tốt nghiệp của mình.
* Ngoài lời cảm ơn, lời nói đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu
tham khảo. Luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng xuất nhập
khẩu của ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại chi
nhánh ngân hàng công thương ba đình Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng xuất
nhập khẩu tại chi nhánh ngân hàng công thương ba đình Chương I:
Một số vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
của ngân hàng thương mại
1.1. tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu
1.1.1. Sự cần thiết phát triển hoạt động xuất nhập khẩu và
nhu cầu tài trợ cho xuất nhập khẩu
1.1.1.1. Sự cần thiết phát triển hoạt động xuất nhập khẩu
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào
nền sản xuất trong nước mà còn phải quan hệ với các nước bên ngoài. Do
có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu mà mỗi quốc
gia có thế mạnh trong việc sản xuất một số mặt hàng nhất định.
Để đạt được hiệu quả kinh tế đồng thời đáp ứng được nhu cầu ngày
càng đa dạng ở trong nước, các quốc gia đều mong muốn có được những sản
phẩm chất lượng cao với giá rẻ hơn từ các nước khác đồng thời mở rộng
được thị trường tiêu thụ đối với các sản phẩm thế mạnh của mình. Chính từ
mong muốn đó đã làm nảy sinh hoạt động thương mại quốc tế.
* Nhập khẩu
Song song với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cũng đóng một vai trò
vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Cụ thể:
- Nhập khẩu tạo ra hàng hoá bổ sung cho hàng hoá thiếu hụt trong nước
và thay thế những sản phẩm trong nước không sản xuất được hay sản xuất
với chi phí cao hơn để đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng nội địa một cách
tốt nhất, từ đó tạo sự ổn địnhvề cung-cầu trong nước và cao hơn là sự ổn
định kinh tế vĩ mô.
- Nhập khẩu có tác động đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ
thuật, đổi mới công nghệ tạo tiền đề thuận lợi cho sản xuất.
- Ngoài ra, nhập khẩu còn có vai trò thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc
cung cấp các nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho xuất khẩu cũng
như góp phần định hướng sản phẩm, định hướng thị trường cho xuất khẩu.
Cuối cùng, một vai trò hết sức quan trọng của cả xuất và nhập khẩu
đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đó là tạo công ăn việc làm, cải thiện đời
sống nhân dân và mở rộng hợp tác quốc tế.
1.1.1.2. Nhu cầu tài trợ cho xuất nhập khẩu
Như đã nói trên, trong nền kinh tế mở các doanh nghiệp luôn phải đối
đầu với sự cạnh tranh gay gắt. Họ không chỉ phải cạnh tranh với các nhà sản
xuất trong nước mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài. Để
chiến thắng trong cạnh tranh, ngoài việc cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà
nước như sự ưu đãi về thuế, sự điều chỉnh tỉ giá hối đoái phù hợp các
doanh nghiệp còn cần phải có một tiềm lực tài chính mạnh để thực hiện các
hoạt động như đổi mới dây chuyền công nghệ, mua sắm máy móc hiện đại,
mua sắm nguyên vật liệu, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá
thành Song trên thực tế do khả năng tài chính có hạn nên hầu hết các
doanh nghiệp đều cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài. Nhu cầu tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu nảy sinh từ những đòi hỏi
giới thiệu. Sau đó họ còn phải hoàn tất các tài liệu thiết kế và tính toán chính
xác cho đàm phán hợp đồng. Chi phí cho những hoạt động này không phải
nhỏ, đặc biệt với các cơ sở kinh doanh tiềm lực tài chính còn hạn hẹp.
+ Giai doạn ký kết hợp đồng: Trong trường hợp nhà xuất khẩu chưa
có uy tín cao ở nước ngoài, đối tác có thể yêu cầu một bảo đảm giao hàng hoặc bảo đảm hoàn thành công trình. Đảm bảo này sẽ có hiệu lực nếu việc
giao hàng hoặc hoàn thành công trình không đúng như thoả thuận.
Trường hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhập
khẩu là người nước ngoài đang gặp khó khăn về tài cính ,nhà xuất khẩu có
thể đề nghị ngân hàng của mình cung cấp tín dụng tương đương với số tiền
đật cọc và nhà nhập khẩu có ngiã vụ chi trả cho khoản tín dụng đó
+ Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã kí hợp đồng, nhà xuất
khẩu sẽ tiến hành chuẩn bị sản xuất. Nhất là việc xây dựng các công trình
lớn như, nhà máy, xí nghiệp việc này thường đi kèm với chi phí lớn vượt
quá mức đặt cọc.
+ Giai đoạn sản xuất: Mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh
toán tiếp theo của người mua, trong thời gian này thường nảy sinh các nhu
cầu tài chính cao về vật tư và chi phí liên quan khác vượt qua các khoản
thanh toán giữa chừng.
+ Giai đoạn cung ứng: Ngay cả trong giai đoạn cung ứng cũng có thể
nảy sinh các chi phí cần được tài trợ như chi phí vận tải, bảo hiểm tuỳ theo
điều kiện cung ứng.
+ Giai đoạn lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Sau khi hàng
hoá được bàn giao tới địa điểm qui định, nhà xuất khẩu còn cần chi phí cho
lắp ráp chạy thử cho tới khi được người mua thu nhận và chấp nhận thanh
toán.
+ Giai đoạn bảo hành: Trong giai đoạn này người mua có quyền yêu
cầu được bảo hành ở ngân hàng của nhà xuất khẩu trước khi thanh toán.
- Xử lí tiếp, bán tiếp, tài trợ tiêu thụ: Đối với hàng hoá chủ định bán
tiếp thì nhà nhập khẩu còn có nhu cầu tài trợ giữa chừng cho khoảng thời
gian từ khi nhập hàng về tới khi hàng hoá được tiêu thụ.
Nếu sản phẩm là những dây chuyền công nghệ để sản xuất thì nhà nhập
khẩu sẽ có nhu cầu được tài trợ cho giai đoạn từ khi sản xuất sản phẩm mới
tới khi tiêu thụ được các sản phẩm làm ra và thu được tiền hàng.
Qua việc xem xét nhu cầu tài trợ cho xuất nhập khẩu ở trên ta có thể
khẳng định rằng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có một nhu cầu tài trợ
rất lớn. Vậy thì để đáp ứng cho nhu cầu đó có những nguồn tài trợ nào. Dưới
đây là một số nguồn tài trợ thường dùng cho xuất nhập khẩu.
1.1.2. Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những hoạt động kinh tế cơ bản, do
vậy nó cũng được tài trợ từ rất nhiều nguồn khác nhau. Trong đó, những
nguồn tài trợ thường được sử dụng là:
Tín dụng thương mại (hay tín dụng nhà cung cấp): là nguồn tài trợ
được thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ với các
công cụ chủ yêú là kỳ phiếu và hối phiếu. Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn
được ưa dùng vì dễ thực hiện, khả năng chuyển thành tiền mặt cao (thông
qua chiết khấu tại các ngân hàng), linh hoạt về thời hạn. Tuy nhiên, các
công cụ như hối phiếu thường được sử dụng trên cơ sở có ngân hàng đứng ra
chấp nhận hay bảo đảm. Các khoản phải nộp phải trả: Bao gồm: thuế phải nộp nhưng
chưa nộp, phải trả cán bộ công nhân viên và các khoản phải trả phải nộp
khác. Đây là nguồn tài trợ mang tính thời điểm cao vì nó thường nhỏ và ít ổn
định.
Vốn tự có: Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp khác nhau mà vốn tự
có có thể là vốn Ngân sách cấp, vốn cổ phần của các sáng lập viên công ty
cổ phần hay vốn của chủ doanh nghiệp tư nhân.
sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ Tuỳ vào từng doanh nghiệp mà Ngân hàng có thể áp dụng những hình thức nhất định sao cho thuận lợi
với cả hai bên. Một đặc điểm khá nổi bật của tín dụng ngân hàng là có khả
năng linh hoạt về lãi suất cũng như thời hạn.
Các nguồn tài trợ khác: Ngoài các nguồn tài trợ trên các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu còn có thể được tài trợ bằng các nguồn như đầu tư
nước ngoài, vay nợ viện trợ của nước ngoài, hỗ trợ của Chính phủ Hiện nay
các nguồn này thường cũng được sử dụng thông qua các Ngân hàng.
Như vậy, nguồn tài trợ cho xuất nhập khẩu rất đa dạng nhưng trong đó
nguồn tín dụng ngân hàng nhờ có những ưu thế riêng nên vẫn nắm giữ một vị
trí đặ c biệt đối với sự phát triễn của đất nước nói chung vá hoạt động xuất
nhập khẩu nói riêng
1.1.3. Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu
1.1.3.1. Khái niệm, vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động
xuất nhập khẩu
* Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế được rất nhiều nhà kinh tế
học đề cập đến và do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về tín dụng.Tuy
nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì: tín dụng là một quan hệ xã hội giữa
người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua sự
vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc
hiện vật.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín
dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên
doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, đơn vị kinh tế-xã
hội, các cơ quan Nhà nước và các tầng lớp dân cư ”.
Tín dụng ngân hàng ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhờ có
khả năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà nó đã
cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và ngược lại nhờ nguồn tín dụng của
ngân hàng nhà nhập khẩu thực hiện được những nhập khẩu quan trọng trong
khi khả năng tài chính của họ chưa đáp ứng được.
Thứ năm, ngân hàng là một đầu mối tiếp nhận các nguồn tài trợ của
nước ngoài cho hoạt động xuất nhập khẩu. Bởi vì hiện nay phần lớn các
nguồn tài trợ của các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào
đó được thực hiện qua các ngân hàng nước sở tại.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu càng
có ý nghĩa hơn khi ngân hàng thực hiện các chính sách của Nhà nước, trong
đó có chính sách hướng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ngân hàng sẽ
cung cấp cho các nhà xuất nhập khẩu những khoản tín dụng lớn với lãi xuất
ưu đãi mà nhờ đó họ có thể giải quyết vấn đề thiếu vốn trong hoạt động
kinh doanh của mình.
1.1.3.2. Các hình thức và qui trình tín dụng xuất nhập khẩu của
ngân hàng thương mại Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại bao gồm nhiều
hình thức khác nhau và tuỳ trình độ phát triển của ngân hàng và những qui
định của pháp luật mà các ngân hàng lựa chọn áp dụng các hình thức cho
phù hợp. Dưới đây ta sẽ xem xét một số hình thức tín dụng xuất khẩu và tín
dụng nhập khẩu thông dụng.
1.1.3.2.1.Tín dụng xuất khẩu
Ngân hàng thương mại cho các cơ sở xuất khẩu vay dưới các hình thức
như cho vay thông thường, cho vay trên cơ sở hối phiếu, cho vay trên cơ sở
phương thức thanh toán nhờ thu, cho vay trên cơ sở phương thức thanh toán
tín dụng chứng từ
* Cho vay thông thường
Cho vay thông thường là việc ngân hàng giao cho khách hàng một
khoản tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định. Khi hết hạn, người
(3) (4) (7) (8) (10)
(10b)
(5) (10a) (6) (9) (10) (1) Nhà xuất khẩu sau khi giao hàng, chuyển chứng từ vận chuyển và hối
phiếu đòi nợ tới nhà nhập khẩu.
(2) Nhà nhập khẩu chấp nhận hối phiếu và chuyển hối phiếu đã chấp nhận
cho nhà xuất khẩu
(3) Nhà xuất khẩu đề nghị ngân hàng của mình cấp tín dụng trên cơ sở hối
phiếu đã được chấp nhận.
(4) Ngân hàng xuất khẩu đồng ý cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu (ghi có vào
tài khoản của nhà xuất khẩu sau khi đã trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ
thu).
(5) Ngân hàng nhà xuất khẩu đem hối phiếu đến ngân hàng trung ương
(NHTƯ), để tái chiết khấu và thu hồi khoản tín dụng đã cấp cho nhà xuất
khẩu.
(6) Khi tới hạn thanh toán, NHTƯ chuyển hối phiếu cho ngân hàng nhà nhập
khẩu và nhờ thu khoản nợ trên hối phiếu.
(7) Ngân hàng nhà nhập khẩu chuyển hối phiếu cho nhà nhập khẩu và đề
nghị thanh toán.
(8) Nhà nhập khẩu chấp nhận thanh toán và cho phép ngân hàng ghi nợ vào
tài khoản của mình.
(9) Ngân hàng nhà nhập khẩu ghi có vào tài khoản của NHTƯ, giá trị hối
phiếu sau khi đã trừ đi lệ phí nhờ thu và thông báo khoản thu đã được thực
hiện.
Nhà nhập
khẩu
ro, không được truy đòi lại khách hàng. Lãi xuất chiết khấu này thường cao.
* Tín dụng ứng trước cho người xuất khẩu
Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện hợp đồng xuất khẩu các doanh
nghiệp cũng có thể đề nghị ngân hàng tạm ứng cho một nghiệp vụ xuất khẩu
cho đến khi thu được lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu. Hình thức tín dụng
này bao gồm hai hình thức cơ bản sau:
+ Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ : Sau
khi lập song bộ chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm và các chứng từ
liên quan khác, nhà xuất khẩu sẽ nộp lên ngân hàng của mình nhờ thu hộ
tiền. Ngân hàng của nhà xuất khẩu sẽ chuyển đến ngân hàng của nhà nhập
khẩu (hoặc ngân hàng giao dịch) với chỉ thị chỉ giao chứng từ khi đã thanh
toán (điều kiện D/P: documents against payment) hoặc chấp nhận một hối
phiếu đòi nợ kèm theo (điều kiện D/A: documents against acceptance).
Trong nghiệp vụ này ngân hàng tham gia chủ yếu với tư cách trung
gian, thực hiện và thừa hành theo uỷ nhiệm để giảm bớt những rủi ro về tiêu
thụ, thanh toán cũng như về cung ứng. Tuy nhiên, từ khi gửi các chứng từ tới ngân hàng xuất khẩu cho tới khi xuất trình với người thanh toán thường mất
một khoảng thời gian nhất định (Đặc biệt khi thoả thuận ngày thanh toán
muộn hơn). Điều này làm cho các doanh nghiệp xuất khẩu có thể thiếu vốn
tạm thời. Khi đó họ có thể yêu cầu ngân hàng ứng trước một phần trị giá với
bộ chứng từ nhờ thu. Khoản tín dụng này có thể do ngân hàng xuất khẩu hay
ngân hàng nhập khẩu ứng trước.
Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu gần giống với chiết
khấu bộ chứng từ nhờ thu nhưng có một số điểm phân biệt đó là:
- Ngân hàng không muốn cho vay toàn bộ giá trị hàng như chiết khấu
hối phiếu.
- Nhà xuất khẩu không muốn trả lãi suất chiết khấu cho 100% giá trị
hối phiếu như chiết khấu vì anh ta chỉ cần một phần trị giá hối phiếu.
kiện người xuất khẩu cam kết bằng văn bản tiền sẽ được sử dụng đúng mục
đích quy định.
- Điều khoản đỏ chứng từ: Tiền sẽ được ứng trước nếu nhà xuất khẩu
cam kết cung cấp giấy nhập kho hoặc các chứng từ khác chứng minh quyền
sở hữu hàng hoá và sau đó xuất trình các chứng từ thanh toán phù hợp với
thư tín dụng.
1.1.3.2.2. Tín dụng nhập khẩu
Các ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu dưới các
hình thức như cho vay mở thư tín dụng, chấp nhận hối phiếu, cho vay thấu
chi
Cho vay mở L/C : Thư tín dụng L/C là một văn bản pháp lí trong đó
ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình được
bộ chứng phù hợp với những nội dung của L/C. Thư tín dụng có tính chất
quan trọng là nó được hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán nhưng
sau khi được thiết lập, nó lại độc lập hoàn toàn với hoạt động mua bán.
Ngay việc mở L/C đã thể hiện việc cung cấp tín dụng cho nhà nhập
khẩu bởi vì mọi thư tín dụng đều do ngân hàng mở theo đề nghị của nhà
nhập khẩu nhưng không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng có đủ số dư trên
tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, trong khi đó L/C lại là một đảm
bảo thanh toán của ngân hàng tức là ngân hàng mở L/C phải chịu mọi rủi ro
khi nhà nhập khẩu không thanh toán hoặc không muốn thanh toán khi L/C
đã đến hạn trả tiền.
Trong thực tế khoảng thời gian từ khi mở L/C đến khi thanh toán L/C là
khá dài. Vì vậy, nếu ngân hàng khống chế số dư trên tài khoản của nhà nhập
khẩu để đảm bảo khả năng thanh toán của L/C thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động kinh doanh của họ. Song mặt khác, nếu không làm như vậy sẽ
dễ dẫn đến L/C không được thanh toán và ngân hàng sẽ bị mất lòng tin của
bạn hàng.
Ngoài ra, chúng ta cũng biết rằng nhà nhập khẩu có thể mở L/C bằng
vốn tự có của mình hoặc vay ngân hàng. Nhưng nếu sử dụng vốn tự có để
(4) Nhà xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng nếu
không thì đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với
hợp đồng.
(5) Sau khi giao hàng nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của
L/C và xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở L/C xin
thanh toán.
(6) Ngân hàng thông báo gửi chứng từ cho ngân hàng phát hành yêu cầu
thanh toán cho nhà xuất khẩu
(7) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì
tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu, nếu không thấy phù hợp thì từ chối
thanh toán và gửi trả lại bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu.
(8) Ngân hàng mở L/C đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho
nhà nhập khẩu sau khi nhận tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
Nhà xuất
khẩu
Nhà nhập
khẩu
Ngân hàng
thông báo
NH phát
hành L/C Ngày nhận nợ được và tính lãi khoản cho vay mở L/C là ngày nhà nhập
khẩu phải thanh toán cho nhà xuất khẩu (ngày đến hạn thanh toán L/C)
Cho vay mở L/C cũng có rủi ro cho ngân hàng vì L/C chỉ được xử lí
trên cơ sở chứng từ chứ không căn cứ trên hàng hoá, nếu hàng hoá kém giá
trị hay hư hỏng thì ngân hàng dễ bị tổn thất.
Tín dụng chấp nhận hối phiếu
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là hình thức tín dụng được thực hiện trên
và doanh nghiệp chưa tiêu thụ được hàng hoá để thu hồi vốn. Ngân hàng tài
trợ trong trường hợp này có thể sử dụng các chứng từ hàng hoá làm vật đảm
bảo. Đây cũng chỉ là việc tài trợ cho các mục tiêu thanh toán ngắn hạn của
ngân hàng dành cho các nhà nhập khẩu.
Tín dụng theo phương thức chi trả trực tiếp
Theo hình thức này sau khi nhà nhập khẩu kí hợp đồng mua bán hàng với
nhà xuất khẩu nước ngoài nếu họ không có đủ tiền họ có thể xin vay ngân
hàng theo phương thức đề nghị ngân hàng gửi chuyển trả tiền cho người xuất
khẩu thông qua ngân hàng đại lý ở nước ngoài.
Nhiều khi nhà nhập khẩu có đủ tiền họ cũng sử dụng hình thức chuyển
tiền. Nhưng trường hợp này ngân hàng không phải cung cấp tín dụng cho
nhà nhập khẩu mà chỉ thực hiện hình thức dịch vụ thông thường và thu phí
dịch vụ.
Qui trình tín dụng theo phương thức chi trả trực tiếp (3) (5)
(2) (6) (4)
(1)
(1) Giao dịch hàng hoá giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu
(2) Nhà nhập khẩu viết đơn yêu cầu chuyển tiền
(3) Ngân hàng nhà nhập khẩu chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng đại
doanh nghiệp xuất nhập khẩu và của xã hội.
* Xét trên giác độ hoạt động kinh doanh của ngân hàng: chất lượng
tín dụng xuất nhập khẩu là khoản tín dụng tài trợ cho xuất nhập khẩu được
bảo đảm an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dụng
của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân
hàng và với chi phí nghiệp vụ thấp nhất tăng khả năng cạnh tranh của ngân
hàng trên thị trường, làm lành mạnh các quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển.
* Xét trên giác độ lợi ích của khách hàng (các doanh nghiệp hoạt
động xuất nhập khẩu): thì khoản tín dụng có chất lượng là cung cấp đầy
đủ, kịp thời và phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi xuất và
thời hạn hợp lí, thủ tục đơn giản thuận tiện thu hút được khách hàng, góp
phần tích cực đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng.
* Xét trên toàn bộ nền kinh tế: khoản tín dụng xuất nhập khẩu có chất
lượng là phải hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu một cách thiết thực, góp
phần thúc đẩy, sản xuất, lưu thông hàng hoá xuất nhập khẩu, giải quyết công
ăn việc làm, góp phần xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế, khai thác khả
năng tiềm tàng về xuất nhập khẩu của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ
và tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu, giải quyết tốt mối
quan hệ tăng trưởng tín dụng xuất nhập khẩu và tăng trưởng hoạt động kinh
tế đối ngoại. Qua đây ta thấy rằng, chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng xuất
nhập khẩu nói riêng là một khái niệm mang tính tương đối vừa cụ thể (biểu
hiện thông qua các chỉ tiêu định lượng như dư nợ tín dụng, nợ quá hạn, nợ
khó đòi ) vừa trìu tượng (biểu hiện thông qua các chỉ tiêu định tính như khả
năng thu hút khách hàng, giải quyết công ăn việc làm, phát triển kinh tế đối
ngoại ). Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu không chỉ vô cừng quan trọng
vối ngân hàng mà còn cả với doanh nghiệp và xã hội.
Doanh số cho vay trong kì
* Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ trong kì
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tổ chức, quản lí vốn tín dụng, đồng thời
thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng trong việc sử dụng hiệu quả
nguồn vốn tín dụng và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Để có thể đánh giá
chính xác chất lượng tín dụng, các tiêu chuẩn tính toán cần phải đồng nhất
trong việc áp dụng đối với từng loại cho vay cụ thể.
* Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ : Nợ quá hạn là những khoản nợ
đã đến hạn thanh toán nhưng khách hàng chưa trả được. Ngân hàng có chỉ
tiêu nợ quá hạn trên tổng dư nợ càng thấp khả năng gặp rủi ro càng thấp chất
lượng tín dụng càng cao. Chỉ tiêu này lại chia ra hai chỉ tiêu cụ thể hơn:
Nợ quá hạn từ 6-12 tháng
Tỉ lệ nợ quá hạn khê đọng =
Tổng dư nợ
Đây là một trong những chỉ tiêu định lượng quan trọng nhất phản ánh
chất lượng tín dụng của khoản tín dụng. Nếu tỉ lệ này càng cao mà ngân
hàng không có biện pháp xử lí kịp thời thì khả năng tổn thất của ngân hàng
càng lớn.
Nợ quá hạn từ 12 tháng trở lên
Nợ quá hạn khó đòi =
Tổng dư nợ
Nếu tỉ lệ này cao có nghĩa là ngân hàng không những phải chịu rủi ro
tín dụng cao, chất lượng tín dụng kém mà còn có nguy cơ mất khả năng
thanh toán bởi việc đòi nợ các khoản vay này là rất khó khăn. Một khoản tín
dụng có chất lượng cao thì tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi phải thấp.
1.2.2.2.Nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
Đối với tín dụng xuất nhập khẩu để đánh giá chất lượng của nó thông
những chỉ tiêu định lượng, ta còn phải chú trọng tới cả những chỉ tiêu định
tính như về quan hệ hợp tác, khả năng mở rộng tín dụng
Với những chỉ tiêu trên đây ta mới chỉ có thể xem xét được khoản tín
dụng xuất nhập khẩu có chất lượng tốt hay chưa. Nhưng vấn đề đặt ra không
phải chỉ dừng lại ở đó mà là phải tìm ra các giải pháp để khắc phục các hạn
chế và phát huy những mặt mạnh nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho
hoạt động sau này. Tức là ta cần phải nắm bắt được các nhân tố tác động
đến chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng xuất
nhập khẩu
1.2.3.1. Các nhân tố từ phía ngân hàng
Các nhân tố từ phía ngân hàng được xem là các nhân tố chủ quan, bởi
nó là yếu tố nội tại trong ngân hàng và có tác động một cách trực tiếp đến
chất lượng hoạt động ngân hàng nói chung và chất lượng hoạt động tín dụng
xuất nhập khẩu nói riêng. Các nhân tố này bao gồm: chính sách tín dụng, công tác huy dộng vốn, công tác tổ chức của ngân hàng, trình độ, năng lực
của đội ngũ cán bộ, qui trình nghiệp vụ tín dụng, hoạt động, kiểm tra, kiểm
soát nội bộ, trang thiết bị và sự phối hợp giữa các phòng ban liên quan
* Chính sách tín dụng: Bao gồm các chủ trương, đường lối đảm bảo
cho hoạt động tín dụng đi đúng mục tiêu của ngân hàng đồng thời tuân thủ
tốt qui định của Chính phủ, NHNN, nó có liên qua đến việc mở rộng hay thu
hẹp tín dụng, thay đổi cơ cấu tín dụng trong từng thời kỳ và có ý nghĩa quyết
định sự thành bại của một ngân hàng. Bất cứ một ngân hàng nào muốn có
được chất lượng tín dụng cao đều phải có chính sách tín dụng phù hợp với
điều kiện của ngân hàng, phải căn cứ vào đòi hỏi của thị trường.
* Công tác huy động vốn: Huy động vốn đối với ngân hàng được coi
như hoạt động cung cấp đầu vào cho sản xuất để tạo ra sản phẩm đầu ra ở
các doanh nghiệp. Nếu nguồn vốn không được huy động đầy đủ về số lượng
Xét đề nghị vay của khách hàng và thực hiện cho vay: Giai đoạn
này chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào công tác thẩm
định khách hàng và việc chấp hành các qui định về điều kiện và thủ tục cho
vay của ngân hàng.
Kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và theo dõi dự báo
rủi ro: việc thiết lập hệ thống kiểm tra hữu hiệu, áp dụng có hiệu quả các
hình thức kiểm tra sẽ góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng tín dụng.
Thu nợ và thanh lí: Sự linh hoạt của cán bộ tín dụng xuất nhập
khẩu của ngân hàng trong khâu thu nợ sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro và
hạn chế nợ qua hạn, bảo toàn vốn và nâng cao chất lượng tín dụng cho xuất
nhập khẩu.
* Thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng là hết sức cần thiết, nó là cơ
sở để xem xét quyết định cho vay và theo dõi, quản lí khoản cho vay. Thông
tin tín dụng xuất nhập khẩu có thể thu được từ nhiều nguồn khác nhau như:
hồ sơ vay vốn của khách hàng, nguồn số liệu thống kê của Tổng cục thống
kê, số liệu của Bộ thương mại về tình hình xuất nhập khẩu của các đơn vị,
doanh nghiệp hay điều tra trực tiếp tại các cơ sở Chất lượng tín dụng chỉ
có thể được nâng cao khi ngân hàng có những nguồn thông tin đầy đủ, chính
xác, kịp thời để dự đoán và đề ra các biện pháp ngăn ngừa phòng chống rủi
ro.
* Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Chất lượng tín dụng xuất nhập
khẩu phụ thuộc vào việc chấp hành những qui chế, thể lệ, chính sách và mức
độ kịp thời phát hiện sai sót cũng như những nguyên nhân dẫn đến sai sót
lệch lạc trong quá trình thực hiện các khoản tín dụng.
* Trang thiết bị phục vụ hoạt động tín dụng: Trang thiết bị tuy
không là yếu tố cơ bản nhưng nó góp phần không nhỏ trong việc nâng cao
chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nó là công cụ, phương tiện thực hiện tổ
chức, quản lí, kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Đặc biệt với sự phát triển nhanh
của công nghệ thông tin hiện nay các trang thiết bị tin học đã giúp cho ngân
hàng có được thông tin về các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, thị trường