SKKN: Một số biện pháp giúp học sinh thực hiện những bài tập trong phân môn Tập làm văn - Pdf 15


PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO BÌNH SƠN
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BÌNH CHƯƠNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH THỰC
HIỆN NHỮNG BÀI TẬP TRONG PHÂN MÔN
TẬP LÀM VĂN


Người viết : Huỳnh Thị Tiền
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường TH số 2 Bình Chương
1. Lời mở đầu
Môn Tiếng Việt ở Trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động
ngôn ngữ cho học sinh. Tiếng Việt ở Trường Tiểu học được dạy và học thông qua 7
phân môn: Học vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện và Tập
làm văn. Trong đó phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc dạy
và học Tiếng Việt. Phân môn Tập làm văn tận dụng những hiểu biết, kĩ năng về Tiếng
Việt do các phân môn khác cung cấp đồng thời hoàn thiện chúng.
Để làm được bài văn nói hoặc viết người làm phải hoàn thiện bốn kĩ năng( nghe,
nói, đọc, viết ) phải vận dụng những kiến thức về Tiếng Việt. Phân môn Tập làm văn
rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản (nói và viết). Đồng thời nó góp
phần thực hiện hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt là
dạy học sinh cách sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh
hội tri thức khoa học. 2. Lý do chọn đề tài
Để viết được một bài văn,học sinh phải kết hợp nhiều kĩ năng ngoài kĩ năng
nghe, nói,đọc,viết Tiếng Việt, kĩ năng dùng từ đặt câu đó là kĩ năng phân tích đề, tìm
ý và lựa chọn ý, kĩ năng lập dàn ý viết đoạn văn và liên kết đoạn. Cho nên phân môn
Tập làm văn có nhiệm vụ là giúp học sinh sau một quá trình luyện tập lâu dài và có ý
thức dần dần nắm được cách viết các bài văn theo nhiều loại phong cách khác nhau. ở
Tiểu học phân môn Tập làm văn còn góp phần rèn luyện tư duy hình tượng, từ óc
quan sát tới trí tưởng tượng, có khả năng tái hiện những điều quan sát được. Thông
qua phân môn Tập làm văn giúp học sinh mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi
dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ và hình thành nhân cách cho học sinh.
Để dạy tốt Tập làm văn ở Trường Tiểu học người giáo viên không những quan
tâm đến việc bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc và nâng cao vốn hiểu biết cho học sinh.
Nhưng trong thực tế giảng dạy Tập làm văn còn rất nhiều vấn đề khó khăn như
chương trình mới, trình độ học sinh không đều…
Từ những nguyên nhân trên tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh thực

giới hạn của bài viết (kĩ năng tìm hiểu đề)
2. Kĩ năng xác định tư tưởng cơ bản của
bài viết
2. Lập chương trình nội dung biểu đạt 3. Kĩ năng tìm ý ( thu thập tài liệu cho bài
viết)
4. Kĩ năng lập dàn ý ( hệ thống hóa, lựa
chọn tài liệu)
3. Thực hiện hóa chương trình 5. Kĩ năng diễn đạt (dùng từ đặt câu) thể
hiện chính xác, đúng đắn, hợp với phong
cách bài văn, tư tưởng bài văn.
6. K năng viết đoạn, viết bài theo các
phong cách khác nhau (miêu tả, tự sự, viết
thư…
4. Kiểm tra 7. Kĩ năng hoàn thiện bài viết (phát hiện
và sửa chữa lỗi)
Bảng hệ thống hóa cho ta kết luận: Hệ thống kĩ năng làm bài tập làm văn hiện
nay, về cơ bản là phù hợp với các phát hiện của lí thuyết hoạt động lời nói. Song một
số người cho rằng nếu đi sâu vào phân tích các giai đoạn định hướng, hiện nay chúng
ta thiếu các kĩ năng tương ứng với một số khâu quan trọng trong giai đoạn này. Khâu
liên kết hành động nói năng với hoạt động giao tiếp của người nói. Hành động nói
năng không được đưa vào hoạt động giao tiếp của người nói. Hành động nói năng
không được đưa vào hoạt động giao tiếp là tự cô lập mình, là thủ tiêu ý nghĩa sinh
động của mình và trở thành giả tạo. Lúc đó giờ học tách rời tình huống giao tiếp tự
nhiên của ngôn ngữ. Biện pháp giải quyết là “phải tạo nhu cầu giao tiếp cho học sinh”.
Muốn vậy phải tạo ra tình huống giao tiếp. Do đó một hệ thống đề Tập làm văn trong
đó có đề cập tình huống nói năng, làm sinh sản nhu cầu nói năng của học sinh còn là
niềm mon ước của những người dạy Tập làm văn.
Trên cơ sở các hiểu biết về hoạt động lời nói chúng ta cần đi sâu nghiên cứu
hơn nữa kĩ năng làm văn, xác định các thao tác, xây dựng các đề bài gắn với tình
huống nói năng, tổ chức các tiết Tập làm văn trong đó học sinh tự cảm thấy có nhu

đọc hình dung một cách cụ thể của sự vật thông qua các nhận xét tinh tế, những rung
động sâu sắc thể hiện cảm xúc thẩm mĩ của người viết. Văn miêu tả có các đặc điểm
sau: Mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết, sinh động và
tạo hình, ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh.
Đi vào nhà trường văn miêu tả được chia làm các kiểu bài khác nhau căn cứ vào
đối tượng miêu tả. Ở Tiểu học văn miêu tả được học kĩ, chiếm nhiều thời gian. Các
bài văn miêu tả ở Tiểu học gồm: tả đồ vật, tả cây cối, tả cảnh, tả loài vật, tả cảnh sinh
hoạt…
2. Cơ sở lí luận
Sự vận dụng nguyên tắc chú ý đến trình độ học sinh, khi dạy Tiếng Việt cụ thể
môn Tập làm văn với tư cách là tiếng mẹ đẻ và với tư cách là ngôn ngữ thú hai có
khác nhau.
Đối với học sinh Tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ. Khi dạy giáo viên cần
phải đưa ra, nắm vững vốn Tiếng Việt của học sinh thao từng lớp, từng vùng khác
nhau để hoạch định nội dung, kế hoạch và phương pháp dạy học. Giáo viên cần phải

phát huy tính tích cực chủ động của học sinh và phương pháp trong giờ Tập làm văn,
hạn chế xóa bỏ tiêu cực của học sinh trong quá trình học Tập làm văn.
Đối với học sinh học Tiếng Việt vói tư cách là ngôn ngữ thứ hai: Việc vận dụng
nguyên tắc chú ý đến trình độ học sinh cũng rất quan trọng, nếu tiếng mẹ đẻ có đặc
điểm giống Tiếng Việt thì cho học sinh cần sử dụng kinh nghiệm nói năng sang Tiếng
Việt, còn những điểm nào không giống xem như cản trở.
3. Cơ sở thực tiễn
3.1 Nội dung dạy học kiểu bài tả cảnh ở lớp 5
3.2 Yêu cầu kiến thức kĩ năng
* Trang bị các kiến thức và kĩ năng làm văn
a. Các kiến thức làm bài văn: Kiến thức lớp 5 được trang bị thông qua các
bài luyện tập thực hành. Nội dung các bài thực hành trong Sgk lớp 5 giúp học sinh
hoàn thiện những hiểu biết ban đầu về văn tả cảnh. Ngoài việc cung cấp một số kiến
thức mới, nội dung dạy học kiểu bài văn tả cảnh còn các bài ôn tập nhằm củng cố, hệ

Việt 5 chủ yếu qua 2 loại bài tập tương tự như Sgk Tiếng Việt 4: Loại bài hình thành
kiến thức mới và bài luyện tập thực hành. Đối với các loại bài hình thành kiến thức
mới được cấu tạo theo 3 phần rõ ràng: nhận xét – ghi nhớ - luyện tập, học sinh rất
thuận lợi trong việc hình thành kiến thức mới, các em tự trả lời các câu hỏi gợi ý khảo
sát văn bản để tự rút ra được đặc điểm của loại văn bản tả cảnh. Đối với loại bài tập
luyện tập thực hành văn bản tả cảnh được trình bày dưới nhiều hình thức khiến học
sinh không nhàm chán và thích học Tập làm văn. Qua đó giúp học sinh rèn luyện tốt
kĩ năng làm văn. Nội dung bài thực hành gồm 2, 3 bài tập nhỏ học sinh dễ hiểu, dễ
làm. CHƯƠNG II
I. NGUYÊN NHÂN, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
1. Nguyên nhân
- Ngữ liệu bài mẫu dài, học sinh đọc chậm mất nhiều thời gian.
- Nội dung bài tập khó, học sinh tìm hiểu mất nhiều thời gian.
- Số lượng bài tập trong 1 tiết nhiều.
- Lệnh bài tập bao gồm nhiều ý, học sinh không biết tách ra thành các yêu
cầu nhỏ.
- Lệnh bài tập diễn tả khó hiểu.
2. Thực trạng
a. Thực tiễn phải học kiểu bài tả cảnh ở địa phương
 Thuận lợi
- Học sinh chỉ tả lại những cảnh có thưc ở địa phương, những cảnh học sinh
đã được quan sát.
- Học sinh tả lại những cảnh rất quen thuộc và gần gũi với bản thân nên học
sinh rất thích.
- Học sinh chỉ tả lại thành bài văn sau khi đã lập dàn bài ở tiết trước nên học
sinh dễ làm, bài viết rất chân thực và tự nhiên
 Khó khăn

Rèn cho học sinh có thói quen tự học.
b. Giải pháp đối với giáo viên:
Chuẩn bị soạn bài: Thực hiện đầy đủ các bước
 Xác định mục đích của bài dạy trong quan hệ với các bài trước hoặc lớp dưới
cùng kiểu bài miêu tả, tả cảnh, mục đích của từng bài tập trong quan hệ mực
đích của bài dạy.
 Thực hiện đầy đủ các bước sau đối với bài tập khó nhằm giúp học sinh trung
bình, yếu.
- Xác định mục đích, yêu cầu của bài tập (học sinh phải làm gì?,nhằm đạt tới
kiến thức kĩ năng gì?)
- Giải mẫu bài tập : giáo viên tự làm bài tập, làm xong mới đối chiếu đáp án
sách giáo viên.
- Các trình tự thao tác cùng thực hiện (nhớ lại mình đã làm gì trước, làm gì
sau để có đáp án mở, phải ghi lại các thao tác đó vắn tắt ngắn gọn)
- Dự tính những khó khăn của học sinh, những lỗi của học sinh có thể mắc
(đề ra những biện pháp)
- Cách hướng dẫn gợi mở để học sinh tự làm được bài tập.
 Soạn yêu cầu nâng cao bài tập mới cho học sinh giỏi.
c. Thực nghiệm
 Soạn phần chuẩn bị cho giáo án:
 Bài tập 1.
Lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong vườn cây (hay
trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
- Mục đích yêu cầu của bài tập

+ Lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi trong ngày
+ Biết trình bày dàn ý bài văn tả cảnh theo những điều đã quan sát được
- Đáp án mẫu: Dàn ý sơ lược tả một buổi sáng trong một công viên
+ Mở bài : Giới thiệu bao quát cảnh yên tĩnh (nhộ nhịp) của công viên vào
buổi sáng

* Các hoạt động của con người trong công viên ra sao?
+ Kết bài:
Em thích đi trong công viên vào buổi sáng không? Không khí ở đây như
thế nào?
 Bài tập 2
Dưới đây là 2 cách mở bài của bài văn tả con đường quen thuộc từ nhà em tới
trường. Em hãy cho biết: Đoạn nào mở bài theo kiểu trực tiếp đoạn nào mở bài theo
kiểu gián tiếp? nêu cách viết mỗi kiểu mở bài đó.

- Mục đích yêu cầu bài tập
+ Xác định được đoạn văn mở bài theo kiểu trực tiếp, gián tiếp.
+ Biết cách viết các kiểu mở bài cho bài văn tả cảnh.
- Đáp án mẫu
Đoạn a mở bài trực tiếp
Đoạn b mở bài gián tiếp
Cách viết kiểu bài gián tiếp là nói chuyện khác rồi dẫn vào đối tượng tả
Cách mở bài trực tiếp là giới thiệu ngay đối tượng miêu tả
- Trình tự thao tác thực hiện
Đọc yêu cầu bài tập
Xác định yêu cầu bài tập
Xác định đoạn văn tả theo kiểu mở bài nào?
Nếu học sinh quên thì cho 1 học sinh đọc Sách giáo khoa lớp 4 (giáo viên đã
chuẩn bị sẵn)
3. Giải pháp
3.1 Biện pháp
Rèn cho học sinh thói quen ngoài giờ học bài cũ, học sinh còn chuẩn bị cho bài
mới.
Đối với những kiến thức mới có liên quan đến bài cũ, học sinh cần phải xem lại
những kiến thức đó.
Đối với với học sinh nhút nhát, giáo viên cần khuyết khích để học sinh mạnh dạn

- Lập được dàn ý bài văn tả cảnh
- Biết trình bày dàn ý bài văn tả cảnh theo những điều đã quan sát được.
b) Đáp án mẫu: Dàn ý sơ lược tả một buổi sáng trong công viên.
 Mở bài: Giới thiệu bao quát cảnh yên tĩnh (nhộn nhịp) của công viên vào buổi
sáng.
 Thân bài: Tả các bộ phận của cảnh quan
- Cây cối, chim chóc, những con đường…
- Mặt hồ.
- Người tập thể dục, thể thao.
 Kết bài: Em rất thích công viên vào buổi sáng
c) Trình tự, thao tác thực hiện
- Đọc yêu cầu bài tập.
- Phân tích đề bài tập: Đề yêu cầu tả cảnh gì? Lúc nào?
- Xác định lại cấu tạo bài văn tả cảnh (3 phần)
* Mở bài: Giới thiệu cảnh gì? Vào lúc nào?
* Thân bài: Tả cảnh gì?
* Kết luận: Nêu cảm nghĩ.
- Lập dàn ý bài văn tả cảnh vào buổi sáng.
d) Dự kiến những khó khăn
- Sau khi nghỉ hè, học sinh không nhớ cách lập dàn ý của một bài văn tả cảnh
gồm ba phần.
- Học sinh có thể không quan sát trước cảnh sẽ tả nên sẽ khó khăn trong việc
lập dàn ý phần thân bài.
e) Cách hướng dẫn gợi mở để học sinh tự làm bài tập.
- Một học sinh đọc yêu cầu bài tập.
- Giáo viên giới thiệu một số tranh ảnh minh họa cảnh công viên.
- Giáo viên kiểm tra kết quả quan sát của học sinh.
- Học sinh tự lập dàn ý – Học sinh trinh bày dàn ý.
- Dàn bài văn tả cảnh gồm mấy phần? (3 phần)
+ Mở bài em tả cảnh gì? ở đâu? Vào thời gian nào?

nước, nằm duỗi dài phơi nắng có vẻ khoái chí.
* Đoạn 3: Cây cối sau mưa.
Sau cơn mưa, có lẽ cây cối, hoa lá là tươi đẹp hơn cả. Những hàng cây ven đường
được tắm nước mưa thỏa thuê nên tươi xanh mơn mởn. Mấy cây hoa trong vườn còn
đọng những giọt mưa long lanh trên lá nhè nhẹ tỏa hương.
* Đoạn 4: Đường phố và con người sau mưa
Con đường trước cửa đang khô dần. Trên đường xe cộ đi lại nườm nượp như mắc
cửi. Tiếng người cười người nói, đi lại nhộn nhịp. Túa ra từ những chỗ trú mưa, mọi
người đang vội vã trở lại công việc trong ngày. Góc phố mấy cô bé đang nhảy dây.
Những bím tóc tun ngủn vung vẩy theo từng nhịp chân nhảy.
c) Trình tự thao tác thực hiện.
- Đọc yêu cầu đề bài
- Xác định yêu cầu của đề: Chọn 1 đoạn văn, viết thêm vào chỗ trống để đoạn
văn được hoàn chỉnh.
- Đọc bài văn tả cảnh sau cơn mưa và tìm nội dung chính từng đoạn, xác định
xem cần thêm ý nào vào, chi tiết nào cho mỗi đoạn.
- Chọn một đoạn, dựa vào những câu hoặc từ ngữ trước và sau vào chỗ trống để
dự đoán nội dung cần viết ở chỗ trống.

- Viết thêm vào chỗ trống một vài câu văn hoặc từ ngữ sao cho được đoạn văn
hoàn chỉnh.
d) Dự kiến những khó khăn.
- Tìm nội dung từng đoạn của bài văn sau cơn mưa của bạn Quỳnh Liên không
dễ
- Học sinh điền các từ ngữ hoặc các câu vào đoạn văn không phù hợp với nội
dung đoạn văn đó.
- Học sinh dễ nhầm là viết thêm vào chỗ trống để hoàn chỉnh nội dung của cả 4
đoạn văn.
e) Cách hướng dẫn gợi mở để học sinh tự làm được bài tập.
- Một học sinh giỏi đọc yêu cầu và nội dung bài tập (cả lớp dò theo đọc thầm)

đoạn văn miêu tả đặc điểm nổi bật của biển luôn thay đổi màu sắc, trạng thái theo sự
thay đổi của sắc trời và thời tiết.

+ Để miêu tả sự thay đổi màu sắc của biển, tác giả quan sát bầu trời và mặt biển ở
các thời điểm khác nhau, các trạng thái khác nhau.
+ Khi quan sát biển, tác giả liên tưởng đến sự thay đổi tâm trạng con người: biển
như một con người, lúc buồn vui, lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hể ha, lúc đăm
chiêu gắt gỏng.
+ Đoạn văn tả con kênh
+ Con kênh được quan sát vào mọi thời điểm trong ngày: suốt ngày, từ lúc mặt
trời mọc đến lúc mặt trời lặn, buổi sáng, buổi trưa, lúc giữa chiều.
+ Tác giả nhận ra đặc điểm của con kênh chủ yếu bằng thị giác.
+ Sử dụng nghệ thuật liên tưởng làm cho người đọc hình dung được cái nắng
nóng dữ dội, làm cho cảnh vật hiện lên sinh động hơn, gây ấn tượng hơn.
c) Trình tự, thao tác thực hiện
- Đọc yêu cầu bài tập
- Xác định yêu cầu: đọc 2 đoạn văn tả cảnh và trả lời câu hỏi
- Nhớ lại trình tự quan sát, trình tự miêu tả.
- Nhớ lại các giác quan có thể dùng quan sát và kết quả cảm nhận của từng giác
quan. Ví dụ:
+ Quan sát bằng thị giác: Kết quả cảm nhận bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc…
+ Quan sát bằng thính giác: Kết quả cảm nhận bằng âm thanh.
+ Quan sát bằng xúc giác: Kết quả cảm nhận bằng các đặc điểm như nóng, lạnh,
mềm mại, cứng…
d) Dự kiến khó khăn
- Ngữ liệu đoạn văn mẫu dài, học sinh đọc chậm mất nhiều thời gian
- Số lượng câu hỏi nhiều.
- Lệnh bài tập bao gồm, học sinh không biết tách ra thành nhiều các yêu cầu nhỏ.
- Lệnh bài tập diễn tả khó hiểu.
e) Cách hướng dẫn

phơn phớt màu đào, giữa trưa hóa dòng sông thủy ngân cuồn cuộn lóa mắt, về
chiều biến thành một con suối lửa.
+ Tìm những từ ngữ, hình ảnh, cho thấy sự liên tưởng của tác giả về sự thay đổi
của con kênh dưới ánh sáng mặt trời ở các thời điểm đó ( đỏ lửa, phơn phớt màu
đào, dòng sông thủy ngân cuồn cuộn lóa mắt)
+ Sự liên tưởng đó đem lại cho người đọc cảm nhận gì? (Làm cho người đọc hình
dung cái nóng dữ dội, làm cho cảnh vật hiện ra sinh động hơn, gây ấn tượng
hươn với người đọc).
* Bài tập 4: (Bài tập 1, tiết 1, tuần1)
Đọc và tìm các phần mở bài, thân bài, kết bài của bài văn: “Hoàng hôn trên sông
Hương”.
a) Mục đích – yêu cầu của bài tập
Xác định được 3 phần của bài “Hoàng hôn trên sông Hương” và nội dung của 3
phần.
b) Đáp án mẫu
- Mở bài (từ đầu đến trong thành phố vốn hằng ngày đã rất yên tĩnh này)
Giới thiệu vẽ yên tĩnh của Huế lúc hoàng hôn.
- Thân bài: (Từ mùa thu đến buổi chiều cũng chấm dứt)
Thân bài có 2 đoạn :
+ Đoạn 1: (Từ Mùa thu đến hai hàng cây): Tả sự đổi sắc của sông Hương từ lúc
bắt đầu hoàng hôn đến lúc tối hẳn.
+ Đoạn 2: (Còn lại) Hoạt động của con người bên bờ sông, trên mặt sông từ lúc
hoàng hôn đến lúc thành phố lên đèn.
- Kết bài (Câu cuối): sự thức dậy của Huế sau hoàng hôn.
c) Dự kiến những khó khăn
- Bài văn dài và khó, học sinh đọc và tìm nội dung các phần mất nhiều thời gian.
- Học sinh sau khi nghỉ hè không nhớ cấu tạo 3 phần và nội dung chính 3 phần
của bài văn tả cảnh, cây cối…

- Học sinh có thể không nhớ cách xác định loại văn và rất lúng túng khi gặp đoạn

nào? (Từ lúc nấu cơm chiều đến khi thành phố lên đèn).
* Kết bài: Tác giả nêu cảm nhận về Huế vào lúc nào? (sau lúc hoàng hôn)
Em hãy nhận xét thứ tự miêu tả của bài: Hoàng hôn trên sông Hương ? (miêu tả
theo thứ tự thời gian).
* Bài tập 5: (Bài tập 2, tiết 2, tuần 6)
Dựa vào kết quả quan sát của mình, em hãy lập dàn ý bài văn miêu tả một cảnh
sông nước (một vùng biển, một dòng sông, một con suối hay một hồ nước).
a) Mục đích – yêu cầu của bài tập.
- Biết ghi lại kết quả quan sát và lập dàn ý cho bài văn tả một cảnh sông nước cụ
thể.
- Rèn kỹ năng lập dàn ý tả cảnh sông nước.
b) Đáp án mẫu

Dàn ý bài tả cảnh dòng sông.
* Mở bài: Giới thiệu chung về dòng sông
- Tên: sông Trà Bồng
- Vị trí: Chảy qua quê em
* Thân bài
- Tả bao quát: Giới thiệu đặc điểm chung của dòng sông Trà Bồng: rộng, dài,
màu sắc của nước chảy…
- Tả cụ thể
+ Hai bên bờ sông: bãi cát, bãi ngô, nhà cửa, con người…
+ Mặt nước sông, khi có gió nhẹ, khi có giông bão…
+ Thuyền bè trên sông: thuyền đánh cá, thuyền chở người và hàng hóa.
+ Sông Trà Bồng đối với đời sống của nhân dân.
*Kết bài
Cảm nhận của con người bên dòng sông
c) Trình tự, thao tác thực hiện
- Đọc yêu cầu bài tập
- Xác định yêu cầu của đề bài: Dựa vào kết quả quan sát, lập dàn ý bài văn miêu

+ Lúc hoàng hôn và lúc mặt trời mọc dòng sông có gì đẹp?
*Kết bài: Em có cảm nghĩ gì về dòng sông Trà?
* Bài tập 6: (Bài tập 1, tiết 2, tuần 8)
Dưới đây là 2 cách mở bài của bài văn tả con đường quen thuộc từ nhà em tới
trường. Em hãy cho biết: Đoạn văn nào mở bài theo kiểu trực tiếp, đoạn nào mở bài
theo kiểu gián tiếp? Nêu cách viết mỗi kiểu mở bài đó.
a) Mục đích – yêu cầu của bài văn
- Xác định được đoạn văn mở bài theo kiểu gián tiếp và trực tiếp .
- Biết cách viết các kiểu mở bài văn tả cảnh.
b) Đáp án mẫu
- Đoạn a mở bài trực tiếp.
- Đoạn b mở bài gián tiếp.
- Cách viết kiểu mở bài gián tiếp là nói chuyện khác rồi dẫn vào đối tượng định
tả.
-Cách viết kiểu bài trực tiếp là giới thiệu ngay đối tượng cần tả.
c) Trình tự, thao tác thực hiện
- Đọc yêu cầu bài tập
- Xác định yêu cầu bài tập
- Xác định đoạn văn tả theo kiểu mở bài nào?
Nếu học sinh thì cho 1 học sinh SGK lớp 4 (Giáo viên đã chuẩn bị sẵn)
* Bài tập 7: (Bài tập e, tiết 2, tuần 8)
Dưới đây là hai cách kết bài của bài văn tả con đường quen thuộc từ nhà em đến
trường. Em hãy cho biết điểm giống nhau và khác nhau giữa đoạn kết bài không mở
rộng (a) và đoạn kết bài mở rộng (b).
a) Mục đích – yêu cầu của bài tập
Xác định cách kết bài của từng đoạn. Qua đó học sinh so sánh điểm giống và
khác của 2 kiểu kết bài trên.
b) Đáp án mẫu
- Đoạn b kết bài theo kiểu mở rộng.
- Đoạn a kết bài theo kiểu không mở rộng

không nhớ, giáo viên cho học sinh cầm SGK Tiếng Việt lớp 4 đọc to cho cả lớp nghe.
- Vậy đoạn văn a thuộc kiểu kết bài nào? (kết bài không mở rộng)
- Đoạn b thuộc kiểu kết bài nào? (kết bài mở rộng)
Em thấy kiểu kết bài nào hấp dẫn người đọc hơn? (kết bài mở rộng)
- Dựa vào hai kiểu kết bài trên, em hãy cho biết điểm giống nhau và khác nhau
của hai kiểu kết bài ở đoạn a và đoạn b.
+ Hướng dẫn nêu điểm giống nhau: Cùng nói lên tình cảm gì của tác giả đối với
con đường? (tình cảm yêu quý, gắn bó thân thiết của bạn học sinh đối với con đường).
+ Hướng dẫn nêu điểm khác nhau:
Đoạn a khẳng định điều gì? (khẳng định con đường là người bạn quý, gắn bó
với kỷ niệm thời ấu thơ của tác giả).
Đoạn b nói lên tình cảm gì của các em học sinh? Ca ngợi công ơn của ai? Đồng
thời còn nói lên hành động gì của các em học sinh?
- Học sinh trình bày bài làm của mình. Lớp nhận xét, giáo viên kết luận, ghi
điểm.
* Bài tập 8: (bài tập 1, tiết 1, tuần 4)
Quan sát trường em. Từ những điều đã quan sát được, lập dàn ý cho bài văn tả
cảnh ngôi trường.
a. Mục đích, yêu cầu của bài tập:
Học sinh thiết lập dàn ý chi tiết cho bài văn tả cảnh ngôi trường của em từ
những điều đã quan sát được.
b. Đáp án mẫu:

Dàn ý miêu tả ngôi trường
* Mở bài: Giới thiệu bao quát tên và địa điểm của ngôi trường.
* Thân bài: Tả từng phần của ngôi trường.
- Từ xa nhìn lại: ngôi trường nhỏ bé, nằm dưới những tán cây cổ thụ .
- Tường màu vàng rất sang trọng, cổng trường sơn màu xanh đậm.
- Sân trường: gạch đỏ, trụ cờ, cây phượng , hoa sữa…
- Lớp học: rộng rãi, thoáng mát, có đèn, quạt điện…

phòng Đội, thư viện,…) Nếu học sinh yếu không trả lời được giáo viên nêu câu hỏi
phụ: Giờ thể dục, em được học ở đâu? (ngoài sân trường), sân trường có nền được làm

bằng gì? (sân xi măng rộng), giữa sân có gì? (cột cờ)…, trên sân có những gì? (có hoa
sữa và hoa phượng tỏa mát).
- Trường em có mấy phòng? (6 phòng học), mỗi phòng học được trang trí như
thế nào? (học sinh nêu đặc điểm của phòng học: thoáng mát, có đèn, quạt điện,…).
- Vào các buổi sinh hoạt Đội, em thường tập hợp ở đâu? (phòng Đội). Phòng
Đội được trang trí như thế nào? (rất đẹp…).
- Vào các giờ giải lao, em thường đọc truyện ở đâu? (thư viện). Thư viện của
trường có những loại sách nào?
* Kết bài: Tình cảm của em đối với ngôi trường như thế nào? (Em rất yêu quý
và tự hào về trường của em).
- Học sinh trình bày dàn bài của minh trước lớp, lớp nhận xét, giáo viên kết
luận ghi điểm.
* Bài tập 9: (Bài tập 1, tiết 1, tuần 7)
Đọc bài “Vịnh Hạ Long” SGK Tiếng Việt 5 trang 70 và trả lời các câu hỏi sau:
- Xác định phần mở bài, thân bài, kết bài của bài văn trên.
- Phần thân bài gồm có mấy đoạn? Mỗi đoạn miêu tả những gì?
- Những câu văn in đậm có vai trò gì trong mỗi đoạn và trong cả bài?
a. Mục đích, yêu cầu của bài tập:
- Xác định được cấu tạo 3 phần của bài “Vịnh Hạ Long”
- Xác định được các đoạn trong phần thân bài và nội dung của từng đoạn.
- Biết được sự liên kết về ý nghĩa các đoạn trong bài văn.
b. Đáp án mẫu:
* Mở bài: Từ đầu…của đất nước Việt Nam.
* Thân bài: Cái đẹp của Hạ Long…theo giói ngân lên vang vọng
Thân bài gồm 3 đoạn
- Đoạn 1: Tả sự kì vĩ của vịnh Hạ Long.
- Đoạn 2: Tả vẻ duyên dáng của vịnh Hạ Long.

giả tả sự kì vĩ ở nơi nào của đất nước ta? (ở Vịnh Hạ Long)
Câu hỏi phụ: Tìm những từ ngữ tả sự kì vĩ ở Vịnh Hạ Long?
+ Đoạn 2 phần thân bài tác giả tả cảnh gì của Vịnh Hạ Long? (tả vẻ duyên dáng
của vịnh Hạ Long).
+ Đoạn 3 của phần thân bài cho biết Vịnh Hạ Long có đặc điểm gì làm hấp dẫn
lòng người? (từng mùa có những nét riêng).
Hoặc: Ở Vịnh Hạ Long mỗi mùa có đặc điểm gì hấp dẫn du khách? (Mùa xuân
ở Hạ Long có mùa sương và cá mực, mùa hè là mùa gió nồm và cá ngừ…)
- Những câu văn in đậm có vai trò gì trong mỗi đoạn và trong cả bài? (những
câu in đậm là mở đầu mỗi đoạn, câu mở đoạn nêu ý bao trùm cả đoạn. Với cả bài, mỗi
câu văn nêu một đặc điểm của cảnh vật được tả, đồng thời liên kết các đoạn trong bài
văn với nhau).
* Bài tập 10 (Bài tập 2, tiết 1, tuần 1)
Thứ tự miêu tả trong bài văn trên có gì khác với bài Quang cảnh làng mạc ngày
mùa mà em đã học? Từ hai bài văn đó, hãy rút ra nhận xét về cấu tạo của bài văn tả
cảnh.
a. Mục đích yêu cầu của bài tập:
- Xác định được thứ tự miêu tả trong mỗi bài.
- So sánh được thứ tự miêu tả của hai bài văn.
- Nêu nhận xét cấu tạo của bài văn tả cảnh gồm 3 phần: Mở bài, thân bài, kết
bài và yêu cầu của từng phần.
b. Đáp án mẫu
* Bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa tả từng bộ phận của cảnh:
- Giới thiệu màu sắc bao trùm làng quê ngày mùa là màu vàng.
- Tả các màu vàng rất khác nhau của cảnh, của vật.
- Tả thời tiết, con người.
* Bài Hoàng hôn trên sông Hương tả sự thay đổi của cảnh theo thời gian.
- Nêu nhận xét chung về sự yên tĩnh của Huế lúc hoàng hôn.

- Tả sự thay đổi sắc màu của sông Hương từ lúc bắt đầu hoàng hôn đến lúc tối

+ Hai bài văn này có đặc điểm gì giống nhau? (cùng nêu nhận xét, giới thiệu
chung về cảnh vật rồi miêu tả cho nhận xét ấy).
+ Thứ tự miêu tả của 2 bài này khác nhau ở điểm nào?
Bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa” tả từng bộ phận của cảnh (giới thiệu màu
sắc bao trùm làng quê ngày mùa là màu vàng, tả các màu khác nhau của cảnh vật, tả
thời tiết, con người).
Còn bài “Hoàng hôn trên sông Hương” tả sự thay đổi của cảnh theo thời gian
(nêu nhận xét chung về sự yên tĩnh của Huế lúc hoàng hôn, tả sự thay đổi sắc màu của
sông Hương từ lúc bắt đầu hoàng hôn đến thành phố lên đèn, nhận xét về sự thức dậy
của Huế sau hoàng hôn).
+ Qua ví dụ trên em thấy bài văn tả cảnh gồm những phần nào? (mở bài, thân
bài, kết luận).
+ Nhiệm vụ chính của từng phần trong bài văn tả cảnh là gì?
Mở bài: giới thiệu bao quát về cảnh sẽ tả)

Thân bài: Tả từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian.
Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người tả.
+ Cho học sinh đọc ghi nhớ sách giáo khoa.
3.3.2. Soạn yêu cầu nâng cao cho học sinh giỏi:
- Đối với bài tập 2 tiết 2 tuần 1: Bài tập nâng cao như sau:
Giáo viên cho một bài văn tả cảnh được viết theo thứ tự: thân bài, kết bài, mở
bài.
Yêu cầu: Bài văn dưới đây của bạn Lan viết và sắp sai thứ tự, em hãy giúp bạn
sắp lại cho đúng cấu tạo của bài văn tả cảnh.
- Đối với bài tập 1 tiết 2 tuần 3: Sau khi học sinh hoàn thành một đoạn văn, yêu
cầu học sinh hoàn thành các đoạn còn lại.
- Bài tập 1 tiết 2 tuần 6: câu hỏi nâng cao như sau:
Em hãy tìm những câu văn thể hiện sự liên tưởng của tác giả?
- Đối với bài tập 2 tiết 2 tuần 1: sau khi học sinh làm xong dàn ý bài văn tả buổi
sáng trong vườn cây (hoặc trong công viên,….)

kiểm tra.

- Học sinh lắng nghe.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status