khóa luận tốt nghiệp đánh giá hoạt động quảng bá sản phẩm của khách sạn luxe - đồng hới - quảng bình - Pdf 15

Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Du lịch từ lâu đã là nhu cầu không thể thiếu của con người, tuy nhiên chỉ những
năm gần đây, khi đời sống con người ngày càng nâng cao thì hoạt động du lịch mới
thực sự thăng hoa và nở rộ. Góp phần rất quan trọng trong sự “thăng hoa” ấy chính là
hoạt động quảng bá của ngành du lịch. Quảng bá như một cầu nối du lịch đến tay
người tiêu dùng, là công cụ gián tiếp tạo ra nguồn khách du lịch, khai thác tối đa công
suất sử dụng cơ sở vật chất của ngành. Đặc biệt trong những năm gần đây, khi cả thế
giới đều phải đương đầu với những khó khăn về khủng hoảng kinh tế, an ninh chính
trị, thiên tai… rất nhiều nước coi ngành du lịch là một trong những động lực để kéo
nền kinh tế vượt qua khủng hoảng nên đã đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá nhằm thu
hút khách du lịch quốc tế khiến sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt. Hoạt
động quảng bá ngày càng được ngành du lịch nước ta rất chú trọng với mục tiêu thu
hút khách hàng, xây dựng vị thế cạnh tranh trên thị trường, nỗ lực đưa Việt Nam trở
thành một điểm đến bền vững. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu quảng bá sản
phẩm du lịch, để từ đó đưa ra chiến lược quảng bá phù hợp được xem là chìa khoá
quan trọng quyết định con đường của du lịch Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp
kinh doanh du lịch nói riêng trong môi trường cạnh tranh hiện nay.
Nằm trên dải đất miền trung đầy nắng và gió, nằm ở cửa ngõ đường vô xứ Huế,
gối đầu lên đỉnh đèo Ngang thơ mộng, Quảng Bình được du khách biết đến là một
điểm đến hấp dẫn của miền trung. Nhắc đến Quảng Bình, người ta nghĩ ngay đến
thành phố Đồng Hới thơ mộng với nhiều danh lam thắng cảnh, các cơ sở phục vụ
nhu cầu thiết yếu của du khách ở ngay tại thành phố. Cũng chính vì lý do này mà hầu
hết các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch tập trung chủ yếu tại thành phố Đồng Hới
làm cho nơi đây trở thành một trung tâm du lịch trọng điểm của tỉnh, nơi tập trung
chủ yếu các cơ sở hạ tầng phục vụ du khách. Do đó, nghiên cứu du lịch của thành
phố Đồng Hới là có thể khái quát được du lịch của Quảng Bình. Đặc biệt các cơ sở
kinh doanh lưu trú được xếp hạng sao đều tập trung ở thành phố Đồng Hới. Riêng tại
khu vực Đồng Hới khách sạn 2 sao được xây dựng khá nhiều và mặc dù được đầu tư
1
Khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp
Phạm vi không gian thu nhỏ tại khách sạn Luxe, thành phố Đồng Hới, tỉnh
Quảng Bình. Các số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn điều tra khách hàng
trong tháng 3 và tháng 4 năm 2010, các số liệu thứ cấp từ các phòng ban trong giai
đoạn 2008 – 2010. Đề xuất giải pháp đến hết năm 2010.
Với các mục tiêu như trên, khóa luận của tôi đã sử dụng các phương pháp như:
phương pháp thu thập số liệu, bao gồm số liệu sơ cấp và thứ cấp; phương pháp chọn
mẫu; phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu điều tra; phương pháp phân tích
hoạt động kinh doanh; các số liệu điều tra phỏng vấn được xử lý bằng phần mềm
thống kê SPSS 16.0.
3
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG
QUẢNG BÁ SẢN PHẨM TRONG KHÁCH SẠN
1.1 Khái niệm khách sạn, sản phẩm khách sạn và đặc điểm của sản phẩm khách sạn
1.1.1 Khái niệm khách sạn
Thuật ngữ “hotel” - khách sạn có nguồn gốc từ tiếng Pháp và được sử dụng phổ
biến trên khắp thế giới. Vào thời trung cổ, nó dùng để chỉ những ngôi nhà sang trọng
của các lãnh chúa. Cùng với sự phát triển về kinh tế và đời sống con người ngày càng
được nâng cao thì hoạt động du lịch trong đó có kinh doanh khách sạn ngày càng phát
triển. Các khái niệm về khách sạn cũng không ngừng được hoàn thiện. Theo Thông tư
hướng dẫn số 01/2001/TT-TCDL ngày 27/4/2001 của Tổng Cục Du lịch về cơ sở lưu trú
thì: “Khách sạn (hotel) là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có qui mô từ 10
buồng ngủ trở lên, bảo đảm chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần
thiết phục vụ khách du lịch”. Theo giáo trình Marketing khách sạn - du lịch của bộ
môn Marketing Khách sạn - Du lịch trường Đại học Thương Mại Hà Nội thì khách sạn
được định nghĩa như sau: “Khách sạn là nơi cung cấp các dịch vụ ngủ, ăn uống,
phương tiện thông tin, các chương trình giải trí… cho khách đến ở với điều kiện khách
phải trả các khoản tiền dịch vụ trên”. Mặc dù khách sạn được phản ánh dưới nhiều

phẩm có giá trị về vật chất hoặc tinh thần (hay cũng có thể là một sự trải nghiệm, một
cảm giác về sự hài lòng hay không hài lòng) mà khách hàng đồng ý bỏ tiền ra để đổi lấy
chúng. Sản phẩm dịch vụ của khách sạn gồm 2 loại dịch vụ chính và dịch vụ bổ sung:
Dịch vụ chính là dịch vụ buồng ngủ và dịch vụ ăn uống, nhằm thỏa mãn nhu
cầu thiết yếu của của khách khi họ lưu lại khách sạn.
Dịch vụ bổ sung là dịch vụ khác ngoài hai loại dịch vụ trên nhằm thỏa mãn các
nhu cầu thứ yếu trong thời gian khách lưu lại khách sạn. Đối với dịch vụ bổ sung của
khách sạn, người ta lại chia thành dịch vụ bổ sung bắt buộc và dịch vụ bổ sung không
bắt buộc. Việc tồn tại dịch vụ bổ sung bắt buộc và dịch vụ bổ sung không bắt buộc phụ
thuộc vào qui định trong phân hạng khách sạn của mỗi quốc gia.
1.1.2.2 Đặc điểm của sản phẩm khách sạn
Sản phẩm khách sạn là các sản phẩm dịch vụ và có tính trọn gói bao gồm toàn
bộ các hoạt động diễn ra trong cả một quá trình từ khi nghe lời yêu cầu của khách đến
5
Khóa luận tốt nghiệp
khi khách rời khỏi khách sạn. Chúng ta có thể tóm gọn đặc điểm của sản phẩm khách
sạn trong các đặc điểm vô hình, không thể lưu kho cất trữ, tính cao cấp, tính tổng hợp
và có sự tham gia trực tiếp của người tiêu dùng, phụ thuộc vào cơ sở vật chất kỹ thuật.
Sản phẩm khách sạn mang tính vô hình. Do sản phẩm khách sạn là những dịch
vụ không tồn tại dưới dạng vật chất, không thể nhìn thấy hay sờ thấy nên người cung
cấp và cả người tiêu dùng đều không thể kiểm tra chất lượng của nó trước khi bán và
mua. Người ta cũng không thể vận chuyển sản phẩm dịch vụ khách sạn đến tay người
tiêu dùng trong không gian như những hàng hóa thông thường khác nên hệ thống phân
phối khách sạn chỉ có thể xuất phát từ một hướng: Khách phải đến tận khách sạn để
tiêu dùng dịch vụ. Đây là một điểm khó khăn không nhỏ trong việc marketing, quảng
bá sản phẩm khách sạn. Đồng thời cho thấy sự cần thiết phải tiến hành công tác quảng
bá thu hút khách đối với khách sạn nếu muốn tồn tại trên thị trường.
Sản phẩm khách sạn không thể lưu kho cất trữ. Quá trình sản xuất và tiêu dùng
diễn ra gần như đồng thời cả về không gian lẫn thời gian. Mỗi đêm nếu khách sạn
không bán được buồng cho khách, người ta cũng không thể đem số lượng buồng “ế”

- Khách hàng thường phải được rỉ tai mua, trước khi thấy sản phẩm.
- Sự trung thành của khách hàng đối với nhãn hiệu thường không sâu sắc.
- Hầu hết các sản phẩm bị cạnh tranh mạnh.
- Hầu hết sản phẩm đều bị dễ dàng thay thế.
Chính vì những lẽ trên mà sản phẩm khách sạn cần phải được quảng bá.
1.2.3 Các công cụ của quảng bá sản phẩm
Không có doanh nghiệp nào có kinh phí vô hạn để đầu tư vào quảng bá sản
phẩm. Mỗi danh nghiệp sẽ quyết định những công cụ quảng bá sản phẩm nào sẽ là
hiệu quả nhất và có tác dụng cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu quảng bá sản
phẩm của họ. Một hoạt động quảng bá sản phẩm hỗn hợp được phối hợp tốt sẽ kết hợp
sử dụng năm công cụ sau:
1.2.3.1 Quảng cáo
*Khái niệm quảng cáo
Quảng cáo (advertising) là hoạt động của các cá nhân hoặc các tổ chức sản xuất
và dịch vụ, sử dụng các phương tiện và phương thức truyền thông để thông báo cho
7
Khóa luận tốt nghiệp
công chúng về nhu cầu, khả năng của mình hoặc về lợi ích của những hàng hóa dịch
vụ nhất định nhằm gia tăng số lượng người tiêu dùng, sử dụng các hàng hoá, dịch vụ
đó và các cá nhân hoặc tổ chức đó phải thanh toán các chi phí.
* Những quyết định chủ yếu của quảng cáo
- Mục tiêu quảng cáo: Trong du lịch, nội dung mục tiêu quảng cáo nhằm hướng
vào các vấn đề sau: mở rộng vùng ảnh hưởng, tăng số lượng hàng hoá và dịch vụ được
tiêu thụ trên thị trường truyền thống, thu hút du khách, thu hút khách hàng mới tại địa
phương, giới thiệu đặc sản mới, sản phẩm mới, lôi cuốn khách hàng quen trở lại nhà
hàng hay khách sạn thường xuyên, tạo danh tiếng cho nhà hàng, khách sạn, điểm du
lịch.
Một bản quảng cáo về du lịch (khách sạn, nhà hàng, điểm du lịch ) cần hội đủ
những điều kiện sau: lôi cuốn sự chú ý, lưu giữ được sự chú ý một lúc để kích động
nhu cầu, ham muốn, thông báo về đặc tính của nhà hàng, khách sạn, điểm du lịch.

- Xác định chi phí khi tiến hành quảng cáo trên những phương tiện truyền thông
cụ thể (báo chí, radio, tivi…). Có bao nhiêu người sẽ xem quảng cáo này, mẫu quảng
cáo nên có kích cỡ như thế nào và cần bao nhiêu chi phí cho nó.
- Xác định khách hàng của bạn theo các yếu tố: nghề nghiệp, trình độ, phạm vi,
khu vực …
- Xác định phương tiện quảng cáo nào để thu hút khách hàng nhiều nhất.
- Tìm xem nơi nào sẽ đáp ứng yêu cầu của bạn với chi phí thấp nhất và thời hạn
ngắn nhất.
- Khi bạn đã chọn được nơi đáp ứng được những yêu cầu của bạn và có được thông
tin về kích cỡ, chi phí, thời hạn, nội dung… hãy xây dựng thành kế hoạch chi tiết.
- Lựa chọn phương tiện quảng cáo: Khách sạn cần căn cứ vào mục tiêu quảng
cáo, đối tượng quảng cáo và đối tượng nhận tin, mà chọn phương tiện truyền tin quảng
cáo cụ thể.
Những loại phương tiện quảng cáo chính, theo cường độ quảng cáo được xếp
theo thứ tự là: Báo chí, đài truyền hình, thư trực tiếp, truyền thanh, tạp chí và quảng
cáo ngoài trời như quảng cáo trên các tấm panô, áp phích, trên xe buýt…. Mỗi phương
tiện có một số ưu thế và hạn chế riêng do đó cần nghiên cứu kỹ đặc điểm của các
phương tiện để lựa chọn thích hợp.
Ngoài đặc điểm của các phương tiện truyền thông, người lựa chọn phương tiện
9
Khóa luận tốt nghiệp
cần lưu ý đến một số yếu tố sau: thói quen sử dụng phương tiện truyền thông của công
chúng mục tiêu, sản phẩm, thông điệp, chi phí.
Mỗi loại quảng cáo có một đối tượng, khách riêng, có ảnh hưởng khác nhau và
chi phí khác nhau. Tuy nhiên để đạt được hiệu quả cao trong quảng cáo cần chọn một
hoặc hai phương tiện để quảng cáo.
- Đánh giá hiệu quả quảng cáo: Đánh giá hiệu quả của quảng cáo là rất cần thiết
nhưng cũng rất khó khăn.
* Nghiên cứu hiệu quả của quảng cáo
+ Đánh giá trực tiếp: Đề nghị người tiêu dùng đánh giá các phương án quảng

cho các cuộc thi, trò chơi, phần thưởng cho khách hàng thường xuyên, liên kết khuyến
mãi, chiết giá, tăng mức hoa hồng…
1.2.3.3 Marketing trực tiếp
* Khái niệm marketing trực tiếp
Marketing trực tiếp (Direct marketing) là việc sử dụng một hoặc nhiều công cụ
quảng bá để ảnh hưởng đến quyết định mua của khách hàng và tạo nên các giao dịch
kinh doanh ở mọi địa điểm.
Marketing trực tiếp là hình thức sử dụng thư, điện thoại và những công cụ liên
lạc gián tiếp khác để thông tin cho những khách hàng hiện có và khách hàng tiềm năng
hay yêu cầu họ phản ứng đáp lại.
Các hình thức phổ biến của marketing trực tiếp là: Marketing bằng catalog, bằng
thư trực tiếp, marketing đáp ứng trực tiếp trên truyền hình, truyền thanh, báo và tạp
chí, mua hàng qua hệ thống điện tử…
1.2.3.4. Quan hệ công chúng
* Khái niệm quan hệ công chúng
Quan hệ công chúng (Public relations) bao gồm các chương trình khác nhau
được thiết kế nhằm đề cao hay bảo vệ hình ảnh của một doanh nghiệp hay những sản
phẩm và dịch vụ nhất định nào đó, tạo ra nhận thức có lợi của công chúng về sản phẩm
và dịch vụ.
Quan hệ công chúng được tiến hành thông qua các hoạt động như: Xuất bản ấn
phẩm, tổ chức các sự kiện, cung cấp tin tức để đăng tải trên các phương tiện truyền
thông, bài nói chuyện, tham gia hoạt động công ích, tạo lập hình ảnh của doanh nghiệp.
1.2.3.5 Bán hàng trực tiếp
11
Khóa luận tốt nghiệp
* Khái niệm bán hàng trực tiếp
Bán hàng trực tiếp (Personal selling) là việc nhân viên báng hàng của một doanh
nghiệp thực hiện trực tiếp việc bán hàng cho khách hàng. Nó là một loại ảnh hưởng cá
nhân và là một quá trình giao tiếp phức tạp. Tầm quan trọng của hoạt động bán hàng
trực tiếp phụ thuộc vào bản chất sản phẩm, nhu cầu của người tiêu dùng và giai đoạn

chơi và trò chơi có
thưởng
- Thưởng và quà
tặng
- Hàng mẫu
- Hội chợ và triễn
lãm thương mại
- Trưng bày
- Biểu diễn thực
hành sản phẩm
- Phiếu thưởng
- Bán kèm có bớt
giá
- Tài trợ lãi suất
thấp
- Tiếp khách
- Phiếu mua hàng
- Giảm giá
- Bài viết trên báo
chí (họp báo)
- Nói chuyện
(bài phát biểu)
- Hội thảo
- Báo cáo hàng
năm
- Đóng góp từ
thiện
- Tài trợ
- Tuyên truyền
- Quan hệ với cộng

(Nguồn: Quản trị Marketing - Philip Kotler)
12
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.4 Nội dung của hoạt động quảng bá sản phẩm
1.2.4.1 Xác định khách hàng mục tiêu
Muốn thực hiện quảng bá sản phẩm thì trước hết phải xác định rõ đối tượng cần
truyền thông tin là ai. Khách hàng đó có thể là những khách mua tiềm năng các sản
phẩm của khách sạn, những người sử dụng hiện tại, những người quyết định hoặc
những người gây ảnh hưởng. Khách hàng mục tiêu có thể là những cá nhân hay nhóm
người nào đó. Khách hàng mục tiêu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện quảng bá
sản phẩm đó là: Nói cái gì, nói như thế nào, nói khi nào, nói ở đâu và nói với ai. Thực
chất của việc lựa chọn thị trường mục tiêu là lựa chọn những nhóm khách hàng tiềm
năng mà công ty sẽ phục vụ với các sản phẩm nhất định. Những thị trường mục tiêu
được lựa chọn có thể là một, hay một số đoạn thị trường chính hay toàn bộ thị trường.
1.2.4.2 Xác định mục tiêu của quảng bá sản phẩm
Các mục tiêu quảng bá sản phẩm phải phù hợp với thị trường mục tiêu của doanh
nghiệp và nhu cầu của thị trường đó. Tất nhiên mục tiêu cuối cùng là làm cho khách
hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp. Tuy vậy, việc mua hàng của khách hàng là kết
quả của quá trình quyết định kéo dài. Quá trình quyết định mua hàng không phải là
một quá trình đơn giản. Các doanh nghiệp cần phải biết rõ hiện tại khách hàng mục
tiêu đang ở vị trí nào trong quá trình mua hàng của họ và giai đoạn sau sẽ là gì. Chính
điều này sẽ quyết định các mục tiêu quảng bá sản phẩm sau đây:
- Khơi dậy mối quan tâm đối với sản phẩm, ngay cả khi khách hàng chưa biết tới
sự tồn tại của sản phẩm.
- Thông báo cho khách hàng về sản phẩm và lợi ích của nó khi họ không hiểu rõ
về sản phẩm, về cách vận hành và những lợi ích mà sản phẩm có thể đem lại.
- Tạo lòng tin đối với sản phẩm và doanh nghiệp khi khách hàng đã biết về sản
phẩm nhưng chưa hoàn toàn tin vào giá trị của sản phẩm.
- Thuyết phục khách hàng rằng các lợi ích của sản phẩm lớn hơn chi phí họ bỏ ra
và để họ quyết định mua sản phẩm.

Các phương tiện truyền thông đại chúng bao gồm những phương tiện dưới dạng ấn
phẩm (thư trực tiếp, báo và tạp chí), những phương tiện truyền thông quảng bá (truyền
thanh, truyền hình), những phương tiện truyền thông điện tử (băng ghi âm và ghi hình,
đĩa ghi hình, internet) và những phương tiện trưng bày (panô, bảng hiệu, áp phích). Hầu
hết các thông điệp gián tiếp đều được truyền tải qua các phương tiện thông tin có trả
14
Khóa luận tốt nghiệp
tiền.
Bầu không khí là những khung cảnh có chủ tâm nhằm tạo ra hay củng cố xu
hướng mua và tiêu dùng sản phẩm. Môi trường vật chất này rất quan trọng đối với các
khách sạn.
Các sự kiện là những phương tiện truyền thông có hiệu quả, người truyền tin có
chủ ý tuyên truyền các thông điệp đặc biệt đến khách hàng mục tiêu nhân những sự
kiện chính trị, xã hội hoặc sự kiện của công ty với những hình thức phong phú như
họp báo, hội chợ, hội thảo…
Mặc dù có ít hiệu quả hơn truyền thông trực tiếp, các phương tiện truyền thông
đại chúng có thể là công cụ chủ yếu khuyến khích truyền thông trực tiếp.
1.2.4.5 Xây dựng ngân sách quảng bá
Xác định ngân sách cho hoạt động quảng bá là một quyết định khó khăn chi
phối lớn đến sự thành công, hiệu quả của hoạt động quảng bá. Có bốn phương pháp
phổ biến được sử dụng để xác định ngân sách dành cho quảng bá:
- Phương pháp xác định theo tỷ lệ phần trăm trên doanh số bán
- Phương pháp cân bằng cạnh tranh
- Phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ phải hoàn thành
- Khả năng ngân sách dành cho quảng bá
1.2.4.6 Lựa chọn các công cụ quảng bá sản phẩm
Mỗi một công cụ quảng bá có những đặc thù riêng và chi phí của nó. Người làm
công tác marketing phải nắm được những đặc điểm này khi lựa chọn chúng.
* Quảng cáo: Là một kiểu truyền thông có tính đại chúng, mang tính xã hội cao.
Quảng cáo là một phương tiện có khả năng thuyết phục, tạo cơ hội cho người nhận tin,

- Tín nhiệm cao: Nội dung và tính chất của thông tin có vẻ xác thực hơn và đáng
tin cậy hơn so với các hình thức quảng cáo cố định.
- Không cần cảnh giác: Quan hệ công chúng có thể đến được với nhiều khách
hàng là những người không chú ý đến quảng cáo hay né tránh tiếp xúc với nhân viên
bán hàng, thông điệp đến với họ là tin tức chứ không phải là thông báo bán hàng.
- Giới thiệu cụ thể: Quan hệ công chúng giống quảng cáo, có khả năng giới thiệu
cụ thể doanh nghiệp hay sản phẩm.
* Bán hàng trực tiếp: Bán hàng trực tiếp là một công cụ tác động hiệu quả nhất
ở những giai đoạn hình thành sự ưa thích và niềm tin của người mua và giai đoạn ra
quyết định mua trong quá trình mua hàng, đặc biệt đối với việc tham khảo thông tin,
16
Khóa luận tốt nghiệp
thuyết phục mua và quyết định mua của khách hàng. So với quảng cáo, bán hàng trực
tiếp có ba đặc điểm khác biệt sau:
- Trực diện: Bán hàng trực tiếp đòi hỏi mối quan hệ sinh động, trực tiếp và qua
lại giữa hai hay nhiều người. Mỗi bên tham dự có thể ngiên cứu trực tiếp những nhu
cầu và đặc điểm của nhau và có những điều chỉnh tức thời.
- Xây dựng quan hệ: Bán hàng trực tiếp cho phép thiết lập nhiều mối quan hệ, từ
quan hệ mua bán thông thường đến quan hệ bạn bè thân thiết.
- Phản ứng đáp lại: Bán hàng trực tiếp làm cho người mua có bổn phận lắng
nghe lời hào hàng. Người mua cần phải chú ý nghe và đáp lại, cho dù chỉ là lời cảm ơn
lịch sự.
Hạn chế lớn nhất của bán hàng trực tiếp là chi phí bán hàng lớn vì cần phải có
một lực lượng bán hàng tương đối lớn để duy trì các mối quan hệ với khách hàng.
* Marketing trực tiếp: Ưu điểm lớn nhất của marketing trực tiếp là có thể kết
hợp nhiều công cụ truyền thông marketing để ảnh hưởng đến quyết định mua của
khách hàng tạo nên các giao dịch kinh doanh ở mọi địa điểm và dần dần đi đến chỗ
bán hàng trực tiếp không thông qua trung gian. So với quảng cáo marketing trực tiếp
có ba đặc điểm khác biệt sau:
- Không công khai: Thông điệp thường được chuyển đến một người cụ thể và

nước, đóng góp một phần quan trọng vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân, tạo nhiều
công ăn việc làm, xuất khẩu tại chỗ, thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ,… được
Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm.
Đặc biệt, năm 2009 nhiều chương trình truyền thông lớn cũng được thực hiện
như lần đầu tiên quảng bá hình ảnh VN trên kênh truyền hình BBC World, lần thứ hai
trên kênh CNN, thông qua kênh Star World giới thiệu văn hóa, lịch sử, thiên nhiên,
con người Việt Nam, chi phí cho chương trình quảng bá CNN năm 2007 lên đến 4,7 tỷ
đồng. Trên đài truyền hình Trung ương cũng xây dựng các chương trình giới thiệu về
đất nước, con người, về các điểm du lịch trọng điểm của Việt Nam phát sóng định kỳ
trên các kênh của VTV.
Trên các báo viết có lượng phát hành lớn: Mở chuyên trang du lịch, cung cấp
thông tin cho độc giả về chính sách, định hướng phát triển, về vị trí, vai trò và hoạt
động của ngành trên các báo Tạp chí du lịch, Nhân Dân, Quan hệ quốc tế, Lao động,
Vietnam News, Báo ảnh Việt Nam.
18
Khóa luận tốt nghiệp
Về ấn phẩm đã in, phát hành trên 4,5 triệu ấn phẩm các loại bằng 5 ngoại ngữ:
Anh, Pháp, Trung, Nhật, Đức và một phần bằng tiếng Việt và chủ yếu sử dụng trong
các chiến dịch xúc tiến hình ảnh điểm đến ở nước ngoài như hội chợ, hội nghị, hội
thảo, diễn đàn về du lịch, festival… và cung cấp cho các cơ quan đại diện Việt Nam ở
nước ngoài.
Xây dựng, cập nhật những thông tin về du lịch trên các website để tăng cưởng
quảng bá hình ảnh thông tin về du lịch Việt Nam như www.vietnamtourism.com,
www.webdulich.com.vn xuất hiện nhiều website đặt phòng trực tuyến như
myhotelvietnam.com, www.hotels84.com, đáp ứng nhu cầu tìm kiếm, đặt chỗ trực
tuyến của khách hàng.
Tranh thủ các sự kiện quốc tế tổ chức ở Việt Nam: Chương trình thể thao tổng
hợp Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình
Dương (APEC), Hội nghị cấp cao ASEAN, RAID GAULOISES, SEA GAMES 22 và
PARA GAMES, hội nghị Bộ trưởng du lịch Đông Nam Á - Thái Bình Dương tại Huế,

xúc tiến tại chỗ, qua báo chí mới chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ đối với công chúng và
chưa thường xuyên, không đầy đủ. Kinh nghiệm các nước có du lịch phát triển trong
khu vực cho thấy văn phòng đại diện du lịch quốc gia ở nước ngoài sẽ khắc phục được
vướng mắc trên. Việc có văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài còn tạo điều kiện cho
Việt Nam tiếp cận với công nghệ mới, học hỏi kinh nghiệm phát triển du lịch và huy
động các nguồn lực tổng hợp từ lực lượng Việt Kiều cho hoạt động xúc tiến quảng bá.
1.3.2 Kinh nghiệm hoạt động quảng bá du lịch ở Quảng Bình
Không chỉ sở hữu di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng hay bãi biển
Nhật Lệ - một trong những bãi biển đẹp của Việt Nam, Quảng Bình hiện còn bảo tồn
nhiều loại hình di tích lịch sử có giá trị ở nhiều thời đại khác nhau. Du lịch Quảng
Bình chỉ mới bắt đầu phát triển từ những năm gần đây. Song song với sự phát triển của
du lịch, hoạt động quảng bá cũng đã được quan tâm và có nhiều chuyển biến. Tuy
nhiên hoạt động quảng bá vẫn chưa mạnh, hiệu quả chưa cao, các hoạt động còn ít và
chưa ấn tượng, nhất là việc quảng bá xúc tiến ra thị trường nước ngoài.
Năm 2007, Tỉnh Quảng Bình cùng với 3 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Kon
Tum đã tham dự Hội chợ xúc tiến du lịch năm tỉnh “Trung Lào”, diễn ra tại tỉnh
Savanakhet từ ngày 16 đến 24/12. Năm 2008, tỉnh Quảng Bình đã đẩy mạnh các hoạt
động xúc tiến, quảng bá du lịch, góp phần đưa du lịch Quảng Bình lên một vị thế mới.
20
Khóa luận tốt nghiệp
Tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch tuyên truyền, vận động bình chọn Phong Nha -
Kẻ Bàng là kỳ quan thiên nhiên thế giới, đây là một cơ hội tốt để tỉnh Quảng Bình
không chỉ đưa vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng trở thành một trong những kỳ
quan thiên thế giới mà còn để quảng bá hình ảnh quê hương, con người Quảng Bình
đến với công chúng trong nước và bạn bè quốc tế.
Quảng Bình cũng đã tổ chức một số các chương trình nghệ thuật như “Đêm
Phong Nha huyền thoại” , các lễ hội như Lễ hội Múa bông chèo cạn, tuần văn hoá
Đồng Hới; Tổ chức Hội chợ triển lãm Quốc tế về đầu tư thương mại du lịch Quảng
Bình; Chợ quê “Ẩm thực và đặc sản làng nghề 2008” Đây còn là dịp để khảo sát, đánh
giá thị trường tiềm năng làng nghề, phát triển các làng nghề truyền thống và tuyên

dọc theo con đường biển để đến bãi tắm Nhật Lệ và thưởng thức các đặc sản của vùng.
Đi dọc theo hướng bên phải là cầu Nhật Lệ, nhà thờ Tam Tòa, trung tâm thành phố
Đồng Hới. Một trong những điểm mạnh của trong cạnh tranh với các khách sạn khác
đó là Luxe sở hữu một vị trí rất thuận lợi. Khách sạn chỉ cách sân bay Đồng Hới 7 km,
khách sạn nằm cách sân ga 3km, và cách di sản thiên nhiên thế giới vườn quốc
gia Phong Nha – Kẻ Bàng 40 km. Ưu điểm của khách sạn là nằm gần trung tâm
thành phố nhưng không khói bụi ồn ào ô nhiễm mà tận hưởng một không gian
biển trong lành, mát mẻ. Tất cả làm nên một lợi thế về vị trí “đẹp” thu hút du
khách đến nghỉ dưỡng.
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của khách sạn
Chức năng của khách sạn: Là một đơn vị hạch toán độc lập có tư cách pháp nhân đầy
đủ, khách sạn có quyền mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thuộc phạm vi cho phép, mở
rộng quan hệ giao dịch. Hiện nay, khách sạn tổ chức kinh doanh nhiều hoạt động khác nhau
22
Khóa luận tốt nghiệp
như phòng ngủ, ăn uống, vận chuyển, dịch vụ tổng hợp (hội nghị, giặt là, )
Từ những chức năng trên, khách sạn đã đề ra các nhiệm vụ như sau:
- Quản lý tài sản: Tài sản của khách sạn bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu
động do Công ty TNHH TM & DV Song Thành giao phó và quản lý nên phải sử dụng
đúng mục đích, hạch toán chính xác và quyết toán hàng năm.
- Quản lý các hoạt động kinh doanh: Khách sạn xây dựng các chiến lược trung và
dài hạn, theo định hướng của Công ty TNHH TM và DV Song Thành. Trên cơ sở đó,
xây dựng kế hoạch hàng năm cho sản xuất kinh doanh.
- Công tác tài chính: Bảo toàn và phát triển nguồn vốn được giao, tạo ra hiệu quả
kinh tế xã hội, thúc đẩy khách sạn ngày càng phát triển.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của khách sạn Luxe
Khách sạn Luxe vì qui mô nhỏ, thị trường khách mục tiêu chỉ là khách lẻ,
không có nhiều hoạt động kinh doanh do đó việc thiết lập bộ máy tổ chức theo mô
hình trực tuyến khá đơn giản và gọn nhẹ theo mô hình trực tuyến. Đứng đầu là
giám đốc khách sạn chịu trách nhiệm quản lý chung các hoạt động, chịu sự lãnh

ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2008 2009
Số lượng % Số lượng %
Tổng vốn 9.100 100 9.700 100
1. Phân theo tính chất
Vốn lưu động 3.185 35 3.783 39
Vốn cố định 5.915 65 5.917 61
2. Phân theo nguồn vốn
Nguồn chủ sở hữu 7.735 85 8.051 83
Vốn vay 1.365 15 1649 17
(Nguồn: Phòng kế toán, khách sạn Luxe)
Qua bảng 2 cho ta thấy rằng vốn kinh doanh của khách sạn năm 2009 tăng lên
0,6 tỷ đồng tương đương 6,59%. Để thấy rõ hơn sự thay đổi trong cơ cấu vốn ta xem
xét nguồn vốn dưới 2 góc độ: xét theo tính chất và xét theo nguồn vốn.
- Xét theo tính chất: Năm 2009 vốn lưu động là 3783 triệu đồng tăng 18,77%,
nguyên nhân chủ yếu là do lượt khách tăng lên kéo theo chi tiêu nguyên liệu đầu vào,
điện nước tăng. Sự tăng lên của vốn lưu động kéo theo sự thay đổi của tỷ trọng vốn
lưu động trong tổng vốn tăng lên 4%. Vốn cố định không có sự tăng lên đáng kể do
chủ yếu là duy tu bảo dưỡng cơ sở vật chất, trang thiết bị.
- Xét theo nguồn hình thành vốn:
24
Khóa luận tốt nghiệp
Nhìn chung vốn kinh doanh của khách sạn chủ yếu là vốn chủ sở hữu, chiếm
hơn 80% tổng nguồn vốn. Năm 2009 vốn chủ sở hữu tăng lên 316 triệu đồng tuy nhiên
xét về cơ cấu nguồn vốn thì nguồn chủ sỡ hữu lại giảm đi 2%. Vốn vay tăng lên 284
triệu đồng tương ứng tăng 20,8% so với năm 2008. Từ tình hình sử dụng vốn cho thấy
doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư cho hoạt động kinh doanh khách sạn.
2.1.6 Đặc điểm về tình hình trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật của khách sạn
Cơ sở vật chất là nền tảng của mọi hoạt động, có vai trò quyết định trong hoạt
động kinh doanh nói chung và đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh khách sạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status