Tình yêu trong dân ca của các dân tộc thiểu số Vĩnh Phúc
Trên miền đất trung du Vĩnh Phúc ngày nay còn có một kho tàng
thơ ca dân gian của các dân tộc thiểu số: Sán Dìu, Cao Lan và Dao.
Số người tuy ít so với dân tộc Kinh, song thơ ca của họ nhiều như
lá rừng, cá suối. Càng nghe hát ví, đọc thơ ca của họ càng đắm say.
Người già muốn trở về thời trai trẻ, trẻ con muốn trở thành chàng
trai cô gái để được hát ví giao duyên. Ba dân tộc thiểu số này có ba
kiểu hát ví giao duyên khác nhau: Người Sán Dìu gọi là “Soọng
cô”, người Cao Lan gọi là “Sính ca”, người Dao gọi là “Páo dung”.
Hát ví dao duyên dân tộc nào cũng có, người Kinh có hát xoan, hát
ghẹo, quan họ, ví dặm Nghệ Tĩnh, hò Huế… mỗi dân tộc có cách
hát riêng, song vẫn giống nhau ở hình thức hát đối đáp: Nam - Nữ.
Nhiều khi còn thi nhau tài trí tìm lời hát đáp lại.
Dân tộc Dao ở Lãng Công (Lập Thạch) có bài hát Páo dung Đất và
Nước:
“Đất ở cao ít nước
Đất ở thấp nước nhiều
Người tuổi cao yêu ít
Người tuổi thấp yêu nhau nhiều nhiều…”
(Dân ca Dao)
Ví tình yêu đôi lứa, yêu ít - yêu nhiều giống như nước theo hình
thái tự nhiên “nước chảy chỗ chũng”, ở các lứa tuổi khác nhau ví
như vậy thật là đúng. Tâm lý người cao tuổi quả là chỉ muốn đi tìm
mấy vuông đất đẹp để đến khi nằm xuống cho yên thân. Còn lớp
trẻ thì họ lại hồ hởi đi tìm tình yêu, nhưng tình yêu đâu có dễ dàng
tìm thấy:
“Nước chảy xuống khe nước đợi nước
Mây bay qua núi mây chờ mây
Nước không chờ nước thì suối cạn
Mây không chờ mây thì mây tan…”
Nuốt mãi chẳng trôi ba hạt cơm
Ngủ mãi ba đêm không yên giấc
Làm sao cùng được chung gối chăn ”
Ở dân tộc khác ví lời nói của người yêu như “Oanh vàng thỏ thẻ”
như “dòng nước mát” như những gì đẹp nhất trên đời. Còn ở đây
lại ví “lời em nói’ như “ba hạt cơm” nuốt mãi không trôi thì thật là
mới lạ. Vì sao lại không “nuốt” được hạt cơm - lời em? Câu hỏi
này chỉ có người trong cuộc mới trả lời được. Và rồi khi “nuốt”
được lời rồi, họ đi đến thề thốt:
“Lên non làm nhà không sợ gió
Xuống sông bắt cá chẳng sợ rồng
Ta đã yêu nàng không sợ chết
Bán hết ruộng nương chẳng sợ cùng (bần)”
(Dân ca Cao Lan)
Mỗi dân tộc một vẻ, chàng trai người Dao lại hóm hỉnh ví người
yêu như con mái gà rừng:
“Em như con mái gà rừng
Thoát ra, thoắt lủi ở bờ nương
Cứ việc kiếm mồi quanh nơi ấy
Chẳng có bẫy đâu mà giật mình”
(Dân ca Dao)
Nếu như “Em - mái gà rừng” nhẹ dạ nghe chàng trai cứ nhởn nhơ
“Kiếm mồi ở nơi ấy” thì có ngày “Mắc cái bẫy - tình” của chàng
trai. Cô gái cũng không kém phần tinh ranh:
“Cái bẫy chàng đặt ở kia
Em thấy rồi đấy làm gì được em…”
Khi họ đã “mắc bẫy” nhau rồi thì thật là hạnh phúc.
ở một tâm trạng khác lại có một sự ví von thật là cụ thể:
“Đói bụng chỉ mong một bữa no
No rồi lại đói mối tình em
Các chàng trai Sán Dìu lại có một ao ước đơn giản:
“Ước sao nhà nàng cạnh nhà tôi
Ruộng dưới ruộng trên cùng cày bừa
Hai ruộng cùng chung một mương nước
Lúa tốt bồ chung đựng thóc đầy”
(Dân ca Sán Dìu)
Nhà ai nấy ở, ruộng ai nấy cày, kết cục hai câu cuối: “Chung
mương nước, lúa tốt bồ chung…” thật bất ngờ. Điều ước này mà
thành sự thật thì còn gì bằng. Song đây mới chỉ là ao ước
Một điều rất lý thú, trong dân ca tình yêu của các dân tộc thiểu số
có lối ví von rất cụ thể lời thơ, lời ca chỉ dựa vào trạng thái thực,
vật thực: Ngôi nhà, chăn gối, đồng ruộng, con chim, đoá hoa, ong
bướm, có khi cả cây hành, củ hệ:
“Hệ chẳng ra hoa vẫn đẻ con
Ngõa một không hoa quả vẫn còn
Anh chẳng có em anh chết héo
Em chẳng có chồng vẫn có con…”
(Dân ca Cao Lan)
Trong thực tế người đàn ông không có vợ làm gì có con, người đàn
bà không có chồng mà vẫn có con, đó là điều trái ngược, nhưng rất
thực tế.
Một bài thơ khác nói về con người - Vũ trụ hoà lẫn vào nhau tạo
thành một thực thể thiên nhiên sống động: Bài “Trăng bay” - Dân
ca Cao Lan.
Dịch ý:
Một mình nằm trên đỉnh núi ngắm trăng
Trăng một mình bay trên trời cao
Dưới kia dòng suối buồn nằm dài
trần truồng không nói
Trăng bay qua bị rơi vào lòng suối
Đây là hình tượng văn học dân gian độc đáo của dân tộc Cao Lan.
Thực chất vị Nữ thần này chính là trí tuệ thơ ca của một dân tộc đã
biến thành Nhân thần được đời sau mãi mãi tôn thờ; đây cũng là
tinh hoa văn hoá dân tộc trải qua hàng nghìn năm tồn tại và phát
triển.
Lâm Quý