HIV là gì? Sổ tay dành cho nhân viên y tê - Pdf 15

HIV là gì?
HIV là gì?
Sổ tay dành cho nhân viên y tế
ashm
Hiệp Hội Y Khoa HIV Australia
Biên tập: Arun Menon
Adeeba Kamarulzaman
HIV là gì? Sổ tay dành cho nhân viên y tế
Hội Y khoa HIV Australia xuất bản (ASHM)
Địa chỉ: Locked Bag 5057, Darlinghurst NSW 1300
Điện thoại: (61) (02) 8204 0700 | Fax: (61) (02) 9212 2382
Email: | Website: www.ashm.org.au
TREAT Asia
Địa chỉ: Đường 388 Sukhumvit, Suite 2104
Klongtoey, Băng Cốc 10110, Thái Lan
Điện thoại: (66) 2 663 7561 | Fax: (66) 2 663 7562
Website: www.treatasia.org
Biên tập: Arun Menon, Adeeba Kamarulzaman
Giám đốc sản xuất: Duc M Nguyen (2009)
Giám đốc chương trình quốc tế ASHM: Edward Reis
Thiết kế: Rahim Ahmad, Shehana Mohammed
Sửa bản in: Mary Sinclair, Annette H Sohn, Victoria Fisher
Phụ lục: Rahim Ahmad
Nhà in: công ty tiếp thị KP Marketing
Nhà tài trợ: Hội Y khoa HIV Australia với sự hỗ trợ của AusAID, Đại học Malaya và Quỹ trợ giúp giáo
dục Sdn Bhd của Pfizer Malaysia.
HIV là gì? Sổ tay dành cho nhân viên y tế
Darlinghurst, NSW: Hôi Y khoa HIV Australia, 2009
ISBN 978-1-920773-73-1
Bao gồm phụ lục
© Hiệp hội Y khoa HIV Australia 2009

Chương 2 Chuyển đảo huyết thanh HIV 9
Tan Lian Huat
Chương 3 Bệnh lý hô hấp liên quan HIV 15
Rossana A. Ditangco
Chương 4 Bệnh lý thần kinh liên quan HIV 20
Subsai Kongsaengdao, Arkhom Arayawichanont,
Kanoksri Samintarapanya, Pichai Rojanapitayakorn
Chương 5 HIV và bệnh lây truyền qua đường tình dục 28
Arvin Chaudhary
Chương 6 Bệnh lý tiêu hóa và miệng liên quan HIV 32
Yee Tak Hui
Chương 7 Bệnh lý mắt liên quan đến HIV 46
Tajunisah Iqbal
Chương 8 Bệnh lý huyết học liên quan HIV 52
Poh-Lian Lim
Chương 9 Bệnh lý da liên quan HIV 57
Veronica A Preda, Margot J Whitfeld
Chương 10 Viêm gan liên quan HIV 66
Sanjay Pujari
Chương 11 Nhiễm HIV ở trẻ em 73
Nia Kurniati
Chương 12 Nhiễm HIV tại các cơ sở sản phụ khoa 78
Surasith Chaithongwongwatthana, Waralak Yamasmit
Chương 13 Nhiễm HIV ở người tiêm chích ma túy 81
Rachel Burdon
Chương 14 Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV 86
Kamal Kishore, Philip Cunningham, Arun Menon
Chương 15 Tư vấn và xét nghiệm HIV 93
Joanne Cohen, Jacinta M Ankus
Danh mục từ và thuật ngữ (Index) 100

đính, các cộng tác viên và các cá nhân, tổ chức liên quan.
Năm 1993 ASHM đã từng xuất bản một ấn phẩm tương tự tại Australia “Đó có phải là HIV?”. Cuốn sách là tài liệu
tin cậy hỗ trợ các bác sỹ lâm sàng trong việc chẩn đoán phân biệt các nhiễm trùng cơ hội trong HIV. Cuốn sách
được Tạp chí Y khoa Australia phát hành và được tái bản năm 1994. Năm 2002 ASHM thay đổi hình thức cuốn
sách khi phát hành cuốn “HIV, Viêm gan virus và Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Hướng dẫn chăm sóc ban
đầu”. Đây là tài liệu cơ bản trong các chương trình giảng dạy lâm sàng của chúng tôi.
Năm 2002 ASHM tổ chức khóa học ngắn hạn về HIV quy mô vùng đầu tiên tại Sydney, khi đó nhu cầu cần phát
triển tài liệu lâm sàng phù hợp với khu vực đã được thảo luận với TREAT Asia trong hội nghị của ASHM tại Cairns
năm 2003.
Cuốn sách là kết quả của quá trình cộng tác thực sự giữa các bên liên quan. Việc cuốn sách được xuất bản không
thể không kể đến đóng góp của rất nhiều hội viên ASHM và thành viên của của mạng lưới TREAT Asia.
Chúng tôi tin tưởng rằng, cuốn sách này sẽ hỗ trợ hoạt động đào tạo các nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vực
HIV tại khu vực châu Á và Thái Bình Dương, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người đang
công tác trong lĩnh vực này. Chúng tôi cũng hi vọng rằng nó sẽ là chất xúc tác khởi đầu cho các hoạt động và các
chương trình hợp tác trong tương lai nhằm hỗ trợ và giúp đỡ nhân viên y tế cung cấp các dịch vụ điều trị và chăm
sóc tối ưu nhất cho những người đang chung sống với HIV.
Levinia Crooks
Giám đốc điều hành
Hội Y khoa HIV Australia
Annette H Sohn
Giám đốc
TREAT Asia
HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
4
HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
5
LỜI GIỚI THIỆU
Với sự quan tâm của Chính phủ và Bộ Y tế, cùng với sự hỗ trợ của các dự án điều trị HIV/AIDS

Mở đầu
Patrick Chung Ki LI
Khoa Y, Bệnh viện Queen Elizabeth, Đặc khu Hồng Kông, Trung Quốc
Yi-Ming Arthur Chen
Giáo sư, Viện Vi sinh và Miễn dịch học. Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và
Phòng chống AIDS, Đại học Quốc gia Yang-Ming, Đài Bắc, Đài Loan
Mục tiêu của cuốn sách này là tăng cường
nhận thức của nhân viên y tế và giúp họ làm
quen với các biểu hiện lâm sàng của các bệnh
lý liên quan đến virút gây suy giảm miễn dịch ở
người (HIV), từ đó có thể nhận biết được các
trường hợp nghi nhiễm HIV để chỉ định xét
nghiệm phù hợp.
Theo ước tính của Chương trình Phối hợp của Liên
Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) và Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) có khoảng 4,9 triệu người sống
chung với HIV ở khu vực châu Á năm 2007, trong
đó có 440.000 trường hợp mới bị nhiễm virus trong
năm 2007. Ở khu vực Thái Bình Dương, ước tính
có 75.000 người sống chung với virus trong đó có
14.000 trường hợp mới nhiễm trong năm 2007. Ở
vùng này, Papua New Guinea (PNG) là nơi chịu
ảnh hưởng nhiều nhất chiếm hơn 70% số trường
hợp nhiễm HIV ở khu vực Thái Bình Dương.
1
Phần lớn các trường hợp nhiễm HIV không biết về
tình trạng nhiễm của mình và chỉ đến các cơ sở y
tế khi bệnh đã ở giai đoạn bệnh tiến triển, khi đáp
ứng với điều trị không được tốt
2,3

mại dâm. Hiện nay, tỷ lệ nhiễm HIV ở 2 nhóm
đối tượng này ở châu Á đã lên đến hơn 10% và
ở một số thành phố tỉ lệ này là hơn 60%.
1
HIV
đã thực sự xâm nhập vào châu Á và tiếp tục
lây lan mạnh trong khu vực.
Đại dịch HIV ở khu vực châu Á - Thái Bình
Dương phản ánh sự đa dạng liên quan đến các
vấn đề về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và điều
kiện kinh tế xã hội cũng như mức độ hạ tầng y
tế. Với việc lây truyền chủ yếu qua đường quan
hệ tình dục khác giới, tỷ lệ nhiễm của phụ nữ
cao hơn so với ở các nước phương Tây và ở
nhiều quốc gia số trẻ em sinh ra nhiễm HIV
ngày càng tăng. Hậu quả của nhiễm HIV ở gái
mại dâm và các khách hàng thường xuyên của
họ là HIV đã vượt ra ngoài các nhóm có hành
vi nguy cơ và lây lan vào cộng đồng.
Trong những năm qua, các khu vực đã chứng
kiến sự gia tăng đột biến các ca nhiễm HIV ở
những người đồng tính nam.
4
Ví dụ, báo cáo tình
hình quốc gia của Thái Lan tại phiên họp đặc biệt
của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc (UNGASS) cho
thấy phần lớn các ca nhiễm HIV mới ở Thái Lan
xảy ra ở các cặp vợ/chồng của người nhiễm HIV
cũng như ở những người đồng tính nam.
5

trạng nhiễm HIV không dẫn đến sự phân biệt, đối
xử đối với người bệnh.
Bệnh cảnh lâm sàng của nhiễm HIV tiên phát
thường là sốt, xảy ra khoảng 2-4 tuần sau khi phơi
nhiễm. Các triệu chứng có thể bao gồm phát ban
ngoài da, đau cơ, mệt mỏi, đau họng, tiêu chảy,
nổi hạch, gan lách to, và đôi khi là triệu chứng thần
kinh. Bệnh lý giai đoạn chuyển tính huyết thanh
này có thể gặp trong 70-80% trường hợp, thường
không được coi là nặng nề và không được coi là
có liên quan đến HIV, do thường tự khỏi.
Người nhiễm HIV tiên phát hiếm khi đến thăm
khám tại các cơ sở y tế. Bệnh nhân có bất kỳ các
dấu hiệu nào kể trên cần được hỏi về tiền sử
quan hệ tình dục không an toàn hoặc tiêm chích
ma túy gần đây. Điều quan trọng là phải cố gắng
xác định bệnh nhân nhiễm HIV giai đoạn cấp, vì
giai đoạn này có tải lượng virus rất cao và khả
năng lây nhiễm rất lớn. Điều trị có thể bao gồm
các biện pháp hỗ trợ chung cho các vấn đề về thể
chất, tâm lý và xã hội. Vai trò điều trị kháng virus
trong nhiễm HIV cấp vẫn còn tranh cãi.
Khi hệ thống miễn dịch bị phá hủy bởi HIV, biểu
hiện bằng số lympho CD4 giảm dần xuống 200-
350 tế bào/µl, người bệnh xuất hiện các triệu
chứng thường liên quan đến HIV. Các triệu
chứng bao gồm sốt kéo dài, ra mồ hôi đêm, sút
cân đáng kể, tưa miệng, herpes zoster và tiêu
chảy mạn tính. Xét nghiệm máu có thể thấy giảm
cả tiểu cầu và tế bào lympho. Khi có các triệu

HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
7
HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
8
Cần chú ý là nhiễm trùng cơ hội có thể xuất hiện
ở bất cứ hệ cơ quan nào và biểu hiện lâm sàng
của hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
(AIDS) rất đa dạng. Nhân viên y tế ở các chuyên
khoa khác nhau có thể gặp người bệnh nhiễm
HIV trong thực hành lâm sàng và cần cảnh giác
với mọi biểu hiện lâm sàng của bệnh.
Cùng với nỗ lực chẩn đoán sớm HIV và thúc đẩy
các chương trình điều trị kháng virút tại khu vực
châu Á và Thái Bình Dương, có nhiều vấn đề
khác nằm ngoài phạm vi của cuốn sách này cần
được đề cập. Các bác sĩ và điều dưỡng sẽ cần
được đào tạo phù hợp để có thể xử lý các tác
dụng phụ và hỗ trợ tuân thủ điều trị.
Việc tiếp cận với xét nghiệm đếm tế bào lympho
CD4 và đo tải lượng virus kịp thời là rất cần thiết
để theo dõi đáp ứng với điều trị bằng liệu pháp
kháng virus kết hợp (cART) và phát hiện sớm thất
bại điều trị. Thách thức lớn nhất hiện nay là làm
thế nào để có thể tiếp cận với các người bệnh
sống ở vùng nông thôn hẻo lánh trong khi các
chuyên gia lâm sàng lại tập trung ở các thành phố
lớn. Sự hợp tác với các tổ chức phi chính phủ và
các chương trình hỗ trợ người bệnh là một nhân

/>thailand_2008_country_progress_report_en.
pdf (Last accessed 20 September 2009).
6. Ustianowski AP, Sieu TP, Day JN. Penicillium
marneffei infection in HIV. Curr Opin Infect
Dis 2008;21:31-6.
Tài liệu tham khảo
HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
9
Tổng quan
Chuyển đảo huyết thanh HIV
Tan Lian Huat
Chuyên gia bệnh truyền nhiễm
Trung tâm Y tế Sunway, Kuala Lumpur, Malaysia
Chẩn đoán nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở
người (human immunodeficiency virus - HIV) đặc
biệt trong giai đoạn sớm (nhiễm HIV tiên phát)
vẫn là một thách thức đối với các nhân viên y tế.
Mặc dù nhiễm HIV tiên phát (còn gọi bệnh lý
chuyển đảo huyết thanh HIV hay hội chứng nhiễm
retrovirus cấp tính) đã được mô tả từ năm 1985.
1
tình trạng này, bao gồm tất cả nhiễm HIV cấp tính
và mới xảy ra (trong vòng 6-12 tháng) thường bị
bỏ qua hoặc chẩn đoán không đầy đủ.
2-4
Tình
trạng chẩn đoán sai chủ yếu là do biểu hiện không
điển hình của bệnh, việc khai thác bệnh sử không
đầy đủ, do bác sỹ ít khi nghĩ tới và diễn giải kết

trọng về mặt y tế công cộng liên quan đến sự
giảm nguy cơ lây truyền HIV.
15-19
Lợi ích tiềm tàng của việc can thiệp và điều trị
sớm bao gồm giảm nguy cơ lây truyền HIV, giảm
mức độ nặng của các triệu chứng nhiễm HIV cấp
tính, giảm đột biến virus, giảm sớm hơn các tế
bào làm ổ chứa virus và kéo dài thời gian mà
người bệnh có thể không phải duy trì điều trị mãn
tính.
15-19
Các lợi ích mang tính giả thiết của việc
điều trị sớm này phải được cân nhắc so với các
nguy cơ có thể xảy ra, bao gồm nguy cơ cao hơn
có các độc tính dài hạn của thuốc do thời gian
dùng thuốc kháng virus tăng lên đáng kể và sự
gia tăng kháng thuốc nếu điều trị không ức chế
hoàn toàn được sự nhân lên của virus. Khi chưa
có sự đồng thuận rõ ràng trong điều trị nhiễm HIV
cấp, việc quyết định bắt đầu hay trì hoãn điều trị
phải tùy thuộc vào từng người bệnh và phải trao
đổi với họ về lợi ích và khó khăn của điều trị.
Các đặc điểm lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng của hội chứng nhiễm
retrovirus cấp tính là không điển hình. Gần 93%
người bệnh có triệu chứng giống bệnh tăng bạch
cầu đơn nhân nhiễm trùng nhưng có nhiều hệ
thống cơ quan bị ảnh hưởng, gây ra nhiều triệu
chứng và dấu hiệu giống như các bệnh cảnh lâm
sàng khác (bảng 2.1).

Bảng 2.2: Những dấu hiệu gợi chẩn đoán
nhiễm HIV
Sốt kèm nổi ban da, niêm mạc
Hội chứng viêm não - màng não cấp tính hoặc
viêm màng não vô khuẩn
Loét da chuyển tiếp niêm mạc như niêm mạc
má, lợi, lưỡi gà, vòm miệng, thực quản, hậu
môn hay dương vật
Sốt cao không rõ nguyên nhân
Sốt kèm theo giảm bạch cầu, giảm lympho
bào, giảm tiểu cầu có hoặc không có tăng men
gan kèm theo.
Nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục
Các triệu chứng thực thể như sốt, khó ở hoặc mệt
mỏi, chán ăn, sút cân, phát ban dạng rát sần, loét
niêm mạc, viêm họng và nổi hạch toàn thân là
những biểu hiện tương tự bệnh tăng bạch cầu
đơn nhân nhiễm trùng. Các triệu chứng tiêu hóa
như buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy, các triệu
chứng hô hấp như ho có đờm (đôi khi do viêm
phổi do pneunocytis); các triệu chứng thần kinh
và tâm thần như đau đầu, các biểu hiện viêm
màng não, viêm não hay viêm não-màng não;
những bất thường về huyết học như giảm bạch
cầu, giảm lympho bào và giảm tiểu cầu; biểu hiện
gan với tăng các men transaminase.
3,13,20,21,23
đều
đã được thông báo. Đôi khi có thể có tổn thương
thận như viêm cầu thận kiểu lupus và hiếm hơn là

Tuy
nhiên do các triệu chứng của bệnh không đặc
hiệu và rất đa dạng nên người bệnh có thể đến
khám ở các chuyên khoa khác như thần kinh, tiêu
hóa, tâm thần, hô hấp và sinh dục-tiết niệu, phụ
thuộc vào biểu hiện cụ thể.
Khi nào người bệnh
đến khám?
Sốt là lý do thường gặp nhất khiến người bệnh đi
khám. Người bệnh cũng có thể đi khám do có các
biến chứng hoặc suy các cơ quan. Cần phải luôn
nghĩ đến khả năng nhiễm HIV ở người có tiền sử
phơi nhiễm với người đã biết hoặc có khả năng
nhiễm HIV và ở bất cứ người nào có những dấu
hiệu gợi ý sau (Bảng 2.2).
13
HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
11
Các khó khăn trong việc
chẩn đoán
Đánh giá nguy cơ không đầy đủ
Trong một nghiên cứu thuần tập trên 46 người
bệnh nhiễm HIV tiên phát, hơn 85% người bệnh
đã tìm kiếm chăm sóc y tế nhưng chỉ có 25%
được chẩn đoán chính xác.
22
Trong một nghiên
cứu gần đây, 48% người bệnh nhiễm HIV tiên
phát không được chẩn đoán ở lần thăm khám

viện vì sốt 10 ngày kèm theo đau cơ, đau
đầu, buồn nôn, nôn, khó ở và nổi ban ngoài
da. Khám thấy ban rát sần và một vài chấm
xuất huyết. Xét nghiệm công thức máu toàn
phần có Hb: 15,6 g/dL, Hct: 44%, Bạch cầu:
3.1 x 10
9
/L (đa nhân trung tính 63%, lympho
30%, mono 5%), tiểu cầu: 85 x 10
9
/L.
Xét nghiệm chức năng gan cho kết quả: AST:
103 IU/L, ALT: 85 IU/L. Người bệnh được chẩn
đoán lâm sàng sốt dengue. Người bệnh được
truyền dịch và cho xuất viện sau một ngày vì
bác sỹ nghĩ anh ta đã khỏi bệnh dengue khi đã
hết sốt. Bốn ngày sau, người bệnh quay trở lại
với triệu chứng sốt liên tục, nôn và loét miệng.
Thăm khám cho thấy có ban rát sẩn toàn thân,
loét miệng kèm theo chảy máu lợi và hạch ở
cổ. Không có dấu hiệu đáng kể nào khác.
Người bệnh không có tiền sử đi du lịch hay leo
núi trong thời gian vừa qua.
Tìm hiểu kỹ hơn, người bệnh thừa nhận đã có
quan hệ tình dục không an toàn với một bạn
tình nam khoảng 4 tuần trước khi xuất hiện
các triệu chứng. Tại thời điểm này, kết quả xét
nghiệm công thức máu của người bệnh là:
Hb: 16 g/dL, Hct: 46%, Bạch cầu: 4 x 10
9

dàng bị chẩn đoán nhầm với sốt dengue do
các đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm tương
tự nhau. Những biểu hiện giống bệnh tăng
bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng trong giai
đoạn này là rất khó phân biệt giữa 2 bệnh,
tương tự như ban trên da. Ca bệnh này tiếp
tục bị chẩn đoán nhầm khi có giảm bạch cầu,
giảm tiểu cầu và tăng men gan, là những dấu
hiệu thường gặp ở sốt dengue.
29
Bảng 2.3: Tổng hợp các đặc điểm phân biệt sốt xuất huyết dengue và bệnh chuyển đảo huyết
thanh nhiễm HIV cấp
Đặc điểm Sốt xuất huyết dengue Hội chứng nhiễm retrovirus cấp
tính
Sốt Có Có
Thời gian sốt trung bình Dưới 7 ngày Thường dưới 14 ngày
Khoảng dao động 2-10 ngày Vài ngày cho tới hơn 10 tuần
Phát ban trên da Có Có
Thoát huyết tương/ sốc Biểu hiện đặc trưng của Không có
dengue xuất huyết (DHF) và
hội chứng sốc dengue (DSS)*
Biểu hiện chảy máu Có đặc điểm điển hình của Không phải là đặc điểm điển
dengue xuất huyết (DHF) và hình
hội chứng sốc dengue (DSS)*
Giảm bạch cầu Tạm thời và ngắn Có thể kéo dài
Giảm tiểu cầu Tạm thời và ngắn Có thể kéo dài
Tăng các men transaminaza Tạm thời và ngắn Có thể kéo dài
Phơi nhiễm gần đây với HIV-1 Không liên quan Tiền sử là yếu tố quan trọng
(không chỉ giới hạn đối với tình
dục không bảo vệ)

nosing primary HIV infection. Sex Transm In-
fect 2008;84(1):14-6.
5. Flanigan T, Tashima KT. Diagnosis of acute
HIV infection:it’s time to get moving! Ann In-
tern Med 2001;134 (1):75-7.
6. Schacker T, Collier AC, Hughes J, Shea T,
Corey L. Clinical and epidemiologic features
of primary HIV infection. Ann Intern Med
1996;125:257–64 (erratum: Ann Intern Med
1997;126:174).
7. Brenner BG, Roger M, Routy JP, Moisi D,
Ntemgwa M, Matte C, et al. High rates of for-
ward transmission events after acute/early
HIV-1 infection. J Infect Dis 2007;195:951-9.
8. Gray RH, Wawer MJ, Brookmeyer R, Se-
wankambo NK, Serwadda D, Wabwire-Man-
gen F, et al. Probability of HIV-1 transmission
per-coital act in monogamous heterosexual,
HIV-discordant couples in Rakai, Uganda.
Lancet 2001:357:1149-53.
9. Wawer MJ, Gray RH, Sewankambo NK, Ser-
wadda D, Li X, Laeyendecker O, et al. Rates
of HIV-1 transmission per-coital act, by stage
of HIV-1 infection, in Rakai, Uganda. J infect
Dis 2005;191:1403-9.
10. Pilcher CD, Eron JJ Jr, Vemazza PL, Batte-
gay M, Harr T, Yerly S, et al. Sexual transmis-
sion during the incubation period of primary
HIV infection. J Am Med Assoc 2001;
286:1713–4.

AIDS. J Infect Dis 2001;183 (10):1466-75.
17. Oxenius A, Price DA, Easterbrook PJ, O'-
Callaghan CA, Kelleher AD, Whelan JA et-al.
Early highly active antiretroviral therapy for
acute HIV-1 infection preserves immune
function of CD8+ and CD4+ T lymphocytes.
Proc Natl Acad Sci USA 2000;97 (7);3382-7.
18. Lacabaratz-Porret C, Urrutia A, Doisne JM,
Goujard C, Deveau C, Dalod M, Meyer L et
al. Impact of antiretroviral therapy and`
changes in virus load on human immunode-
ficiency (HIV)-specific T cell responses in pri-
mary HIV infection. J infect Dis
2003;187(5):748-57.
HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
14
19. Hecht FM, Wang L, Collier A, Little S,
Markowitz M, Margolick J, et al. A multicenter
observational study of the potential benefits
intiating combination antiretroviral therapy
during acute HIV infection. J Infect Dis
2006;194:725-33.
20. MacNeal RJ, Dinulos JGH. Acute retroviral
syndrome. Dermatol Clin 2006;24:431-8.
21. Kahn JO, Walker BD. Acute human immun-
odeficiency virus type 1 infection [review]. N
Engl J Med 1998;339:33–9.
22. Schacker T, Collier AC, Hughes J, Shea T,
Corey L. Clinical and epidemiologic features

29. Malavige GN, Fernando S, Fernando DJ,
Seneviratne SL. Dengue viral infections. Post
Grad Med 2004;80:588-601.
HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
15
Các biểu hiện hô hấp liên quan tới HIV
Rossana A. Ditangco
Trưởng nhóm nghiên cứu AIDS
Khoa Y, Viện nghiên cứu Y học nhiệt đới, Philippines
Hệ hô hấp là một trong những cơ quan thường
có biểu hiện bệnh lý nhất ở người bệnh nhiễm
HIV (virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở
người); các triệu chứng hô hấp thường xuất hiện
muộn trong quá trình diễn biến bệnh. Chẩn đoán
chính xác và xác định đúng tình trạng nhiễm
trùng hoặc các quá trình bệnh lý ở phổi có thể là
bước đầu để khuyến cáo xét nghiệm HIV.
Bệnh lý hô hấp là một trong những vấn đề
thường gặp liên quan đến nhiễm HIV. Người
bệnh thường có ho, đau ngực và khó thở. Sốt có
thể có hoặc không. Nhận biết được khi nào phải
nghi ngờ một bệnh lý phổi là có liên quan đến
nhiễm HIV tiềm tàng là một thách thức đối với
nhân viên y tế. Khả năng nhiễm HIV phải được
đặt ra khi các triệu chứng ở phổi đi kèm với các
biểu hiện như nấm họng, bạch sản lông ở
miệng, sụt cân kéo dài hoặc đáng kể, rụng tóc,
da đổi màu và phát ban sẩn ngứa. Các bệnh lý
nhiễm trùng bất thường, các nhiễm trùng thông

nosa hiếm khi gây viêm xoang ở những người
không nhiễm HIV, vi khuẩn này có thể liên quan
đến 16-18% các ca viêm xoang ở người nhiễm
HIV và gây tái phát với tỉ lệ cao. Khi số CD4 dưới
150 tế bào /µL, nên xem xét các tác nhân nấm
như Aspergillus.
3
Lao
Đối với rất nhiều người bệnh tại khu vực châu Á
và Thái Bình Dương, nhiễm lao (Mycobacterium
tuberculosis) là dấu hiệu đầu tiên của nhiễm HIV
tiềm tàng. Không giống hầu hết các bệnh nhiễm
trùng cơ hội khác liên quan đến HIV, bệnh lao có
thể xuất hiện ở bất kỳ thời điểm nào trong quá
trình bệnh HIV. Nhiễm lao có thể biểu hiện tại
phổi hoặc ngoài phổi. Ở thời kỳ đầu của suy
giảm miễn dịch, người bệnh có thể sốt và ho kéo
dài trên một tuần. Chụp X-quang phổi có thể thấy
đám mờ ở các thùy trên phổi có hoặc không có
tổn thương hang kèm theo.
Trực khuẩn kháng cồn kháng toan (AFB) (Hình
3.1) có thể xuất hiện trong đờm ở 40 – 60%
trường hợp. Ở một số ca bệnh, đặc biệt tại các
khu vực có tỉ lệ mắc lao cao, người bệnh có thể
có các triệu chứng gợi ý viêm phổi cấp tính do vi
khuẩn,
1
như sốt cao đột ngột, đau ngực và ho.

HHIIVV llàà ggìì??

bệnh lao với các bệnh lý khác như u lympho, đặc
biệt khi X-quang phổi bình thường hoặc không
điển hình với Lao và AFB đờm âm tính.
Đối với người nhiễm HIV, việc chẩn đoán lao có
thể được thực hiện bằng cách thông thường:
chụp X-quang phổi, nhuộm soi và cấy đờm, xét
nghiệm mô bệnh học, nuôi cấy mô. Các phương
pháp chẩn đoán trên có độ nhạy hạn chế. Hiện
đã có các xét nghiệm mới trong thực hành lâm
sàng hoặc ở các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng
khác nhau để có thể rút ngắn thời gian chẩn đoán;
các xét nghiệm mới bao gồm nuôi cấy lao nhanh
trong môi trường lỏng (BACTEC), kỹ thuật xét
nghiệm chẩn đoán dựa vào mycobacteriophage
và phản ứng khuyếch đại axít nucleic.
6
Ngay khi có chẩn đoán xác định, cần điều trị lao
theo phác đồ chuẩn của mỗi quốc gia. Sự tuân
thủ điều trị phải được nhấn mạnh vì đây là yếu tố
quan trọng nhất liên quan đến sự xuất hiện lao
kháng thuốc. Nếu liệu pháp hóa trị liệu có giám
sát trực tiếp (DOT) không khả thi, lựa chọn tốt
nhất tiếp theo là điều trị có kiểm soát càng chặt
chẽ càng tốt.
7
Tất cả người bệnh nhiễm lao nên
được đánh giá nguy cơ nhiễm HIV, được tư vấn
và đề xuất xét nghiệm HIV tự nguyện.
Ca lâm sàng 3.1
Một người bệnh nam 38 tuổi có biểu hiện sốt

thường gặp nhất gây tổn thương phổi ở người
bệnh AIDS. Bệnh thường xuất hiện khi số CD4
giảm xuống dưới 200 tế bào/µL.
8
Các triệu chứng
âm thầm, bao gồm sốt, ho khan và khó thở nặng
và tăng dần. Dấu hiệu lâm sàng thường nghèo
nàn. X-quang phổi có thể bình thường hoặc có
thâm nhiễm nhẹ trong giai đoạn đầu của bệnh.
9
Thâm nhiễm kẽ lan tỏa, thường được mô tả như
hình ảnh kính mờ hay hình ảnh giống phù phổi là
có thể gặp ở những trường hợp nặng.
10
Các biểu hiện khác liên quan đến AIDS như nấm
họng, có thể đi kèm và các bác sĩ cần nghĩ ngay
tới khả năng nhiễm HIV khi thấy người bệnh có
biểu hiện này. Chẩn đoán PCP thường dựa vào
lâm sàng nhưng cũng có thể khẳng định bằng
kích thích khạc đờm hay lấy dịch rửa phế quản
phế nang để xét nghiệm tìm các bào nang
P.jirovecii.
Chẩn đoán phân biệt bao gồm các bệnh nhiễm
trùng mạn tính khác như bệnh lao và nấm.
Những người bệnh không đáp ứng sau một đến
hai tuần điều trị PCP cần được xem xét soi phế
quản và ở những khu vực có tỉ lệ lưu hành bệnh
lao cao, cần chỉ định điều trị lao theo kinh nghiệm
cho những người bệnh này. Tất cả các người
bệnh được chẩn đoán PCP phải được tiến hành

Viêm phổi cộng đồng
Viêm phổi do vi khuẩn thường gặp ở những
người nhiễm HIV và có thể do các tác nhân gây
bệnh thông thường ở cộng đồng như phế cầu
(Streptococcus pneumonia).
11,12
Các triệu chứng
sốt cao và ho có đờm thường xuất hiện cấp tính
trong vòng 3 ngày. X-quang phổi có thể có hình
ảnh đông đặc có hay không có tràn dịch màng
phổi kèm theo. Ở những người bệnh nhiễm HIV,
viêm phổi cấp tính do vi khuẩn có thể xuất hiện
ở bất kỳ mức CD4 nào. Trong giai đoạn đầu,
nhiễm HIV có thể bị bỏ sót do bệnh cảnh lâm
sàng và tiến triển của viêm phổi tương tự như ở
những người bệnh không nhiễm HIV.
HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
18
Tuy nhiên, khi chức năng miễn dịch suy giảm,
các đợt viêm phổi cấp do vi khuẩn có thể trở nên
thường xuyên hơn và biểu hiện lâm sàng có thể
nặng hơn. Vì vậy, khi người bệnh không có tình
trạng bệnh lý tiềm tàng khác (ví dụ tuổi cao, bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính hay đái tháo đường),
viêm phổi cấp do vi khuẩn tái phát (ít nhất 2 lần
trong vòng 12 tháng) hoặc diễn biến nặng phải
gợi ý khả năng nhiễm HIV.
Bệnh nấm Penicillium
Bệnh do nấm Penicillium là một nhiễmm trùng

hiếm khi gặp ở người lớn. Bệnh có thể khó phân
biệt với lao phổi hay lao kê dựa vào các triệu
chứng (ho, khó thở và hạch to) và tổn thương
lưới nốt lan tỏa và hạch to rốn phổi hoặc các
hạch trung thất trên phim X-quang lồng ngực.
16
Biểu hiện sưng tuyến mang tai và ngón tay dùi
trống ở một vài trường hợp làm tăng khả năng
viêm phổi kẽ thâm nhiễm lympho bào. Việc chẩn
đoán thường dựa vào lâm sàng.
Các bệnh ác tính
Các bệnh ác tính như sarcoma Kaposi, u lympho
không Hodgkin và ung thư biểu mô phổi có thể
ảnh hưởng tới hệ hô hấp nhưng sarcoma Kaposi
được đề cập tại đây.
Sarcoma Kaposi
Sarcoma Kaposi tại phổi có thể xuất hiện cùng
hoặc không cùng các biểu hiện ngoài da. Bệnh
có thể có biểu hiện đông đặc thùy phổi tương tự
như viêm phổi do vi khuẩn hay tổn thương dạng
nốt ở rốn phổi hoặc trung thất giống như lao
hoặc u lympho. Sự tồn tại của các tổn thương
sau khi đã điều trị đầy đủ bằng kháng sinh hay
thuốc chống lao phải gợi ý một tổn thương dạng
khối không do nhiễm trùng. Chẩn đoán xác định
dựa vào sinh thiết. Sarcoma Kaposi ở phổi vẫn
là một chẩn đoán khó khăn, ngay cả trong kỷ
nguyên điều trị kháng retrovirus kết hợp.
17
Ca lâm sàng 3.3

HIV: microbiology and therapy. Curr Infect
Dis Rep 2005;7(3):165-9.
4. Nyamande K, Lalloo UG, John M. TB pre-
senting as community-acquired pneumonia
in a setting of high TB incidence and high HIV
prevalence. Int J Tuberc Lung Dis
2007;11(12):1308-13.
5. Harries AD. Tuberculosis and human im-
munodeficiency virus infection in developing
countries. Lancet 1990;335(8686):387-90.
6. Furin J, Johnson J. Recent advances in the
diagnosis and management of tuberculosis.
Curr Opin Pulm Med 2005;11(3):189-94.
Available at:
http :/ /c me .m ed sc ap e. co m/ vi ew ar ti -
cle/508659 (Cited on 20 April 2009).
7. World Health Organization. TB/HIV Clinical
Manual. Second edition. Geneva, 2004
(WHO/HTM/TB/2004.329.
8. Wallace JM, Hansen NI, Lavange L, Glass-
roth J, Browdy BL, Rosen MJ, et al for the
Pulmonary Complications of HIV Infection
Study Group. Respiratory disease trends in
the Pulmonary Complications of HIV Infec-
tion Study cohort. Am J Respir Crit Care Med
1997;155(1):72-80.
9. Gruden JF, Huang L, Turner J, Webb WR,
Merrifield C, Stansell JD, et al.High-resolu-
tion CT in the evaluation of clinically sus-
pected Pneumocystis carinii pneumonia in

munodeficiency virus (HIV) infected children.
Pediatr Pulmonol 2008;43(1):1-10.
17. Palmieri C, Dhillon T, Thirlwell C. Pulmonary
Kaposi sarcoma in the era of highly active
antiretroviral therapy. HIV Med
2006;7(5):291-3.
Tài liệu tham khảo
HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
20
Nhân viên y tế cần phải chú ý tới các biểu hiện
thần kinh mà không giải thích được nguyên nhân
trên người bệnh HIV, đặc biệt là các nhiễm trùng
cơ hội của hệ thần kinh trung ương (CNS), sa
sút trí tuệ và bệnh lý thần kinh ngoại biên.
Tổng quan
Ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, bệnh lý
thần kinh thường gặp ở những người bệnh HIV
giai đoạn tiến triển, không được điều trị, có tỉ lệ
mắc và tỉ lệ tử vong cao. Một nghiên cứu gần
đây trên nhóm người bệnh HIV điều trị nội trú ở
7 nước Đông Nam Á và khu vực Thái Bình
Dương cho thấy 43% số người bệnh nhập viện
điều trị nội trú được chẩn đoán bệnh lý thần kinh
và nguyên nhân phổ biến nhất là nhiễm trùng cơ
hội hệ thần kinh trung ương.
1
Tương tự, trong một nghiên cứu trên 650 người
bệnh HIV điều trị ngoại trú ở khắp Đông Nam Á
và khu vực Thái Bình Dương, 20% người bệnh

thần vận động. Những chẩn đoán trên sẽ gợi ý
nhân viên y tế cần cân nhắc khả năng nhiễm HIV
ở người bệnh và chỉ định xét nghiệm cần thiết.
Bệnh lý thần kinh liên quan tới HIV
Subsai Kongsaengdao
Khoa Nội - Thần kinh Bệnh viện Rajavithi,
Phòng Dịch vụ Y tế và Nội khoa, Bộ y tế
Đại học Y Rangist, Bangkok, Thái Lan
Arkhom Arayawichanont
Khoa Nội, Bệnh viện Sappasithiprasong, Ubon Ratchathani, Bộ y tế Công cộng Thái Lan
Kanoksri Samintharapanya
Khoa Nội, Bệnh viện Lampang, Lampang, Bộ y tế Công cộng Thái Lan
Pichai Rojanapitayakorn
Khoa Nội, bệnh viện Surat Thani, Surat Thani, Bộ y tế Công cộng Thái Lan
HHIIVV llàà ggìì??
sổ tay dành cho nhân viên y tế
21
Ở người bệnh đã được
chẩn đoán nhiễm HIV
Khi người bệnh nhiễm HIV có các bệnh lý thần
kinh (đau đầu, tình trạng ngủ gà, lẫn lộn, tổn
thương thần kinh khu trú, sa sút trí tuệ, rối loạn
khả năng nhận thức hoặc bệnh lý đau thần kinh
cảm giác), thì việc xét nghiệm số lượng tế bào
CD4 là rất cần thiết.
Ở những người bệnh có số lượng tế bào CD4
lớn hơn 200/µL, nhiễm trùng cơ hội hệ thần kinh
trung ương ít gặp, ngoại trừ viêm chất trắng đa
ổ tiến triển và lao màng não, cả 2 bệnh trên đều
có thể xuất hiện cả khi số lượng tế bào CD4 còn

(200 tế bào/µl <số
CD4<500 tế bào/µl)
• Hội chứng Guillain-Barre
• Bệnh lý thần kinh mất
myelin mạn tính
• Viêm đa cơ
• Liệt Bell
• Lao màng não
• Viêm não chất trắng đa ổ
tiến triển
Nhiễm HIV giai đoạn cuối
(số CD4<200 tế bào/µl)
• Sa sút trí tuệ liên quan tới HIV-1
• Viêm não do toxoplasma
• Viêm màng não do Cryptococus
• Lao màng não
• Viêm não chất trắng đa ổ tiến
triển (PML)
• Áp xe não do Nocardia
• U lympho nguyên phát hệ thần
kinh trung ương
• Viêm võng mạc/viêm màng não
do CMV
• Thiếu máu não thoáng qua
• Đột quị
• Bệnh lý đau thần kinh
• Viêm nhiều dây thần kinh đơn
độc
• Bệnh lý hệ thần kinh thực vật
• Viêm mạch hệ thần kinh trung

Dương, viêm màng não do cryptococcus, viêm
não do toxoplasma và lao màng não là những
nhiễm trùng cơ hội thường được chẩn đoán nhất
ở người bệnh nhiễm HIV.
1
Mô tả chi tiết những
dấu hiệu lâm sàng của ba nhiễm trùng cơ hội
của hệ thần kinh trung ương này được trình bày
trong Bảng 4.2.
Viêm màng não do
cryptococus
Triệu chứng
• Đau đầu
• Sốt
• Tình trạng ngủ gà
• Rối loạn thị giác
• Gáy cứng (có thể không có)
Dấu hiệu
• Giảm nhận thức
• Gáy cứng (có thể không có)
• Sợ ánh sáng
• Phù gai thị
8
(hiếm gặp)
• Liệt dây thần kinh sọ
• Biểu hiện của cơ quan khác (ví dụ phổi, tim…)
Kết quả cận lâm sàng
Xét nghiệm kháng nguyên cryptococus:
• Độ nhạy > 90%
• Nếu âm tính, xét tới nguyên nhân khác của viêm màng

Dấu hiệu
• Rối loạn chức năng tiểu não
• Bất thường dây thần kinh sọ não
• Rối loạn vận động
• Rối loạn cảm giác
• Thu hẹp thị trường
Kết quả cận lâm sàng
Xét nghiệm kháng thể kháng toxoplasma IgG
• Dương tính, nhưng có thể âm tính lên tới 15%
Chụp CT hoặc MRI
• Tổn thương đa ổ
• Hạch nền sọ và chỗ nối vỏ hành tủy thường bị tổn thương
• Có hiệu ứng hình vòng nhẫn.
• Thường kèm theo phù não
Các xét nghim khác
• Xét nghiệm dịch não tủy thường không thực hiện
• Có thể chụp MRI để chẩn đoán phân biệt viêm não do
toxoplasma với u lympho não
• Xét nghiệm huyết thanh IgG dương tính với toxoplasma
có thể thay đổi tùy từng quốc gia.
Triệu chứng
• Sốt
• Đau đầu
• Tăng cảm giác đau
Dấu hiệu
• Phản ứng màng não
• Rối loạn nhận thức
• +/- Lao phổi tiến triển (gặp ở ~40% số ca)
Bảng 4.2: Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của viêm màng não do Cryptococcus, viêm
não do toxoplasma và lao màng não ở người bệnh nhiễm HIV*

tăng dần một cách từ từ trong hai tuần nay.
Người bệnh có tiền sử viêm phổi ba tháng
trước, đã được điều trị bằng ceftriaxone
2g/ngày. Xét nghiệm kháng thể HIV dương
tính.
• Chẩn đoán phân biệt của bạn là gì?
• Xét nghiệm cận lâm sàng nào cần được
chỉ định để chẩn đoán phân biệt?
Bệnh nhân xét nghiệm HIV dương tính
• Bạn có thể thấy hình ảnh gì trên X quang
phổi, CT và MRI não và tủy sống, và
nhuộm soi tìm trực khuẩn kháng cồn
kháng toan (Bảng 4.1)?
Cận lâm sàng
X-quang phổi
CT hoặc MRI não
• Tổn thương màng não ở nền sọ
• Có thể có u lao
Dịch não tủy
• Đo áp lực dịch não tủy
• Đường
• Nhuộm soi AFB - 25% dương tính.
9
• Cấy AFB - 40% dương tính và nhậy.
9
Bảng 4.2: Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của viêm màng não do cryptococcus, viêm
não do toxoplasma và lao màng não ở người bệnh nhiễm HIV*
(
tiếp theo)
Chi tiết

chủ yếu là tế bào lympho, protein dịch não
tủy=144 mg/dL; đường dịch não tủy/đường
máu 18/118 mg/dL; nhuộm Gram, nhuộm
mực tàu và nhuộm AFB cải tiến kết quả âm
tính. Cấy dịch não tủy âm tính với vi khuẩn kỵ
khí; kháng thể kháng toxoplasma dịch não tủy
âm tính; PCR dịch não tủy tìm cy-
tomegalovirus (CMV) âm tính. PCR dịch não
tủy tìm vi khuẩn lao dương tính (phát hiện
được gen IS6110 và Reg2-Reg3).
• Bạn sẽ điều trị người bệnh này thế nào?
Người bệnh đã được điều trị bằng thuốc
chống lao kết hợp với dexamethasone
12mg/ngày trong 3 tuần, sau đó giảm dần
trong 3 tuần nữa kèm theo truyền co-trimox-
azole phòng khả năng nhiễm Nocardia, ý
thức người bệnh và các triệu chứng khác đã
được cải thiện. Sau hai tháng điều trị, người
bệnh đã hồi phục ngoại trừ một vài di chứng
liệt.
Bàn luận
Những người bệnh có số tế bào CD4 rất thấp
kèm theo đau đầu bán cấp, sốt, tình trạng ngủ
gà, lẫn lộn, cổ cứng và có tổn thương ở phổi
có thể nhiễm lao. Cần cân nhắc khả năng
đồng nhiễm Nocardia spp.
Ca lâm sàng 4.1
(
tiếp theo)
Tiếp trang sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status