Khả năng thanh toán và khả
năng sinh lợi
Chức năng tài chính đảm nhận (1) việc giao dịch và ghi nhận các hoạt động tài
chính, đặc biệt là trong quản lý ngân quỹ (chức năng vận hành). (2) Bên cạnh đó,
chức năng tài chính còn song song đảm nhận việc hỗ trợ ban quản trị phản ứng và
điều chỉnh các nguồn tài chính tuỳ theo nhu cầu, tuân thủ các đòi hỏi tài chính và
cân đối mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp với mục tiêu của các cổ đông (chức
năng hỗ trợ). Hai đòi hỏi tài chính cơ bản là khả năng thanh toán và khả năng sinh
lợi.
Mọi giao dịch kinh tế đều được thực hiện thông qua phương tiện trao đổi tiền tệ.
Tuy nhiên, Việc nắm giữ tiền sẽ sinh ra chi phí. Doanh nghiệp vừa cùng lúc phải
nắm giữ tiền vừa phải đảm bảo các khoản chi phí cho vốn cố định.
1. Khả năng thanh toán (solvency)
khả năng bảo đảm trả được các khoản nợ đến hạn bất cứ lúc nào. Khả năng thanh
toán là kết quả của sự cân bằng giữa các luồng thu và chi hay giữa nguồn vốn kinh
tế (capital) và nguồn lực sẵn có (resource). Investopedia định nghĩa khả năng
thanh toán “là khả năng đáp ứng các chi tiêu cố định trong dài hạn và có đủ lượng
tiền cần thiết để mở rộng và phát triển”.
a. Cân bằng tài chính (financial equilibrium) có thể được xác định từ các luồng tài
chính. Mọi luồng tài chính đều làm tăng hay giảm số tiền trong quỹ. Cân bằng tài
chính đạt được tại thời điểm tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản như tiền
mặt (gọi tắt là tiền mặt) vẫn “dương” sau khi đã đủ bù trả cho tất cả các khoản nợ
đến hạn. Ba luồng tài chính chủ yếu quyết định cân bằng tài chính bao gồm:
- Chi phí đầu tư, chủ yếu là chi phí tạo vốn cho sản xuất,
- Số dư từ các hoạt động tài chính (vay, cho vay, hoàn trả),
(rủi ro tài chính).
2. Khả năng sinh lợi (profitability)
Là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân
bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian
tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh
tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả
trên phương tiện. Khả năng sinh lợi có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài
sản.
Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các
tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ.
Nhìn chung, khả năng sinh lợi cần ít nhất đủ để đáp ứng được hai đòi hỏi cấp
bách:
- Đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp (đầu tư).
- Trả được các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay.
Lãi thu được từ các hoạt động sinh lợi trong năm tài khoá có thể được trích chia
cho cổ đông hoặc vẫn duy trì dưới dạng vốn dự trữ (reserve). Nếu không tính tới
thuế và lãi, khả năng sinh lợi của tài sản phải cho phép tích luỹ đủ tiền để đảm bảo
vốn sản xuất kinh doanh, đảm bảo hoàn trả nợ, đóng góp vào việc tăng vốn và trả
lợi nhuận đầu tư vốn cho các cổ đông.
Mọi quyết định và thay đổi về việc nắm giữ tài sản không chỉ làm nảy sinh vấn đề
tài chính mà còn làm nảy sinh cả vấn đề sinh lợi. Nếu khả năng sinh lợi không đủ
lớn, doanh nghiệp sẽ không đủ phương tiện để đáp ứng nhu cầu của nhiều yếu tố
sản xuất kinh doanh khác nhau. Thặng dư khi đó sẽ không đủ để duy trì cân bằng