LUẬN VĂN:
Nâng cao chất lượng chương trình phát
thanh cấp tỉnh khu vực Bắc sông Hậu,
đồng bằng sông Cửu Long MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện đại, thông tin trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với con
người. Thông tin là yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội. Thông tin phát triển cùng với
sự phát triển của xã hội loài người. Nền sản xuất xã hội càng phát triển, trình độ văn minh
càng cao thì nhu cầu thông tin càng lớn về số lượng và đòi hỏi về chất lượng, về tính nhanh
nhạy kịp thời ngày càng cao hơn.
Sự phát triển nhanh chóng, từng phút, từng giờ của các phương tiện thông tin đại
dân tộc thiểu số" [17, tr.214].
Trong quản lý hành chính cũng như về vị trí địa lý, đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) gồm 13 tỉnh, thành phố, trong đó có 6 tỉnh Bắc sông Hậu (BSH). Đây là cách
phân chia theo cụm thi đua của hệ thống phát thanh truyền hình (PT-TH) trong cả nước.
Đó là các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh và Đồng Tháp,
đều nằm ở phía bắc sông Hậu Giang.
Cùng với phát thanh trên cả nước, trong những năm qua, phát thanh các tỉnh khu
vực ĐBSCL, trong đó có các tỉnh BSH, đã có nhiều cố gắng thực hiện chức năng thông
tin - giải trí, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển địa phương. Thế
nhưng, trong xu thế phát triển nhanh chóng của các phương tiện truyền thông đại chúng
trong cả nước, mặc dù có thế mạnh riêng nhưng phát thanh của các tỉnh này vẫn chưa thể
chiếm ưu thế vượt trội trong khu vực.
Riêng khu vực ĐBSCL, nhờ địa hình bằng phẳng, việc phủ sóng phát thanh và
truyền hình khá thuận lợi. Người dân trong khu vực có thể tiếp cận được chương trình
của nhiều đài địa phương khác nhau. Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương trong cả
nước, ở khu vực này truyền hình được quan tâm đầu tư nhiều hơn do thu được nhiều lợi
nhuận qua quảng cáo. Hơn nữa, do có những ưu thế vượt trội trong thông tin nên truyền
hình luôn nhận được sự quan tâm, ưu ái của các cấp các ngành ở địa phương.
Tình hình đó đã khiến cho không chỉ những người trực tiếp lãnh đạo, quản lý ở
các Đài Phát thanh và Truyền hình (PT&TH) mà ngay cả những phóng viên (PV), biên
tập viên (BTV) trực tiếp thực hiện sản xuất chương trình cũng quan tâm đến truyền hình
nhiều hơn mà coi nhẹ phát thanh. Mặc dù cho đến nay, nếu so với các loại hình truyền
thông đại chúng khác, phát thanh vẫn là loại hình có nhiều công chúng nhất, nhưng rõ
ràng điều đó chưa đủ để cho loại hình này tiếp tục phát triển.
Tình hình kể trên đã đặt phát thanh đài tỉnh vào cái thế phải thường xuyên cạnh
tranh để khẳng định sự tồn tại của mình. Tuy nhiên, đến nay đây vẫn đang là một trong
những vấn đề nan giải nhất mà những người làm phát thanh các tỉnh BSH và hầu hết
những người đang làm phát thanh trong cả nước nói chung chưa tìm ra lời giải đáp thỏa
đáng. Làm thế nào để phát thanh tiếp tục phát triển? Bằng cách nào để nâng cao chất
trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh.
- Sách chuyên luận Các thể loại báo chí phát thanh (của V.V. Xmirnôp, Nga),
được Nhà xuất bản Thông tấn dịch và phát hành năm 2004.
- Hai tài liệu: Phát thanh - Truyền thanh nông thôn và Cẩm nang hướng dẫn phát
thanh trực tiếp, (do Ban Địa phương và Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng nghiệp vụ phát
thanh của Đài TNVN dịch và lưu hành nội bộ) đều đã được tái bản năm 2005.
- Tài liệu: 261 phương pháp đào tạo phát thanh viên và người dẫn chương trình,
(Học viện Truyền thông Bắc Kinh, Đoàn Như Trác biên dịch) đã được Đài TNVN phát
hành năm 2005.
- Giáo trình: Phát thanh trực tiếp, (do GS,TS. Vũ Văn Hiền và TS. Đức Dũng chủ
biên) đã được Nhà xuất bản Lý luận chính trị in và phát hành năm 2007.
Về các luận văn thạc sĩ có đề cập đến những vấn đề của báo chí phát thanh,
truyền hình địa phương phía Nam, đến nay đã có một số công trình nghiên cứu sau:
- Luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng của Lâm Thiện Khanh (thực hiện năm
2003 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) có tiêu đề: Nâng cao chất lượng các tin tức
thời sự sản xuất tại Đài truyền hình Cần Thơ.
- Luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng của Lê Thanh Trung (thực hiện
năm 2004 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) có tiêu đề: Tính thuyết phục và hiệu quả
của truyền hình trực tiếp ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
- Luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng của Dương Thị Thanh Thủy (thực hiện
năm 2005 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) có tiêu đề: Tổ chức sản xuất chương
trình thời sự truyền hình ở Đài Phát thanh và Truyền hình Đồng Tháp.
- Luận văn Thạc sĩ Báo chí của Nguyễn Cẩm Nam (thực hiện năm 2005 tại
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội) có tiêu đề: Tác
động của văn hóa bản địa Nam Bộ trong công tác tổ chức và tiếp nhận chương trình thời
sự, văn hóa - xã hội trên các Đài truyền hình Đông Nam Bộ (2001-2006).
- Luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng của Phạm Thị Thanh Phương (thực hiện
năm 2008 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) có tiêu đề: Hệ thống phát thanh, truyền
hình các tỉnh miền Đông Nam Bộ.
+ Thăm dò dư luận xã hội đối với công chúng phát thanh ở sáu tỉnh BSH.
+ Bước đầu nêu ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao chất
lượng các chương trình phát thanh cấp tỉnh của các đài tỉnh BSH, ĐBSCL.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở các đường lối, chủ trương và
các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về báo chí cách mạng Việt Nam. Những
vấn đề cơ sở lý luận báo chí truyền thông nói chung và lý luận báo chí phát thanh nói
riêng cũng được vận dụng như những cơ sở quan trọng trong quá trình nghiên cứu.
- Phương pháp cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ vận dụng tổng
hợp các phương pháp sau đây:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để hệ thống hóa các vấn đề lý
luận về quan điểm báo chí nói chung và về lý luận báo chí phát thanh nói riêng.
+ Phương pháp khảo sát thực tế được sử dụng để khảo sát thực trạng hoạt động
phát thanh đài tỉnh BSH.
+ Các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh được sử dụng trong
việc xem xét, đánh giá, phân tích các chương trình phát thanh ở các đài khảo sát, từ đó rút
ra những kết luận khoa học cần thiết phục vụ cho các luận điểm được triển khai trong
luận văn.
+ Các phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu được sử dụng đối với
công chúng (khoảng 600 phiếu) và những nhà quản lý, lãnh đạo, các PV, BTV phát thanh
(khoảng 66 phiếu) tại các đài được khảo sát để từ đó thu thập những ý kiến thực tế, cung
cấp cho việc triển khai các luận điểm khoa học cần thiết trong luận văn.
Tất cả các phương pháp nêu trên đều có tác động tích cực và hiệu quả vào kết
quả nghiên cứu.
6. Đóng góp mới của đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên về chất lượng các chương trình phát
thanh ở các đài tỉnh BSH, ĐBSCL.
Việc khẳng định những thành công, hạn chế và qua đó tìm ra nguyên nhân của
những ưu điểm, nhược điểm trong các chương trình phát thanh được khảo sát cùng với
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT THANH CẤP TỈNH KHU VỰC BẮC SÔNG HẬU, ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG
LUẬN VĂN
1.1.1. Một số thuật ngữ, khái niệm
1.1.1.1. Thuật ngữ phát thanh và báo phát thanh
Chúng ta đều biết báo chí nói chung bao gồm báo in, báo phát thanh, báo truyền
hình ( còn gọi là phát thanh, truyền hình) và các loại báo chí điện tử khác. Riêng báo phát
thanh được hiểu như "một kênh truyền thông, một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà
đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh phong phú, sinh động để chuyển tải
thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động vào
thính giác của người nghe" [30, tr.51].
Các nước phương Tây thường chia phát thanh thành các loại: đài phát thanh
thương mại, đài phát thanh quảng cáo, đài phát thanh giáo dục, đài phát thanh chính trị xã
hội… Thông thường, mỗi nước đều có hệ thống phát thanh của nhà nước để thực hiện những
nhiệm vụ công cộng, phục vụ cho các mục đích chính trị, xã hội của chính phủ. Người ta còn
gọi đó là đài phát thanh quốc gia hay đài phát thanh công cộng. Quy mô và phạm vi ảnh
hưởng của các đài phát thanh tuỳ thuộc vào điều kiện chính trị của từng quốc gia cụ thể. Các
đài phát thanh còn lại thuộc sở hữu tư nhân. Khuynh hướng chung ở các nước, phần lớn các
đài phát thanh lớn đều tồn tại trong cơ cấu công ty hay tập đoàn truyền thông. Một số tổ chức
tôn giáo, chính trị, xã hội cũng lập ra đài phát thanh.
Ở Việt Nam, toàn bộ hệ thống phát thanh đều thuộc sở hữu nhà nước, do Chính
phủ và Ủy ban nhân dân (UBND) các địa phương quản lý. Đài TNVN và các đài khu vực là
đài phát thanh quốc gia. Các đài phát thanh địa phương bao gồm đài cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương; đài cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; cấp xã, phường,
của con người ngày càng cao, ngày càng khó tính" [30, tr.16].
Tính đến năm 2000, trên thế giới có 30 nước phát thử và thường xuyên phát
thanh kỹ thuật số. Singapore là nước đi đầu về phát thanh số ở khu vực Châu Á. Tuy
nhiên, có hai vấn đề nan giải của phát thanh số trên thế giới là lựa chọn tiêu chuẩn thích
hợp và sản xuất radio với giá phải chăng. Xu hướng của các nhà sản xuất là giảm đến
mức tối đa giá thành radio số để người tiêu dùng có thể sử dụng rộng rãi.
Hiện nay, ở Việt Nam, phần lớn các đài đều phát song song hai loại sóng FM và
AM. Theo Qui hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020,
"công nghệ số được áp dụng rộng rãi trong truyền dẫn, phát sóng phát thanh" [6, tr.3].
Vấn đề số hóa hệ thống kỹ thuật phát thanh Việt Nam đã được Đài TNVN quan tâm
nghiên cứu từ những năm đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ XX. Cùng với việc thực
hiện qui hoạch phủ sóng và áp dụng công nghệ phát thanh hiện đại, Đài TNVN đã từng
bước trang bị và đưa vào sử dụng hệ thống sản xuất chương trình, hệ thống thu thập tin
tức và truyền dẫn qua vệ tinh bằng kỹ thuật số. Nhiều đài địa phương đã năng động, tiếp
cận nhanh và áp dụng có hiệu quả kỹ thuật DAB trong sản xuất chương trình.
1.1.1.3. Phương thức tác động của phát thanh
Xét về phương thức tác động, phát thanh là loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật
sóng điện từ và hệ thống truyền thanh truyền đi âm thanh, trực tiếp tác động vào thính
giác của đối tượng tiếp nhận.
Để trả lời cho câu hỏi "Radio là gì?", tác giả Lois Baird trong cuốn sách Hướng
dẫn sản xuất chương trình phát thanh (Trường Phát thanh, truyền hình và điện ảnh
Australia) đã nêu và phân tích 11 đặc điểm của loại hình báo chí này. Đó là:
- Radio có hình ảnh
- Radio là thân thiện
- Radio dễ tiếp cận và dễ mang
- Radio là trực tiếp
- Radio có ngôn ngữ riêng của mình
- Radio có tính tức thời
- Radio không đắt tiền
những đặc điểm còn thể hiện một cách đậm đặc hơn, sinh động hơn so với phát thanh.
Tuy nhiên vẫn có những điểm khác biệt. Với truyền hình, hình ảnh luôn giữ vị trí số một,
âm thanh chỉ có nhiệm vụ bổ trợ. Phát thanh, âm thanh quan trọng hơn. Phát thanh sử
dụng âm thanh tổng hợp (lời nói, tiếng động, âm nhạc) tác động vào thính giác. Tác giả
V.V. Xmirmốp, trong cuốn Các thể loại báo chí phát thanh, cho rằng: "sự cảm thụ thông
tin ngôn ngữ bằng thính giác được làm cho phong phú thêm bằng tác động của trí tưởng
tượng" [43, tr.17]. Như vậy, âm thanh "không chỉ là phương thức tác động duy nhất mà
còn là đặc trưng cơ bản của phát thanh trong tương quan so sánh với các loại hình báo
chí khác" [30, tr.84].
Như vậy, với đặc điểm là tác động trực tiếp đến người nghe bằng hệ thống âm
thanh, phát thanh (radio) có nhiều lợi thế so với các loại hình truyền thông khác như báo
in, báo hình, báo mạng điện tử. Radio có thể đến với công chúng ở mọi lúc mọi nơi, trên
đồng ruộng, trên xe hay trong nhà… Mặt khác, giá thành của phương tiện này cũng rẻ
hơn rất nhiều so với máy thu hình và ai cũng có thể trang bị cho mình một chiếc radio để
làm bạn.
1.1.1.4. Khái niệm về chương trình phát thanh
Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất
liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán và nhằm vào
đối tượng công chúng cụ thể. "Thông thường một chương trình phát thanh mở đầu bằng
nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt. Ngay sau nhạc hiệu là lời xướng của phát
thanh viên, chỉ ra tên hoặc đặc trưng của chương trình" [34, tr.117-118].
Trong thực tế, tùy theo tiêu chí phân loại, mỗi chương trình phát thanh có đối
tượng tác động riêng, có nội dung phản ánh cũng như phương thức thực hiện riêng. Thính
giả dễ dàng phân biệt chương trình phát thanh Thanh niên với Câu lạc bộ những người
cao tuổi; chương trình Thời sự với Diễn đàn các vấn đề xã hội… Sự phân công và
chuyên môn hóa trong quá trình lao động tạo ra cho các chương trình phát thanh có sự
phân định rõ ràng. Quá trình tiếp nhận của công chúng gắn liền với các chương trình phát
thanh. Người nghe có thể nắm bắt được thông tin thời sự một cách nhanh nhất qua
chương trình thời sự và họ chờ đợi những hướng dẫn cụ thể qua chương trình chuyên đề.
Nếu lấy tiêu chí là lĩnh vực phản ánh, sẽ có: Chương trình kinh tế, văn
hóa, an ninh quốc phòng… Theo tiêu chí lứa tuổi sẽ có: Chương trình Thiếu
nhi, Thanh niên, Câu lạc bộ người cao tuổi… Phân chia theo giới có Chương
trình Thanh niên, Phụ nữ…Và nếu chia theo tính chất của thông tin và năng
lực phản ánh sẽ có chương trình thời sự, chương trình chuyên đề [30, tr.219].
Dựa vào phương pháp và kỹ thuật sản xuất, người ta chia chương trình phát
thanh thành ba loại: chương trình sản xuất tại studio; chương trình sản xuất trực tiếp tại
hiện trường; chương trình kết hợp giữa studio và hiện trường.
Ngoài ra, trong thực tế các đài phát thanh còn dành thời lượng cho quảng cáo,
dưới các hình thức chương trình quảng cáo độc lập hoặc quảng cáo đơn lẻ phát xen giữa
các chương trình hay kết hợp trong chương trình.
1.1.1.5. Công chúng phát thanh
Công chúng phát thanh còn gọi là thính giả hoặc bạn nghe đài. "Khái niệm công
chúng, bạn đọc, bạn nghe và xem đài nói chung được dùng để chỉ một nhóm lớn trong xã
hội, nhưng thường ngày, người ta có thể dùng để chỉ cụ thể một người hay một nhóm nhỏ
nào đó" [30, tr.95].
Công chúng phát thanh có thể được hiểu là nhóm lớn xã hội được chương trình
phát thanh tác động, hoặc nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng tới để tác động.
Có công chúng tiềm năng và công chúng thực tế, công chúng trực tiếp và công chúng
gián tiếp. Công chúng tiềm năng là nhóm lớn xã hội mà chương trình nhắm vào, tác động
lôi kéo Nhưng trong thực tế, không phải tất cả các thành viên nhóm lớn xã hội mà
chương trình nhắm vào đều tiếp nhận được các chương trình phát thanh. Hay nói cách
khác, chỉ một phần trong nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng vào, tiếp nhận
được sự tác động. Bộ phận ấy gọi là công chúng thực tế. Ở bình diện khác lại có công
chúng trực tiếp và gián tiếp. Công chúng trực tiếp là những người trực tiếp tiếp nhận các
chương trình phát thanh. Còn công chúng gián tiếp là những người được công chúng trực
tiếp kể lại những thông điệp mà họ tiếp nhận qua các chương trình phát thanh. Do đó, các
chương trình trên radio vừa nhắm vào những đối tượng cụ thể vừa nhắm vào quảng đại
quần chúng. Chương trình phát thanh phụ nữ nhằm vào nhóm công chúng phụ nữ, nhưng
chương trình ngày càng tốt hơn, hay hơn và thu hút sự quan tâm theo dõi của công chúng
ngày càng nhiều hơn.
Đài cấp tỉnh là một thuật ngữ quen thuộc ở nước ta. Thuật ngữ này dùng để chỉ
một cấp nằm trong hệ thống truyền thanh 4 cấp, bao gồm: đài quốc gia, đài cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương; đài truyền thanh cấp huyện, thị và đài truyền thanh cấp
xã, phường, thị trấn. Hệ thống này thuộc sự quản lý của nhà nước từ trung ương đến địa
phương. Trong đó, đài tỉnh thuộc sự quản lý của UBND tỉnh. Trong luận văn này, chúng
tôi chỉ đề cập đến chương trình phát thanh của các đài tỉnh thuộc khu vực BSH, ĐBSCL.
Khu vực BSH, ĐBSCL bao gồm sáu tỉnh: Bến Tre, Đồng Tháp, Long An, Tiền
Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long. Các địa phương này đều nằm ở bờ bắc con sông Hậu
Giang.
Bắc sông Hậu không phải là cách phân chia theo địa giới hành chính mà chỉ là
tên gọi của "Cụm thi đua số 8 trong ngành Phát thanh - Truyền hình cả nước" [4, tr.2-3].
Theo định kỳ, hàng năm cụm BSH tổ chức sơ kết hoạt động 6 tháng và hội nghị tổng kết
cuối năm, bình xét thi đua, Đài TNVN, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài truyền hình kỹ
thuật số đăng ký thi đua, tổ chức sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, báo cáo với Bộ
Thông tin và Truyền thông khen thưởng. Năm 2009, Giám đốc Đài PT&TH Long An là
Cụm trưởng Cụm thi đua số 8.
1.1.3. Đặc điểm của khu vực Bắc sông Hậu, đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là phần cuối cùng của lưu vực sông Mêkông, một trong
những châu thổ rộng, phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới. Toàn khu vực có diện tích đất
tự nhiên 3.960.000 ha, bằng khoảng 12% diện tích đất tự nhiên của cả nước.
Ngoài thuận lợi lớn là có đất đai màu mỡ, nước ngọt dồi dào, khí hậu hiền hoà,
vùng đất này còn có bờ biển dài hơn 700 km, từ Gò Công tỉnh Tiền Giang đến Hà Tiên,
Kiên Giang, với 8 tỉnh ven biển, hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, thuận lợi cho phát triển kinh
tế biển. Đây là vùng châu thổ thấp, được hình thành chủ yếu do phù sa của hai nhánh
sông Tiền và sông Hậu (thuộc hạ lưu sông Mêkông) bồi đắp. Khi đổ ra biển chia thành 9
nhánh nên được gọi là sông Cửu Long. Sông Hậu Giang chia châu thổ ra hai vùng, gọi là
Nam sông Hậu và Bắc sông Hậu. Nam sông Hậu gồm thành phố Cần Thơ và 6 tỉnh Hậu
quốc tế quan trọng, giữa Nam Á và Đông Á cũng như châu Úc và các quần đảo khác trong
Thái Bình Dương. Đây là những thế mạnh tiềm tàng hết sức quan trọng cho giao lưu kinh tế,
văn hoá với các nước trong tương lai.
Với hệ thống kênh rạch chằng chịt, chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều của các
sông lớn, chế độ nhật triều của vịnh Thái Lan và bán nhật triều của biển Đông, ở khu vực
này mỗi ngày có hai con nước lớn và ròng. Điều kiện địa lý ảnh hưởng rất lớn đến đời
sống và sinh hoạt của dân cư, hình thành nền "văn minh sông nước", "văn minh miệt
vườn" (theo cách gọi của nhà văn Sơn Nam). Dân cư vùng này được hình thành với nhiều
nguồn gốc khác nhau, đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo. Tổng số dân trên 17 triệu, với
nhiều dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, Chăm trong đó, bà con Khmer có khoảng hơn
1.100.000 người, chiếm khoảng 6,5% dân số toàn khu vực. Hai tỉnh Sóc Trăng và Trà
Vinh có tỷ lệ dân số là người Khmer cao nhất, 28-30%. Phần lớn bà con các dân tộc thiểu
số trong vùng đều biết tiếng Việt, cùng với bà con người Kinh chung sống hoà hợp từ lâu
đời ĐBSCL cũng là nơi tập trung nhiều hệ phái, tổ chức tôn giáo, như Phật giáo, Cao
Đài, Hoà Hảo, Thiên Chúa giáo, Tin lành Riêng người Việt gốc Khmer chủ yếu theo
Phật giáo tiểu thừa, có quan hệ thường xuyên, lâu đời với Phật giáo Campuchia; người
Việt gốc Chăm theo đạo Hồi, có quan hệ với các nước Hồi giáo trong khu vực. Phật giáo
Hoà Hảo có gần 2 triệu tín đồ.
Xác định vị trí, tầm quan trọng chiến lược của ĐBSCL trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như xuất phát từ thực tế tình hình, Đảng,
Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều chủ trương lớn nhằm phát huy sức mạnh nội
tại của vùng; tạo sự liên kết giữa các vùng miền, cùng sự chi viện của trung ương, để
ĐBSCL vượt qua thử thách, vươn lên nhanh và mạnh hơn nữa, góp phần xứng đáng
vào sự phát triển chung của đất nước.
Chính những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và dân cư của ĐBSCL với
những nét đặc thù rất riêng đã tạo nên tính cách của người dân nơi đây. Đó là chuộng tự
do dân chủ, trọng lẽ công bằng, bình đẳng, sống nghĩa tình và có chí khí, tự chủ, năng
động, sáng tạo, thiết thực và luôn thích nghi với hoàn cảnh… Những đặc tính của người
dân vùng này được hình thành từ đặc điểm sinh thái cũng như lịch sử khai khẩn vùng đất
Tre lúc bấy giờ vừa điều hành công việc chung, vừa viết tin bài, biên tập, lên chương
trình và kiêm luôn vai trò PTV.
Đến ngày 22.07.1985 Đài được đổi tên thành "Đài Phát thanh và Truyền hình
Bến Tre". Ngày 7.3.2009, Đài PT&TH Bến Tre là đưa vào hoạt động máy phát sóng FM
công suất 10KW, tần số 97,9MHz, phát song song cùng hệ AM. Đây là bước tiến mới
trên lĩnh vực phát thanh của Đài.
Trước đây, chương trình phát thanh của Đài PT&TH Bến Tre phát trên sóng AM
với thời lượng 4 tiếng/ngày. Trong đó, 2 chương trình thời sự được phát vào 3 buổi sáng,
trưa và chiều, với tổng thời lượng 30 phút/ngày. Ngoài ra, còn có khoảng 10 chuyên mục,
bản tin và 3 chương trình ca nhạc, sân khấu tổng hợp phát xen kẻ với quảng cáo.
Từ ngày 7.3.2009, Đài Bến Tre phát thêm sóng FM với thời lượng 14 tiếng/ngày,
phát song song với AM. Trong đó, 2 chương trình thời sự được bố trí phát 4 buổivới tổng
thời lượng 60 phút/ngày. Số chuyên mục, bản tin tăng lên trên 20 đầu mục/ngày, cùng
với hơn 10 chương trình ca nhạc, cải lương, sân khấu tổng hợp, đọc truyện…
1.2.1.2. Từ Đài Tiếng nói nhân dân Đồng Tháp đến Đài Phát thanh và Truyền
hình Đồng Tháp
Đồng Tháp là tên rút gọn địa danh lịch sử Đồng Tháp Mười, nổi tiếng trong hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đồng Tháp Mười được biết đến
là vùng đất khắc nghiệt chua phèn, muỗi, đỉa và đồng ruộng bạt ngàn bưng lác, nước
ngập trắng xóa ruộng đồng hàng triệu hécta… Kỳ tích trên 30 năm xây dựng và phát triển
của Đảng bộ và nhân dân Đồng Tháp là đã nỗ lực khai thác có hiệu quả tài nguyên trên
vùng đất của mình, biến điểm bất lợi là đất ngập nước, chua phèn thành lợi thế riêng.
Vùng đất hoang Đồng Tháp Mười trở thành tỉnh sản xuất lúa có sản lượng đứng thứ ba
trong vùng.
Những sự chuyển biến tích cực đó của tỉnh Đồng Tháp có sự đóng góp không
nhỏ của báo chí tỉnh nhà. Đài Tiếng nói nhân dân Đồng Tháp chính thức thành lập ngày
25.5.1977. Đây cũng là một trong các đài tỉnh được thành lập sớm nhất ở khu vực
ĐBSCL. Buổi phát thanh đầu tiên của đài vào ngày 2.9.1977 có băng ghi âm lời Bác Hồ
đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình; bài viết về chi bộ Đảng Mỹ An Hưng
ngày, sáng từ 05g đến 07g30, trưa từ 11g30 đến 12g30 và chiều từ 17g00 đến 18g00. Từ
ngày 15.4.2009 Đài PT&TH Long An có thêm sóng FM tần số 96,9Mhz, thời lượng phát
sóng 14 giờ mỗi ngày và sẽ tăng lên 17 giờ mỗi ngày vào cuối năm 2009. Ngoài ba
chương trình thời sự, hiện nay Phát thanh Long An còn có trên trên 30 bản tin, chuyên
mục, và chương trình khoa giáo, giải trí phát hàng ngày trên cả hai hệ AM và FM. Trước
kia, các chương trình thu sẵn phát sóng, những năm gần đây Long An ứng dụng công
nghệ số, bước đầu sản xuất một số chương trình PTTT.
1.2.1.4. Vài nét về phát thanh ở Tiền Giang
Tỉnh Tiền Giang là dải đất hẹp trải dọc theo con sông Tiền và 32 km bờ biển,
cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Nam. Trên nền tảng của văn hoá Việt, Tiền
Giang còn tiếp cận với nền văn hoá Ấn Độ, Khmer, Trung Quốc qua người Hoa, Hồi giáo
qua người Chăm. Mảnh đất Tiền Giang sản sinh ra những bậc nghĩa sĩ, sẵn sàng hy sinh
bảo vệ non sông, đất nước mà ngày nay còn in dấu ở di tích Rạch Gầm - Xoài Mút, khu
di tích anh hùng dân tộc Trương Định, Lũy pháo đài, di tích Ấp Bắc…
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tỉnh Tiền Giang được thành lập trên
cơ sở sát nhập hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công. Đài Phát thanh Tiền Giang được thành lập
từ cuối năm 1977, trên cở sở Đài Truyền thanh thành phố Mỹ Tho, do Ông Cao Văn Sáu,
Trưởng Ban tuyên giáo tỉnh ủy kiêm Giám đốc với 10 nhân sự vừa là cán bộ khung vừa
là PV, BTV, PTV và nhân viên. Ban đầu Đài chỉ hoạt động như một trạm truyền thanh,
trụ sở đặt tạm tại Sở Văn hóa thông tin và Đài Truyền thanh thành phố Mỹ Tho. Trang
thiết bị vỏn vẹn 01 máy phát sóng 01kw do Đài Loan sản xuất, đặt tại khu vực trụ sở
UBND có dây truyền dẫn về Sở Văn hóa. Những ngày đầu máy hư hỏng nặng không hoạt
động được.
Đến tháng 5.1978, Đài Tiền Giang được giao ngôi nhà ở số 125 Lê Thị Hồng
Gấm và tiến hành xây dựng antenna cao 60m với 30m là ống nước hàn lại. Ngày
16.9.1978, Đài Tiền Giang chính thức phát sóng trên tần số 1225 khz với phạm vi phủ
sóng khoảng 60km. Đây là tỉnh cuối cùng trong khu vực ĐBSCL lên sóng phát thanh.
Những ngày đầu Đài chỉ phát 120 phút với 3 buổi phát sóng. Đội ngũ PV, BTV
chỉ có 4 người có trình độ đại học, còn lại mới tốt nghiệp lớp 12. Phòng kỹ thuật có 20