Giải pháp mở rộng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Thái Nguyên pot - Pdf 15

Bài Luận
Giải pháp mở rộng tín dụng
tại Ngân hàng TMCP Á Châu đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn
thành phố Thái Nguyên
-1-
MỤC LỤC
DANH MỤC QUY ƯỚC VIẾT TẮT 2
DANH MỤC BẢNG 3
DANH MỤC BIỂU 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA 7
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 30
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU xlviii
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU lxi
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ MỞ RỘNG TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI ACB THÁI NGUYÊN xc
DANH MỤC QUY ƯỚC VIẾT TẮT
ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
ACB Thái Nguyên Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, Chi nhánh Thái
Nguyên
NHNN Ngân hàng nhà nước
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
BP Bộ phận
-2-
CP Cổ phần
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
NHTM Ngân hàng thương mại
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU

dò tìm hiểu thị trường, mặt khác phải nhanh chóng khai thác lợi thế công nghệ, sản
phẩm, thương hiệu để chiếm lĩnh thị phần.
Xác định đối tượng khách hàng chính của mình là doanh nghiệp nhỏ và vừa,
tuy nhiên các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thái Nguyên đa phần là đang có quan hệ
với một hoặc nhiều ngân hàng thương mại khác trên địa bàn, tài sản bảo đảm ít hoặc
đã thế chấp tại ngân hàng khác, nên thường không đáp ứng đủ điều kiện cấp tín
dụng tại ACB. Vì thế để nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường, tiếp cận và xây
dựng mối quan hệ với khách hàng mục tiêu, thì cần có nghiên cứu để chỉ ra những
vướng mắc, tồn tại và đề ra các giải pháp để tháo gỡ. Chính vì lẽ đó đề tài: “Giải
pháp mở rộng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa trên địa bàn thành phố Thái Nguyên” được chọn để thực hiện.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu chung
Đề tài này được nghiên cứu nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng
tiếp cận vốn vay tại Ngân hàng Á Châu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để từ đó
đưa ra các giải pháp giúp ngân hàng có thể đưa ra được các sản phẩm và chính sách
phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn, mặt khác cũng giúp doanh
nghiệp có thể tiếp cận vốn vay dễ dàng hơn, để doanh nghiệp có thể mở rộng quy
mô, đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh…giúp doanh nghiệp phát triển.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Phân tích thực trạng tiếp cận tín dụng và xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Thái
Nguyên
- Xác định những khó khăn, vướng mắc trong việc cấp tín dụng cho doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại ACB
- Đề xuất các giải pháp để tăng khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng cho
doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế các tiêu cực có thể có.
3. Câu hỏi nghiên cứu
- ACB đã là gì để tiếp cận nhu cầu vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
Thái Nguyên

6. Ý nghĩa của đề tài
-6-
Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, áp dụng
trong điều kiện thực tế hiện nay, cụ thể gồm những đối tượng chủ yếu sau:
- Giúp ACB có cái nhìn tổng quan về thị trường tín dụng cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại Thái Nguyên
- Nhìn ra được điểm mạnh và điểm yếu của ACB để từ đó có được những
giải pháp hiệu quả để mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Thái Nguyên tham
khảo để dễ dàng đáp ứng được các tiêu chí cấp tín dụng của ACB.
- Là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu có quan tâm đến chủ đề này
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Tín dụng ngân hàng và đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và giải pháp mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – Chi nhánh Thái Nguyên
CHƯƠNG 1: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ ĐẶC ĐIỂM
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng
1.1.1. Khái niệm
Đây là hình thức tín dụng rất quan trọng và là quan hệ tín dụng chủ yếu giữa
ngân hàng và các doanh nghiệp. Nó là hình thức mà các quan hệ tín dụng được thực
hiện thông qua vai trò trung tâm của ngân hàng. Nó đáp ứng phần lớn nhu cầu tín
-7-
dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân. Theo đà phát triển của nền kinh tế, hình
thức tín dụng thương mại ngày càng trở thành hình thức chủ yếu không chỉ ở trong
nước mà còn trên trường quốc tế. Về cơ bản, trong các NHTM hiện nay tín dụng

- Huy động vốn và cho vay vốn đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ; đã có rất
nhiều hình thức vật ngang giá được sử dụng trong quá trình trao đổi nhưng tiền tệ là
phát minh vĩ đại nhất của con người khi nó đóng vai trò làm vật ngang giá trong quá
trình trao đổi thúc đẩy lưu thông và được sử dụng mặc nhiên và phổ biến cho tới
thời điểm hiện nay tại mỗi quốc gia.
- Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho
vay; trong quan hệ tín dụng cũ bên cho vay và bên đi vay phải tự tìm kiếm nhau và
đưa ra các điều kiện trao đổi điều này phát sinh rất nhiều rắc rối về thời gian, thủ
tục, chi phí, độ rủi ro, tính linh hoạt và làm tăng tần suất gặp gỡ theo cấp số nhân …
từ những bất cập đấy các trung gian tài chính đã ra đời như một tất yếu để hỗ trợ
người đi vay và cho vay.
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn
phù hợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa; ngân hàng có các
mục tiêu, kế hoạch phát triển riêng và tập trung vào các phân khúc khách hàng khác
nhau từ đó dẫn tới các hoạt động phát triển tín dụng đôi khi không gắn với quy mô
sản xuất và lưu thông hàng hóa. Trên thực tế, ở Việt Nam thời gian qua tín dụng phi
sản xuất của Việt Nam đã tăng trưởng vượt bậc tạo ra sự biến tăng trưởng nóng của
các ngành bất động sản, chứng khoán, vàng, …. Và từ đó kéo theo nhiều hệ lụy cho
nền kinh tế.
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các
chủ thể trong nền kinh tế. Ngân hàng là một định chế tài chính chuyên nghiệp với
các quy định chặt chẽ về các chỉ tiêu nghiệp vụ, định hướng phát triển tốt và là nhà
tài trợ chính cho mọi hoạt động của nền kinh tế. Thông qua ngân hàng vốn được
đưa từ các cá nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi sang các cá nhân, tổ chức đang thiếu
vốn. Cũng xuất phát từ nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế nên các ngân hàng cần phải
mở rộng quy mô vốn, từ đó ngày càng thúc đẩy việc tích tụ, tập trung vốn mạnh mẽ
-9-
của ngân hàng thông qua việc tăng vốn, tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại, liên doanh,
liên kết, nhận ủy thác ….
1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội

thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng. Đặc điểm của loại cho
vay này là mỗi khi phát sinh nhu cầu vay vốn khách hàng phải tiến hành thủ tục làm
đơn xin vay kèm theo các chứng từ, hóa đơn xin vay để cán bộ tín dụng kiểm tra đối
tượng vay đối với từng hồ sơ cụ thể.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: HMTD là số dư nợ cho vay cao nhất mà
ngân hàng cam kết cho khách hàng vay có hiệu lực trong một thời gian nhất định.
HMTD được xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn của khách hàng và khả năng đáp
ứng của ngân hàng. Khi được ngân hàng ấn định HMTD thì khách hàng được quyền
vay vốn trong phạm vi HMTD đó.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu
tư phuc vụ đời sống.
- Cho vay trả góp: Cho vay trả góp các doanh nghiệp nhỏ, hộ gia đình
thường được áp dụng cho khách hàng vay vốn là cá nhân, gồm những người buôn
bán nhỏ, thợ thủ công không có nhiều vốn hoặc những cá nhân có nhu cầu vay vốn
để xây nhà, sửa chữa nhà, mua sắm phương tiện…Theo phương thức này, ngân
hàng và khách hàng có thoả thuận mức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay
và số kỳ hạn trả góp để xác định một HMTD trả góp trong suốt thời hạn vay.
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín
dụng làm đầu mối giàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Thấu chi là một kỹ thuật cấp tín dụng của
ngân hàng cho khách hàng, theo đó Ngân hàng sẽ cho phép khách hàng chi vượt số
-11-
dư có trên tài khoản thanh tốn của khách hàng để thực hiện các giao dịch thanh tốn
kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Đối với
những khách hàng thỏa mãn điều kiện của ngân hàng phát hành thẻ tín dụng, sau
khi ký hợp đồng tín dụng thẻ với ngân hàng, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một
thẻ tín dụng với một số tiền được cài sẵn trong bộ nhớ theo HMTD đã được hai bên

xuất kinh doanh của mình.
- Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lãi vay theo đúng thời
hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng: Nguyên tắc này đề ra nhằm đảm bảo cho
các ngân hàng thương mại tồn tại và hoạt động bình thường. Bởi nguồn vốn cho vay
của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động. Ðó là một bộ phận tài sản của các
sở hữu chủ mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng, ngân hàng phải có nghĩa vụ
đáp ứng các nhu cầu rút tiền của khách hàng mà họ yêu cầu. Nếu các khoản tín
dụng không được hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn
trả của ngân hàng.
- Việc bảo đảm tiền vay phải thực hiện theo qui định của chính phủ: Quá
trình cung ứng vốn tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế
sẽ làm tăng sức mua của xã hội, làm tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, làm
tăng áp lực đối với lượng hàng hoá ở trên thị trường. Ngoài ra do tính chất vận động
của vốn tín dụng là gắn liền với sự vận động của vật tư hàng hoá, gắn liền với hoạt
động sản xuất kinh doanh của các đơn vị. Do đó cần thực hiện nguyên tắc bảo đảm
giá trịvật tư hàng hoá tương đương cho những khoản tín dụng đang thực hiện. Bảo
đảm tiền vay có thể thực hiện bằng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba,
hoặc bảo đảm bằng chính tài sản được tạo ra do sử dụng vốn vay hoặc bảo đảm
bằng tín chấp.
1.1.5.2. Điều kiện thủ tục cho vay
- Ðịa vị pháp lý của khách hàng vay vốn: Khách hàng vay vốn phải có năng
lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo Luật dân sự.
- Có khả năng tài chính và trả nợ đúng hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký.
-13-
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có tài liệu chứng minh khả năng sử dụng vốn vay phù hợp với qui định của
pháp luật (ví dụ như có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt) và khả
năng hoàn trả vốn vay.
1.1.5.2. Đảm bảo tiền vay
- Hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn rủi ro, để đảm bảo an toàn hiệu quả trong

dụng và kỳ hạn nợ, tài sản đảm bảo, phương thức giải ngân và thanh toán. Thủ tục
xin vay vốn có phức tạp hay đơn giản, thời gian thẩm định hồ sơ vay vốn kéo dài
bao lâu, nếu thời gian thẩm định quá dài thì doanh nghiệp sẽ lỡ mất cơ hội và sẽ tìm
tới các ngân hàng khác.
Trình độ, thái độ cán bộ tín dụng của ngân hàng cũng mang tính quyết định
thành công của cho vay doanh nghiệp. Cán bộ tín dụng cần có trình độ chuyên môn
tốt thì mới thẩm định chính xác khách hàng và dự án vốn, từ đó đưa ra các quyết
định đúng đắn. Cán bộ tín dụng cũng cần có đạo đức nghề nghiệp, tận tâm với công
việc, nhiệt tình giúp đỡ, chi bảo khách hàng các thủ tục cần thiết.
Muốn hoạt động cho vay doanh nghiệp được nhiều khách hàng biết tới thì
ngân hàng cần có chính sách marketing phù hợp. Ngân hàng cần tăng cường các
hoạt động thông tin quảng cáo trên báo đài, tờ rơi, quảng bá hình ảnh của các hoạt
động thông tin quảng cáo trên báo đài, tờ rơi, quảng bá hình ảnh của Ngân hàng nói
chung cũng như lợi ích, chính sách về cho vay doanh nghiệp.
Công nghệ ngân hàng và khả năng quản lý có tác động tới hoạt động cho vay
doanh nghiệp. Nếu ngân hàng có công nghệ hiện đại sẽ dấn tới việc giải quyết các
thủ tục được nhanh chóng, chính xác, giảm bớt các thủ tục rườm rà cho khách hàng
và việc quản lý hồ sơ doanh nghiệp cũng được thuận tiện hơn. Bên cạnh vấn đề về
công nghệ, ngân hàng cần có các quy định, nội quy làm việc thưởng phạt nghiêm
minh, quản lý tốt để tạo động lực làm việc cho cán bộ nhân viên ngân hàng, tác
động đến phong cách làm việc của nhân viên.
-15-
Tất cả các nhân tố vi mô nói trên đều là những nhân tố thuộc về nội tại ngân
hàng có tác động tới cho vay doanh nghiệp. Ngoài những nhân tố đó còn phải kể tới
nhân tố khách quan bên ngoài ngân hàng cũng ảnh hưởng tới cho vay doanh nghiệp,
đó là lịch sử hoạt động của doanh nghiệp cũng như rủi ro của hoạt động cho vay.
1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo luật doanh nghiệp 2005 thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy

Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây
là cơ sở pháp lý để Chính phủ thành lập quỹ Bảo lãnh tín dụng DNNVV và các quỹ
Phát triển DNNVV để tài trợ kinh phí cho các chương trình, dự án trợ giúp nâng cao
năng lực cạnh tranh, năng lực kỹ thuật cho doanh nghiệp. Nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho DNNVV vay vốn, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quy chế bảo
lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại các ngân hàng thương mại. Theo đó,
các DNNVV có thể được Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh vay vốn với mức
phí bảo lãnh chỉ bằng 0,5% số tiền được bảo lãnh trong các lĩnh vực như: (i) Nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; (ii) Công nghiệp chế biến, chế tạo; (iii) Sản xuất
khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; (iv) Cung cấp nước, hoạt động
quản lý và xử lý rác thải, nước thải; (v) Xây dựng; (vi) Sửa chữa ôtô, mô tô, xe máy
và xe có động cơ khác và (vii) vận tải, kho bãi.
Chính sách tiền tệ của NHNN có tác động đến hai biến số kinh tế chủ yếu là
cung tiền và mức lãi suất. Theo lý thuyết tiền tệ, thì mức cung tiền có liên quan trực
tiếp với mức hoạt động kinh tế. Nghĩa là, số cung tiền nhiều hơn khuyến khích hoạt
động kinh tế mở rộng, vì tạo cho dân chúng có khả năng mua hàng hóa và dịch vụ
nhiều hơn. Những người ủng hộ lý thuyết này cho rằng bằng cách kiểm soát nguồn
cung tiền, chính phủ có thể điều hòa hoạt động kinh tế và kiểm soát lạm phát. Theo
lý thuyết Keynes, số cung tiền mở rộng sẽ làm tăng khả năng có những quỹ tiền tệ
cho vay. Số cung tiền vượt quá số cầu, sẽ dẫn đến lãi suất giảm. Lãi suất giảm, đến
lượt nó, sẽ khuyến khích những người kinh doanh mở rộng đầu tư của họ. Đầu tư
tăng làm tăng tổng cầu, dẫn đến hoạt động kinh tế ở mức cao hơn, tạo nhiều công ăn
việc làm hơn. Tương tự, thời kỳ có tổng cầu tăng quá mức dẫn đến lạm phát, chính
-17-
phủ theo đuổi chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm hạn chế tổng cầu bằng cách giảm
cung tiền, tăng lãi suất và do đó đưa lại mức đầu tư thấp hơn với kỳ vọng lạm phát
giảm. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách tiền tệ có tác động mạnh mẽ
tới việc tiếp cận vốn, việc vay vốn và chi phí vốn vay của doanh nghiệp.
Lãi vay ngân hàng, Trong quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và Ngân
hàng, lãi suất cho vay phản ánh giá cả của đồng vốn mà người sử dụng vốn là các

Cải cách các thủ tục hành chính của chính phủ, Thực tế chứng minh
không phải mọi khâu chậm trễ đều ở các cơ quan chủ quản, mà ở những khâu trung
gian. Vì vậy, nếu không cải cách thủ tục hành chính thì các DNNVV, hộ kinh doanh
vẫn còn tiếp tục gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn. Hiện nay, Chính phủ đang
thúc đẩy nhanh việc cải cách thủ tục hành chính, ít nhất là 30% để các DNNVV
thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn vốn.
Cơ chế, chính sách cho vay của ngân hàng, khi các ngân hàng có chủ
trương đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng thì sẽ tìm các giải pháp thúc đẩy việc này,
đồng thời các quy trình thủ tục cho vay sẽ được xem xét nhanh chóng … điều này
sẽ có lợi cho việc tiếp cận vốn của các doanh nghiệp. Tuy nhiên trong trường hợp
ngược lại, khi ngân hàng muốn giảm việc tăng trưởng tín dụng, tăng cường thu hồi
nợ họ sẽ đưa ra hàng loạt các biện pháp để triển khai và vô hình sẽ cản trở việc
tiếp cận vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.2.4. Các chỉ tiêu tài chính đánh giá khả năng tiếp cận vốn vay của doanh
nghiệp
1.2.4.1. Nhóm chỉ tiêu về thanh khoản
Khả năng thanh toán được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tài sản ngắn
hạn chuyển đổi thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn.
Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn.
Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được
nghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng
không đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ
-19-
bị phá sản vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn.
Tỷ lệ này cho phép hình dung ra chu kì hoạt động của công ty xem có hiệu
quả không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành tiền mặt có tốt không. Nếu công ty
gặp phải rắc rối trong vấn đề đòi các khoản phải thu hoặc thời gian thu hồi tiền mặt
kéo dài, thì công ty rất dễ gặp phải rắc rối về khả năng thanh khoản.
Theo công thức trên, khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ là tốt nếu tài
sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chuyển dịch theo xu hướng tăng lên và nợ ngắn

thành tiền mặt. Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư
bình quân các khoản phải thu trong kỳ.
Khoản tiền phải thu từ khách hàng là số tiền mà khách hàng hiện tại vẫn còn
chiếm dụng của doanh nghiệp. Chỉ đến khi khách hàng thanh toán bằng tiền cho
khoản phải thu này thì coi như lượng vốn mà doanh nghiệp bị khách hàng chiếm
dụng mới không còn nữa.
Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của
doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt
cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động
trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Ngược lại, nếu hệ số này càng
thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ
ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn
vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài
trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này.
Từ chỉ số vòng quay các khoản phải thu ta tính được hệ số ngày thu tiền bình
quân bằng cách lấy số ngày trong kỳ chia cho vòng quay các khoản phải thu. Ngược
-21-
lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số ngày thu tiền bình quân càng
nhỏ thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp càng nhanh.
Trong mỗi ngành khác nhau thì chỉ số này cũng khác nhau và để đánh giá
hiệu quả quản lý của doanh nghiệp, cần so sánh hệ số ngày thu tiền bình quân với số
ngày thanh toán cho các khoản công nợ phải thu mà doanh nghiệp đó quy định.
Hệ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài
sản của công ty. Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng
tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra. Công thức tính Hệ số vòng quay
tổng tài sản như sau:
Hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản
của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả.
Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng

doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Công thức tính tỷ số tổng nợ
trên tổng tài sản như sau:
Thông thường các chủ nợ muốn tỷ số nợ trên tổng tài sản vừa phải vì tỷ số
này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị
phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp lại muốn tỷ số này cao vì họ
muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Tỷ số
này cao thể hiện sự bất lợi đối với các chủ nợ nhưng lại có lợi cho chủ sở hữu nếu
đồng vốn được sử dụng có khả năng sinh lợi cao. Tuy nhiên, nếu tỷ số tổng nợ trên
tổng tài sản quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
-23-
1.2.4.4. Nhóm chỉ tiêu thu nhập
Hệ số biên lợi nhuận trước thuế phản ánh khoản thu nhập trước thuế (lợi
nhuận trước thuế) của một doanh nghiệp so với doanh thu.
Hệ số biên lợi nhuận trước thuế cũng như mức ổn định của nó giữa các
ngành khác nhau là khác nhau. Mức ổn định của hệ số biên lợi nhuận trước cũng
phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế. Thông thường, các doanh nghiệp được quản lý tốt
đạt được mức lợi nhuận trước thuế tương đối cao hơn vì các doanh nghiệp này quản
lý các nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn. Hệ số biên lợi nhuận trước thuế được
nhiều nhà phân tích tài chính ưa chuộng hơn hệ số biên lợi nhuận sau thuế (hệ số
biên lợi nhuận ròng) vì hệ số biên lợi nhuận trước thuế thể hiện khả năng sinh lời
thực tế hơn mà không gặp phải rắc rối vì các loại thuế.Xét từ góc độ nhà đầu tư, một
doanh nghiệp sẽ ở vào tình trạng thuận lợi nếu có hệ số biên lợi nhuận trước thuế
cao hơn hệ số biên lợi nhuận trước thuế trung bình của ngành và, nếu có thể, có hệ
số biên lợi nhuận trước thuế liên tục tăng. Ngoài ra, một doanh nghiệp càng giảm
chi phí của mình một cách hiệu quả - ở bất kỳ doanh số nào - thì hệ số biên lợi
nhuận trước thuế của nó càng cao.
ROA, Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công
ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng
tài sản để kiếm lời. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài
sản, thể hiện bằng con số phần trăm. Công thức tính như sau:

năng trả lãi như thế nào. Nếu công ty quá yếu về mặt này, các chủ nợ có thể đi đến
gây sức ép lên công ty, thậm chí dẫn tới phá sản công ty. Hệ số khả năng thanh toán
lãi vay được tính bằng tỷ số giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) trên lãi
vay:
-25-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status