tiểu luận - tích lũy tư bản chủ nghĩa - Pdf 15


Tiểu luận
Kinh tế chính trị Mác - Lênin phần kinh tế tư bản chủ nghĩa

Đề bài:

Tích lũy tư bản chủ nghĩa

mặc dù tái sản xuất này chỉ là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô không thay đổi,
nhưng sự lặp đi lặplại giản đơn ấy, hay tính chất liên tục ấy, cũng đem lại cho quá trình
những nét mới hay nói cho đúng hơn, nó xóa bỏ những nét có vẻ như là đặc trưng của
quá trình đó khi chỉ là một hành vi cá biệt".
(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, tr.9-10).
Quá trình sản xuất mở đầu với việc mua sức lao động cho một thời gian nhất
định, và việc mở đầu ấy thường xuyên lắp lại một khi cái thời hạn mua lao động chấm
dứt, và đồng thời một thời kỳ sản xuất nhất định.

Quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình tái sản xuất ra của cải (tư
liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng) dưới hình thức tư bản. Là quá trình tái sản xuất ra lao
động làm thuê, và là quá trình tái sản xuất ra quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa - quan
hệ bóc lột của giai cấp tư bản đối với giai cấp công nhân dưới hình thái giá trị thặng dư.
"Những người công nhân thì chỉ được trả công sau khi sức lao động của người
đó đã phát huy tác dụng và đã thực hiện được giá trị của bản thân nó, cũng như giá trị
thặng dư năm ở trong các hàng hóa. Như thế là người công nhân đã sản xuất ra cả số
giá trị thặng dư mà chúng ta tạm thời coi như là quỹ tiêu dùng của nhà tư bản, lẫn cái
quỹ dùng để trả công cho chính mình, tức là tư bản khả biến, trước khi tư bản khả biến
trở về tay anh ta dưới dạng tiền công, và anh ta chỉ có việc làm chứng nào anh ta còn
không ngừng tái sản xuất ra tư bản khả biến ấy".
(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, C21, tr.9-10).
3. Tái sản xuất mở rộng
Tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa là sự lặp lại quá trình sản xuất theo quy
mô lớn hơn trước, với sự tư bản lớn hơn trước.
"Là một kẻ cuồng tín việc làm tăng thêm giá trị, nhà tư bản thẳng tay cưỡng
bức loài người phải sản xuất để sản xuất, do đó hắn cưỡng bức họ phải phát triển những
lực lượng sản xuất xã hội và tạo ra những điều kiện sản xuất vật chất, mà chỉ một mình

kiện.
- Một là: Phải có một phần sản phẩm thặng dư chuyển hóa thành tư bản. Nhưng
phần sản phẩm này phải đảm bảo cho quá trình sản xuất và nuôi sống công nhân, tức là
phải bao hàm cả tư liệu sản xuất lẫn tư liệu tiêu dùng.
"Muốn tích luỹ, cần phải biến một sản phẩm thặng dư thành tư bản. Nhưng nếu
không phải là có phép lạ thì người ta chỉ có thể biến thành tư bản những vật phẩm có
thể nuôi sống công nhân, tức là những tư liệu sinh hoạt. Do đó một phần lao động thặng
dư hàng năm phải dùng để sản xuất thêm một số tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt
ngoài số cần thiết để hoàn lại tư bản đã ứng ra. Nói tóm lại, sở dĩ giá trị thặng dư có thể
biến thành tư bản là chỉ vì sản phẩm thặng dư - mà giá trị của nó là giá trị thặng dư, đã
bao gồm sẵn những yếu tố vật thể của một tư bản mới rồi".
(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, C22, tr.35).
- Hai là: phải có lao động phụ thêm. Chính nhờ có lao động mới làm cho các
yếu tố đó được thực sự hoạt động với tư cách là tư bản. Lao động phụ thêm có thể thực
hiện được bằng hai cách: hoặc là kéo dài thời gian lao động hoặc tăng cường độ lao
động của số công nhân hiện có hoặc phải tuyển thêm lao động mới.

"Nhưng muốn làm cho các yếu tố đó thực sự hoạt động với tư cách là tư bản,
thì giai cấp các nhà tư bản cần có thêm một số lao động. Nếu việc bóc lột những công
nhân đang làm việc không thể tăng thêm bằng cách kéo dài thì giờ hay nâng cao cường
độ, thì phải tuyển thêm sức lao động".
(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, C22, tr.35).
3. Những kết luận C.Mác rút ra từ việc nghiên cứu tái sản xuất mở rộng
Những kết luận mà C.Mác rút ra từ việc nghiên cứu tái sản xuất giản đơn vẫn
biểu hiện đầy đủ trong tái sản xuất mở rộng. Song nghiên cứu tái sản xuất mở rộng
C.Mác còn rút ra một số kết luận sau:
Sự phân tích trên đã chỉ rõ tư bản tích luỹ là giá trị thặng dư chuyển hóa thành

quyết định".
(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, C22, tr.66).
a. Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động
- Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền công:
C.Mác giả định rằng người công nhân nhận được tiền công đúng giá trị sức lao động
của mình. Nhưng trong thực tế nhà tư bản còn cắt xén một phần tiền công để tăng tích
luỹ tư bản.
"Nhưng trong thực tế việc cướng ép hạ tiền công xuống thấp hơn giá trị sức lao
động đóng một vai trò quá quan trọng, khiến cho chúng ta không thể không nói qua đến
vấn đề ấy. Trong những giới hạn nhất định, việc đó thực tế đem biến quỹ tiêu dùng cần
thiết của công nhân thành quỹ tích luỹ của tư bản".
(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, C22, tr.69).
Và "nhưng nếu như công nhân có thể sống bằng không khí thì người ta không
thể mua họ bằng bất cứ giá nào. Do đó, lao động không mất tiền là một giới hạn theo
nghĩa toán học. Không bao giờ có thể đạt tới giới hạn đó tùy rằng bao giờ cũng có thể
tiến đến gần nó. Xu hướng thường xuyên của tư bản là muốn học tiền công xuống tới
điểm hư vô đó".
(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, C22, tr.69).
Vậy nhà tư bản không chỉ chiếm đoạt lao động thặng dư mà còn chiếm đoạt cả
một phần lao động tất yếu của công nhân, biến một phần quý tiêu dùng của công nhân
thành tích luỹ tư bản.
Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng cường độ lao động và
kéo dài ngày lao động. Việc tăng cường độ lao động rõ ràng làm tăng thêm giá trị thặng
dư, do đó làm tăng bộ phận giá trị thặng dư tư bản hóa, tức là làm tăng tích luỹ. Số

lượng lao động tăng thêm mà nhà tư bản chiếm không do tăng cường độ lao động và
kéo dài ngày lao động không đòi hỏi phải tăng thêm tư bản một cách tương ứng. Hơn
- Năng suất lao động cao làm cho giá cả hàng hóa giảm. Do đó, với một khối
lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ có thể mua được tư liệu sản xuất và
sức lao động phụ thêm nhiều hơn, mặt khác phần dành cho tiêu dùng của nhà tư bản có
thể giảm để tăng tích luỹ mà không ảnh hưởng đến tiêu dùng của họ.
"Sức sản xuất của lao động mà tăng lên thì khối lượng sản phẩm, biểu hiện một
giá trị nhất định, và do đó biểu hiện một đại lượng giá trị thặng dư nhất định cũng tăng
lên. Với một tỷ suất giá trị thặng dư không thay đổi, hay thậm chí với một tỷ suất giá trị
thặng dư đang giảm xuống, thì khối lượng sản phẩm thặng dư vẫn tăng lên, miễn là tỷ
suất giá trị thặng dư giảm xuống chậm hơn mức tăng của sức sản xuất của lao động.
Với một tỷ lệ phân chia sản phẩm thặng dư thành thu nhập và tư bản phụ thêm không
thay đổi, sự tiêu dùng của nhà tư bản vẫn có thể tăng lên mà không cần giảm tích luỹ".
(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, C22, tr.77).
- Sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật sẽ tạo ra nhiều yếu tố phụ thêm
cho tích luỹ. Khoa học kỹ thuật càng phát triển thì các máy móc, thiết bị được thay
thế bằng những máy móc mới tiến bộ hơn, có hiệu quả cao hơn, năng suất lao động cao
hơn, do đó quy mô tích luỹ cũng như hiệu quả tích luỹ sẽ cao hơn. Năng suất lao động
cao thì lao động sống sử dụng được nhiều lao động quá khứ hơn.
"Cũng vẫn là một giá trị tư bản khả biến ấy lại vận dụng được nhiều sức lao
động hơn, và do đó nhiều lao động hơn. Cũng vẫn một giá trị tư bản bất biến ấy lại biểu
hiện thành một lượng tư liệu sản xuất nhiều hơn, tức là nhiều tư liệu lao động, vật liệu
lao động và vật liệu phụ hơn, do đó cung cấp nhiều yếu tố tạo ra sản phẩm, cũng như
nhiều yếu tố tạo ra giá trị hơn hay nhiều yếu tố hấp thụ lao động hơn. Vì vậy, giá trị của
tư bản phụ thêm không thay đổi hay thậm chí giảm xuống, tích luỹ cũng vẫn được đẩy
nhanh".
Và "mỗi một sự tiến bộ trong lĩnh vực hóa học đều không những làm tăng thêm
số lượng những chất có ích và công dụng của những chất đã biết, và do đó mở rộng
phạm vi đầu tư tư bản cùng với sự tăng lên của tư bản. Sự tiến bộ của hóa học cũng còn
dạy cho người ta đưa những vật thải ra của quá trình sản xuất và quá trình tiêu dùng

"Vì các tư liệu lao động ấy được dùng làm những cái tạo ra sản phẩm nhưng lại
không nhập thêm giá trị vào sản phẩm, nghĩa là vì chúng được sử dụng toàn bộ nhưng
chỉ bị tiêu dùng từng phần thôi, cho nên, như đã nhắc tới trên kia, các tư liệu đó phục
vụ không công giống như: nước, hơi nước, không khí, Những sự phục vụ không công
đó của lao động quá khứ, được lao động sống làm nắm lấy và làm sống lại, đang được
tích luỹ lại cùng với quy mô ngày càng tăng của tích luỹ".

(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, C22, tr.82-83-84).
Chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển, khối lượng tư bản ngày càng nhiều,
cùng với nó khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại máy móc ngày càng tinh vi thì sự
chênh lệch giữa tư bản tiêu dùng và tư bản sử dụng ngày càng lớn. Do đó, tích luỹ tư
bản ngày càng cao.
d) Quy mô của tư bản ứng trước
Với mức độ không đổi thì khối lượng giá trị thặng dư do số lao động công nhân
bị bóc lột quyết định. Do đó, quy mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản khả
biến càng lớn thì giá trị thặng dư bóc lột được và quy mô tích luỹ càng lớn. Như vậy,
khi đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản xuất càng mở rộng, kỹ thuật
sản xuất càng hiện đại, do đó các động lực thúc đẩy sản xuất giá trị thặng dư càng có
tác động mạnh.
"Tư bản càng tăng lên bao nhiêu nhờ những sự tích luỹ liên tiếp, thì tổng số giá
trị được chia thành quỹ tiêu dùng và quỹ tích luỹ cũng càng tăng lên bấy nhiêu. Nhà tư
bản có thể nhờ đó mà sống xa hoa hơn và đồng thời lại "hy sinh" được nhiều hơn. Và
cuối cùng quy mô sản xuất càng mở rộng hơn cùng với khối lượng tư bản ứng trước, thì
tất cả động lực thúc đẩy sản xuất lại càng tác động mạnh mẽ hơn".
(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, C22, tr.85).
Tóm lại, để tăng quy mô tích luỹ tư bản, các nhà tư bản phải sử dụng nhiều
nhân tố: nâng cao trình độ bóc lột sức lao động, nâng cao năng suất lao động xã hội, sử

a) Tích tụ tư bản:
Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá
trị thặng dư. Như vậy, tích tụ tư bản là kết quả trực tiếp của tích luỹ. Tích tụ tư bản làm
cho tư bản cá biệt và tư bản xã hội đều tăng. Tích tụ tư bản biểu hiện trực tiếp quan hệ
giữa tư bản và lao động làm thuê.
"Mỗi tư bản cá biệt bao gồm trong tư bản xã hội đều đại biểu trước hết cho một
sự tích tụ nào đó của những tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt của lao động vào tay
một nhà tư bản, và tư bản càng tích luỹ thì sự tích tụ này càng mở rộng. Như vậy là
trong khi làm tăng thêm những yếu tố tái sản xuất của cải thì đồng thời tích luỹ cũng
làm tăng thêm sự tích tụ những yếu tố ấy trong tay những nhà tư bản tư nhân. Tuy
nhiên, loại tích tụ này là hậu quả tất nhiên của tích luỹ, lại vận động trong những giới
hạn ít nhiều chật hẹp".
(Trích: C.Mác bộ"Tư bản", quyển I, tập 3, C23, tr.92-92).

Tích tụ tư bản bị một xu hướng ngược lại cản trở, đó là xu hướng phân tán của
tư bản. Xu hướng này biểu hiện ở chỗ: hoặc tư bản mới tích luỹ không nhập vào tư bản
cũ mà tách ra thành một tư bản mới hoạt động độc lập, hoặc một tư bản cũ bị phân chia
thành nhiều tư bản nhỏ, như trong trường hợp chia gia tài Nhưng xu hướng này lại bị
xu hướng tập trung tư bản cản trở và lấn át. Tích tụ tư bản là một yếu tố tất yếu, bởi vì
một mặt đó là yêu cầu của quyluật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản của cạnh tranh
và của tiến bộ kỹ thuật. Mặt khác trình độ bóc lột và khối lượng giá trị thặng dư bóc lột
được ngày càng tăng trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản là điều kiện vật
chất làm cho khả năng tư bản hóa giá trị thặng dư biến thành hiện thực tích luỹ tư bản.
"Như vậy là sự vận động tích tụ không những cũng phân tán trên bấy nhiêu
điểm, giống như tích luỹ mà tình trạng chia nhỏ tư bản xã hội thành vô số những tư bản
độc lập với nhau lại được củng cố chính bởi vì mỗi tư bản cá biệt đều hoạt động như
trung tâm tích tụ tương đối. Vì tổng số các món lợi nhuận mà tích luỹ đem tăng thêm

một sự tổ chức một cách rộng lớn hơn của lao động tập thể, cho một sự phát triển một
cách rộng rãi hơn của những thủ đoạn vật chất c ủa lao động, nói tóm lại là điểm xuất
phát cho sự chuyển biến dần dần từ những quá trình sản xuất xã hội kết hợp và xếp đặt
một cách khoa học. Nhưng hiển nhiên là tích luỹ, tức là sự tăng lên dần dần của tư bản
nhờ tái sản xuất theo hình xoáy trôn ốc, chỉ là một phương pháp chậm chạp so với
phương pháp tập trung là phương pháp trước nhất chỉ làm thay đổi sự bố trí về lượng
của bộ phận cấu thành của tư bản xã hội. Nếu như phải nhờ đợi đến lúc những tư bản cá
biệt nhờ tích luỹ mà lớn lên đủ để có thể đảm nhiệm được việc xây dựng các đường sắt
chẳng hạn, thì thế giới sẽ chưa thể có được hệ thống các đường sắt. Sự tập trung tư bản
thông qua các Công ty cổ phần đã làm được việc đó, có thể nói là trong chốc lát. Trong
khi làm cho những tác dụng của tích luỹ trở nên rộng lớn hơn và mau chóng hơn như
vậy, sự tập trung mở rộng và đẩy nhanh thêm những sự biến đổi trong cấu thành kỹ
thuật của tư bản, những sự biến đổi làm tăng thêm bộ phận bất biến của tư bản bằng
cách lấn sang bộ phận khả biến của nó, hay là tạo nên một số sự giảm sút trong số cần
tương đối về lao động. Những tư bản lớn do tập trung tạo nên một cách mau chóng,
cũng tự tái sản xuất ra bản thân như các tư bản khác, nhưng nhanh hơn và do đó, chúng
lại trở thành những đòn bẩy mạnh mẽ của tích luỹ xã hội. Chính trên ý nghĩa đó mà khi
nói đến sự tăng lên của tích luỹ xã hội, người ta đã ngụ ý, nói bao hàm cả những tác
dụng cho tập trung tạo ra".
(Sách đã dẫn, tr.96-97).

(Kinh tế - chính trị Mác - Lênin (trích tác phẩm kinh điển) Nhà xuất bản Sách
giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội, 1978, tr.266).
3. Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình hình thành đội quân thất nghiệp
(nhân khẩu thừa)
" hậu quả tất nhiên của quy luật về sự giảm sút tương xứng của tư bản khả
biến và về sự giảm sút tương đương trong số cầu tương đối về lao động là: tư bản khả

" Những lợi ích bảo thủ mà Man - tuýt phụng sự, đã ngăn cản không cho ông
ta thấy rằng việc kéo dài quá đáng ngày lao động cộng thêm sự phát triển lạ thường của
máy móc và sự bóc lột ngày càng tăng đối với lao động của phụ nữ và trẻ em, tất sẽ làm
cho phần lớn giai cấp công nhân trở thành "dư thừa" một khi chiến tranh đã kết liễu và
nước Anh mất quyền độc chiếm thị trường thế giới. Giải thích nạn nhân khẩu thừa ấy
bằng những quy luật vĩnh viễn của thiên nhiên chứ không phải bằng những quy luật
lịch sử của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, như thế tất nhiên là tiện hơn và thích hợp
hơn với lợi ích của các giai cấp cầm quyền, mà Man-tuýt đã sùng bái với tư cách là
mục sư chính cống).
(C.Mác "Bộ Tư bản", quyển 1, tập 2, tr.287).
4. Quy luật chung của tích luỹ tư bản
"Của cải xã hội càng nhiều, tư bản được sử dụng càng lớn, quy mô và năng lực
tích luỹ của tư bản càng lớn và cũng do đó số lượng tuyệt đối của giai cấp công nhân và
năng lực sản xuất của lao động của họ càng lớn, thì đạo quân công nghiệp trừ bị càng
động. Cũng vẫn những nguyên nhân đã phát triển sức bành trướng của tư bản thì đồng
thời cũng gây ra tình trạng sa thải sức lao động, và đạo quân công nghiệp trừ bị như
vậy là phải tăng lên cùng với những tiềm lực của của cải. Nhưng đạo quân trừ bị càng
lớn lên so với đạo quân lao động tại ngũ thì nhân khẩu thừa thường xuyên cũng càng
lớn lên, mà sự cùng khổ của số nhân khẩu thừa này thì theo tỷ lệ nghịch với lao động
mà họ bị bắt buộc phải làm. Sau hết cái lớp những người đi ăn xin này của giai cấp làm
thuê càng tăng thêm thì lớp người bần cùng được các nhà chức trách chính thức công
nhận cũng càng tăng thêm. Đó là quy tắc chung của tích luỹ tư bản chủ nghĩa
Nhưng tất cả những phương pháp giúp vào việc sản xuất ra giá trị thặng dư,
cũng đều tạo điều kiện thuận lợi cho tích luỹ và mọi sự mở rộng của tích luỹ, đến lượt
nó, đều lại làm cho những phương pháp nói trên phát triển lên. Kết quả là mặc dầu
định nghịch tiền công cao hay thấp như thế nào, nhưng tư bản càng tích luỹ lại thì tình
cảnh của người lao động nhất định càng tồi tệ hơn trước

6. Xu hướng lịch sử của tích luỹ tư bản

"Quá trình tiêu hủy của phương thức sản xuất đó (phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa) biến nhưng tư liệu sản xuất cá nhân và phân tán thành những tư liệu sản
xuất tập trung về mặt xã hội, biến quyền sở hữu nhỏ bé của số đông thành quyền sở hữu
to lớn của một vài người, cái việc tước đoạt nhân dân lao động một cách đau đớn, ghê
sợ như thế, đấy chính là những nguồn gốc của tư bản, là sự phát sinh của tư bản. Sự
phát sinh này được tiến hành bằng cả một loạt những phương pháp bạo lực, mà chúng
ta chỉ mưói xét những phương pháp nổi bật nhất, dưới cái tên là những phương pháp
tích luỹ nguyên thủy.
Việc tước đoạt những người sản xuất trực tiếp đã được tiến hành bằng một lối
phá hoại tàn nhẫn được sự kích thích của những động cơ ty tiện nhất, của những dục
vọng nhỏ nhen bẩn thỉu nhất và đáng ghét nhất. Chế độ tư hữu dựa trên lao động cá
nhân, cái chế độ tư hữu dựa trên lao động cá nhân, cái chế độ tư hữu có thể nói là nó
gắn liền với người lao động cá thể và độc lập vào những điều kiện bên ngoài của lao
động, sẽ bị thay thế bởi chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa dựa trên sự bóc lột lao động của
người khác trên chế độ làm thuê.
Khi quá trình biến chuyển ấy đã phân hóa xã hội cũ một cách đầy đủ và triệt để
khi những người sản xuất biến thành vô sản và những điều kiện lao động của họ biến
thành tư bản, và cuối cùng khi chế độ tư bản chủ nghĩa, đứng vững được chỉ là nhờ có
độc lực lượng kinh tế của các sự vật, thì khi ấy, sự xã hội hóa sau này của lao động và
việc biến dần ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác thành những tư liệu sản xuất do xã
hội sử dụng, thành những tư liệu sản xuất chung, tóm lại là việc tước đoạt quyền tư hữu
sau này, sẽ mang một hình thái mới. Bấy giờ kẻ bị tước đoạt không phải là người lao
động độc lập nữa mà là nhà tư bản, người điều khiển một đoàn quân hay một tốp người
làm thuê.
Sự tước đoạt đó được hoàn thành bởi tác dụng của những quy luật nội tại của

tác và sự sở hữu chung về tất cả những tư liệu sản xuất, kể cả ruộng đất.
Muốn biến tài sản tư hữu và phân tán, đối tượng của lao động cá nhân, thành tài
sản tư bản chủ nghĩa, thì dĩ nhiên là đã phải tốn nhiều thời gian, nhiều cố gắng và gian
khổ hơn là biến tài sản tư bản chủ nghĩa là tài sản thực ra đã dựa trên một phương thức
sản xuất tập thể, thành tài sản xã hội. Một đằng là vấn đề một số ít kẻ tiếm đoạt tước
đoạt quần chúng; một đằng lại là quần chúng tước đoạt một số ít kẻ tiếm đoạt".
(C.Mác "Bộ Tư bản", quyển 1, tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.287-290).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status