BÀI TIỂU LUẬN NHÓM CHỨNG TỪ XUẤT NHẬP KHẨU - Pdf 15

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài:
CHỨNG TỪ XUẤT NHẬP KHẨU
Môn : Quản trị xuất nhập khẩu
GVHD : Thầy Nguyễn Hữu Khoa
SVTH : Nhóm Hội Ngộ (8)
LỚP : 210704302 (DHQT7B)
TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 05 năm 2014
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài:
CHỨNG TỪ XUẤT NHẬP KHẨU
DANH SÁCH NHÓM
STT HỌ TÊN MSSV
1
Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng 11065151
2 Huỳnh Công Khải 11035731
3 Nguyễn Thị Tố Loan 11070231
4
Phạm Thị Ngoan 11073261
5 Đặng Thị Ngọc 11075791
6 Hoàng Thị Hồng Ngọc 11089781
7 Đỗ Thị Quỳnh Như 11091181
8 Nguyễn Thị Thảo 11074311
9 Nguyễn Văn Thường 11004316
10 Phạm Phú Tín 11073681

NHẬN XÉT CỦA GV
Họ Tên SV CV phụ trách
Thời
gian gửi
bài
Mức độ
hoàn
thành
Thái
độ
làm việc
Trung
bình
điểm
(10đ)
Ký tên
Nhóm trưởng
đánh giá
11065151
Hoàng Nguyễn
Ngọc
Hưng
- Lập dàn ý và phân
công
- Tổng hợp tiểu luận
- 2.3
8.5 10 9 9.2 Gửi bài trễ, còn lại làm khá tốt
11035731 Huỳnh Công Khải Chương 1 10 10 10 10.0
Gửi bài sớm, hoàn thành tốt các
yêu cầu, nội dung tốt

tốt
11074311 Nguyễn Thị Thảo 2.8 10 9 10 9.7
Gửi bài sớm, có lỗi chính tả, ko
đúng yêu cầu TLTK, trình bày còn
lủng củng, nội dung tốt
11004316 Nguyễn Văn Thường
- 2.5
- Chương 3
10 9 9 9.3
- 2.5 tốt nhưng còn lỗi chính tả, lỗi
định dạng
- Chương 3 làm việc nhóm ko tốt,
sai nội dung, trình bày chưa đúng
yêu cầu, thiểu TLKT, trình bày word
chưa đúng cách
- Có nỗ lực
11073681 Phạm Phú Tín
- 2.2
- Soạn powerpoint
9 9 9 9.0 Có nỗ lực, kĩ thuật tốt
11230431 Lê Hữu Toàn
- 2.1
- 2.4
10 9 10+ 9.7
Gửi bài sớm, nỗ lực cao, còn thiếu
TLTK, 2.1 còn sai chính tả và lỗi
định dạng nhiều, nội dung và trình
bày tốt
11242971 Nguyễn Thanh Vương
- Chương 3

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xuất hàng và nhập hàng là những thuật ngữ rất quen thuộc mà chúng ta thường nghe thấy ở các
phương tiện truyền thông, ở các công ty xuât nhập khẩu. Nhưng chúng ta chưa chắc đã biết rằng thuật
ngữ tưởng chừng như đơn giản ấy chứa đựng nhiều khâu và quá trình bên trong. Mỗi khâu xuất và
nhập hàng đều được thực hiện bởi một ekip làm việc thật nghiêm chỉnh để có được số liệu thật chính
xác để khai thông hải quan. Bởi rất quan trọng nên nó cần được ghi chép và lưu số liệu cẩn thận. Và
chứng từ xác nhận xuất nhập khẩu là phương tiện quan trọng thực hiện nhiệm vụ đó. Để tìm hiểu kĩ
hơn về chứng từ về quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa nhằm tăng thêm kiến thức và hiểu biết nhóm
chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu về đề tài này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu rõ công dụng chức năng, cách viết của các loại chứng từ xuất nhập khẩu và những quy định
liên quan. Nghiên cứu thực trạng sử dụng hiện nay của các loại chứng từ này, xác định điểm hạn chế
và đưa ra giải pháp khắc phục.
3. Đối tượng nghiên cứu
Các loại chứng từ xuất nhập khẩu đang lưu hành tại Việt Nam và các loại hình liên quan.
4. Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu thông tin qua giáo trình, các phương tiện truyền thông, báo đài và đặc biệt phương tiện
không thể thiếu là internet bởi các thông tin xuất nhập khẩu, thuế quan rất rộng và các công ty thường
xử lí và phát tán trên mạng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dùng phương pháp trình bày trực quan, phân loại đề mục rõ ràng. Dàn ý hướng theo tính thực tế, tránh
lý thuyết nhàm chán.
Sử dụng những nội dung có được để đưa vào bài tiểu luận và đưa ra những nhận xét, và ý kiến chung
tổng hợp của các thành viên để bài tiểu luận thêm hoàn chỉnh.
Chương 1: Khái quát về bộ chứng từ trong thanh toán xuất nhập khẩu
1.1 Khái niệm và phân loại
Trong thương mại quốc tế hiện nay, căn cứ vào các nguồn luật khác nhau có nhiều cách phân loại
chứng từ. Trong cuốn “Các nguyên tắc thống nhất về nhờ thu” (Bản sửa đổi 1995, có hiệu lực
1/1/1996, số 522 của phòng thương mại quốc tế, ICC soạn thảo), viết tắt là URC 522 có định nghĩa về

nhập khẩu- thì quan hệ giữa các bên và ngân hàng cũng căn cứ vào bộ chứng từ. Thông qua bộ chứng
từ, ngân hàng có thể kiểm tra mức độ hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của người xuất khẩu để tiến hành
việc trả tiền cho người cho họ, và trên cơ sở đó cũng xem xét người mua đã hoàn thành nghĩa vụ thanh
toán tiền chưa.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chú ý một số điểm sau đây:
+ Tuỳ từng phương thức thanh toán mà yêu cầu về bộ chứng từ cũng rất khác nhau. Trong một
số trường hợp, chúng là chứng từ đại diện hợp pháp cho hàng hoá. Điều quan trọng là các chứng từ
hợp lệ phải được lập đúng chỗ, đúng lúc; và để đẩy nhanh việc giao hàng và thanh toán, chúng phải
được điền đầy đủ một cách hợp lệ. Chỉ một điểm nhỏ không rõ ràng trong chứng từ chắc chắn sẽ dẫn
đến sự khó khăn trong thanh toán. Do đó, cần phải có một sự quy định rõ ràng về yêu cầu xuất trình
chứng từ, số lượng, số loại, cách thức lập chứng từ cũng như việc quy định thanh toán tiền dựa vào
hợp đồng hay chứng từ (như L/C; A/P )
+ Tuỳ từng điều kiện giao hàng mà phương thức thanh toán cũng cần phải xác định cho phù
hợp. Bộ chứng từ sẽ phát huy tác dụng tốt nhất đối với các điều kiện cơ sở giao hàng như FOB, CIF,
CFR Ví dụ, đối với điều kiện DAF (giao hàng tại biên giới) ta vẫn có thể sử dụng phương thức thanh
toán kèm chứng từ (như phương thức tín dụng chứng từ). Nhưng trong trường hợp này, xét về bản
chất, L/C cũng giống như L/G.
 Chứng từ có thể mua đi bán lại, cầm cố, thế chấp hoặc chiết khấu tại ngân hàng.
Thông thường thì người mua, hoặc người bán (hoặc người sản xuất) luôn cần tài chính để thực hiện
một thương vụ. Thí dụ, một người nhập khẩu (người mua) chỉ muốn thanh toán hàng nhập sau khi anh
ta bán được một số hàng. Mặt khác, người xuất khẩu (người bán) lại có nhu cầu về tài chính để mua
nguyên vật liệu thô phục vụ cho sản xuất hàng hoá mà anh ta bán. Xuất phát từ đặc điểm bộ chứng từ
là căn cứ thanh toán giữa các bên nên có thể coi chứng từ là đại diện của hàng hoá. Thay vì hàng hoá,
người ta có thể buôn bán trao tay bộ chứng từ, hoặc có thể dùng nó làm vật cầm cố, thế chấp hay chiết
khấu tại ngân hàng.
Bộ chứng từ có thể được mua đi bán lại nhằm chuyển giao quyền sở hữu đối với hàng hoá. Trong
trường hợp hàng hoá vẫn còn trên đường vận chuyển, nhưng người mua lại tìm ngay được một đối tác
để bán lại thì anh ta có thể chuyển giao ngay bộ chứng từ cho người thứ ba đó. Khi đó, người mua lại
bộ chứng từ có thể dùng bộ chứng từ để nhận hàng và vấn đề thanh toán sẽ được tiến hành giữa người
bán và người thứ ba này.

hàng chuyển quyền hưởng lợi hối phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh
giá hối phiếu trừ đi lãi chiết khấu và phí chiết khấu. Thực chất đây là hình thức ngân hàng mua lại hối
phiếu chưa tới hạn thanh toán của nhà xuất khẩu. Với nghiệp vụ này ngân hàng cung ứng một khoản
vốn cho nhà xuất khẩu để họ có điều kiện tiếp tục quá trình tái sản xuất. Nhà nhập khẩu sẽ có ngay
vốn thay vì phải chờ nhà nhập khẩu thanh toán do anh ta đã cung cấp một khoản tín dụng thương mại
(bán chịu hàng). Còn ngân hàng có lợi là thu được lãi suất chiết khấu. Một nét đặc trưng của chiết
khấu hối phiếu là ngân hàng sẽ khấu trừ tiền lãi ngay khi chiết khấu và chỉ chuyển cho khách hàng số
tiền còn lại. Số tiền đó là giá trị chiết khấu.
 Tạo điều kiện áp dụng được những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại vào việc sử dụng
chứng từ.
Ngày nay, thương mại điện tử (TMĐT) không chỉ được các quốc gia coi là một giải pháp hữu hiệu
nhất cho việc toàn cầu hoá mà còn là một trong những cơ hội lớn để phát triển nền kinh tế quốc gia và
toàn cầu lên một bước mới. Theo con số của Tập đoàn tư vấn Boston Consulting thì doanh số TMĐT
năm 1999 đã tăng trưởng ở mức 120%, đạt 33,1 tỷ USD, chiếm 1,4% tổng doanh thu bán lẻ trên thế
giới. Theo dự đoán, đến năm 2003 doanh thu từ TMĐT sẽ là 1400 tỷ USD. Để có thể chia sẻ một phần
con số doanh thu khổng lồ đó, các quốc gia phải có những thay đổi căn bản từ chính sách vĩ mô, cơ sở
hạ tầng. Một trong những chuyển đổi quan trọng có tính quyết định để tham gia TMĐT là việc thiết
lập một cơ sở hạ tầng về thanh toán điện tử, đưa ra những quy định quy tắc về giao dịch chứng từ điện
tử thanh toán và chữ ký điện tử. Để đạt được như vậy, các phương thức thanh toán quốc tế phải dựa
trên cơ sở là bộ chứng từ thanh toán chứ không phải là hàng hoá. Bộ chứng từ sẽ dần dần được chuyển
từ hình thức bằng giấy truyền thống sang hình thức mã hoá điện tử, và việc xuất trình bộ chứng từ sẽ
trở nên đơn giản thông qua hệ thống mạng máy tính cho bất kỳ ngân hàng nào. Chính điều này tạo tiền
đề cho phương thức kinh doanh qua mạng, TMĐT phát triển.
Chương 2: Giới thiệu bộ CT XNK hiện nay
2.1 Invoice (hóa đơn thương mại)
Khái niệm:
Hóa đơn thương mại (Invoice) là chứng từ cơ bản trong các chứng từ hàng hóa. Hóa đơn thương mại
do người bán phát hành xuất trình cho người mua sau khi hàng hóa được gửi đi. Là yêu cầu của người
bán đòi người mua phải thanh toán số tiền hàng theo những điều kiện cụ thể ghi trên hóa đơn. Trong
hóa đơn phải nêu được những đặc điểm của hàng hóa, đơn giá, tổng giá trị hàng hóa, điều kiện cơ sở

• Khi khai báo hải quan, hóa đơn nói lên giá trị hàng hóa và là bằng chứng cho việc mua bán,
trên cơ sở đó người ta tiến hành giám quản và tính tiền thuế.
• Trong nghiệp vụ tín dụng, hóa đơn với chữ kí chấp nhận trả tiền của người mua có thể làm vai
trò của một chứng từ bảo đảm cho việc vay mượn.
• Hóa đơn cũng cung cấp những chi tiết về hàng hóa,cần thiết cho việc thống kê, đối chiếu hàng
hóa với hợp đồng và theo dõi thực hiện hợp đồng.
• Trong một số trường hợp nhất định bản sao của hóa đơn được dùng như một thư thông báo kết
quả giao hàng, để người mua chuẩn bịnhập hàng và chuẩn bị trả tiền hàng.
Nhìn chung, hóa đơn thương mại đã trở nên phổ biến trong thời đại hội nhập ngày nay, bất kì một hoạt
động giao dịch thương mại nào (xuất khẩu hay nhập khẩu) đều phải cần hóa đơn. Từ đó cho thấy việc
nhận biết và thành lập một hóa đơn đúng đang là một yêu cầu cấp bách đối với tất cả các doanh nghiệp
Việt Nam, vì khi một hóa đơn bị sai sót thì sẽ gây ra nhiều trở ngại cho các nhà xuất khẩu lẫn nhà nhập
khẩu
 Phân loại
Trong thực tiễn buôn bán, các hoạt động giao dịch rất nhiều và phức tạp, bên cạnh đó mỗi loại giao
dịch thường đòi hỏi mỗi hóa đơn khác nhau, làm cho hình thức và chức năng của các hóa đơn thương
mại trở nên đa dạng. Nếu xét theo góc độ chức năng, có thể phân loại hóa đơn như sau:
 Hóa đơn chiếu lệ (Proforma Invoice): Là loại chứng từ có hình thức như hóa đơn, nhưng
không dùng để thanh toán mà được dùng làm chứng từ để khai hải quan, xin giấy phép nhập
khẩu, làm cơ sở cho việc khai trị giá hàng hóa đem đi triển lãm, để gửi bán hoặc có tác dụng
làm đơn chào hàng.
 Hóa đơn tạm thời (Provisional Invoice): Là hóa đơn trong việc thanh toán sơ bộ tiền hàng
trong các trường hợp giá hàng hóa chỉ là giá tạm tính, tạm thu tiền hàng vì việc thanh toán
cuối cùng sẽ căn cứvào trọng lượng hoặc số lượng xác định ở cảng, hàng hóa được giao nhiều
lần mà mỗi lần chỉ thanh toán một phần cho đến khi bên bán giao xong mới thanh toán hết.
 Hóa đơn chính thức (Final invoice): Là hóa đơn thương mại xác định tổng giá trị cuối cùng
của lô hàng và là cơ sở thanh toán dứt khoát tiền hàng
 Hóa đơn chi tiết (Detailed invoice ): Trong hóa đơn chi tiết, giá cả được phân tích ra thành
những mục rất chi tiết. Nội dung của hóa đơn được chi tiết đến mức độ nào là tùy theo yêu cầu
cụ thể, không có tính chất cố định.

delivery of the merchandise to the ultimate consignee, or the party so named on the Export License.
(Tên và địa chỉ của người chịu trách nhiệm phân phối hàng hoá đến cho người nhận cuối cùng).
4) FORWARDING AGENT (Đại lý chuyển giao/hãng vận chuyển quá cảnh): - The name and
address of the duly authorized forwarder acting as agent for the exporter. (Tên và địa chỉ của người
được ủy quyền hợp pháp, hoạt động với vai trò là đại lý của nhà xuất khẩu).
5) COMMERCIAL INVOICE NO - Commercial Invoice number assigned by the exporter. (Mã
sốhoá đơn định bởi nhà xuất khẩu).
6) CUSTOMER PURCHASE ORDER NO - Overseas customer's reference of order number. (Mã số
đơn đặt hàng của khách hàng).
7) B/L, AWB NO - Bill of Lading, or Air Waybill number, if known. (Mã số vận đơn hàng hải hay
hàng không).
8) COUNTRY OF ORIGIN - Country of origin of shipment. (Xuất xứ của hàng hoá được vận
chuyển).
9) DATE OF EXPORT - Actual date of export of merchandise. (Ngày xuất khẩu thực tế.
10) TERMS OF PAYMENT (điều kiện thanh toán) - Describe the terms, conditions, and currency of
settlement as agreed upon by the vendor and purchaser per the Pro Forma Invoice, customer Purchase
Order, and/or Letter of Credit. (Mô tảnhững điều khoản, phương thức thanh toán, loại tiền tệ được
thoảthuận giữa người mua và người bán theo hoá đơn chiếu lệ, đơn đặt hàng của khách hàng, hay tín
dụng thư)
11) EXPORT REFERENCES - May be used to record other useful information, e.g. Other reference
numbers, special handling requirements, routing requirements, etc. (Dùng để trình bày những thông tin
cần thiết khác, ví dụ như các mã số, yêu cầu đặc biệt về việc vận chuyển hàng…).
12) AIR/OCEAN PORT OF EMBARKATION - Ocean port/pier, or airport to be used for
embarkation of merchandise. (Cảng hàng không, hay hàng hải nơi bốc hàng (đưa hàng lên tàu)).
13) EXPORTING CARRIER/ROUTE - (Hãng vận tải): Record airline carrier/flight number or
vessel name/shipping line to be used for the shipment of merchandise. (Hãng vận tải do nhà xuất
khẩu chọn để vận chuyển hàng hoá).
14) PACKAGES - Record number of packages, cartons, or containers per description line. (Mã sốtrên
kiện, thùng cactông hay container theo mỗi dòng mô tả.)
15) QUANTITY - (Số lượng) - Record total number of units per description line. (Tổng số đơn vị

2.1.4 Những điều cần lưu ý khi lập và kiểm tra hóa đơn thương mại
a) Yêu cầu khi lập hóa đơn thương mại
Chúng ta nên tránh các lỗi thường gặp sau:
• Người bán cho rằng hoa hồng, tiền bản quyền và các loại phí khác không phải chịu thuế nên
không ghi vào trong hóa đơn.
• Người xuất khẩu mua hàng từ nhà sản xuất rồi bán lại cho người nhập khẩu và chỉ ghi trên hóa
đơn giá họ mua của người sản xuất chứ không ghi giá họ bán cho người nhập khẩu.
• Trị giá nguyên liệu của người nhập khẩu cung cấp cho người xuất khẩu để sản xuất ra hàng
hóa không được thể hiện trong hóa đơn.
• Nhà sản xuất nước ngoài gửi hàng thay thế cho một khách hàng và chỉ ghi giá thực thu của
hàng hóa mà không thể hiện giá đầy đủ trừ đi tiền bồi thường cho hàng hóa khiếm khuyết đã
giao trước đây và bị trả lại.
• Người giao hàng nước ngoài bán hàng có chiết khấu nhưng trên hóa đơn chỉ ghi giá thực thu
mà không thể hiện số tiền chiết khấu.
• Người xuất khẩu bán hàng theo giá giao hàng (giá gắn với một điều kiện giao hàng nào đó ví
dụ như giá CIF chẳng hạn) nhưng chỉ ghi hóa đơn theo giá FOB tại nơi xếp hàng và không ghi
những chi phí tiếp theo sau.
• Người giao hàng ghi trên hóa đơn người nhập khẩu là người mua hàng nhưng trên thực tế
người nhập khẩu chỉ là đại lý hoa hồng hoặc là bên chỉ nhận một phần tiền bán hàng cho việc
làm trung gian của mình.
b) Yêu cầu khi kiểm tra hóa đơn thương mại
Cần tránh những lỗi sai sau:
• Kiểm tra số bản hóa đơn có đúng với yêu cầu hay không. Số bản này thường không cố định
mà tùy theo yêu cầu của nhà nhập khẩu nhằm mục đích đáp ứng được những yêu cầu cần
thiết.
• Kiểm tra người lập hóa đơn có phải là người thụ hưởng được quy định hay không, kiểm tra
các yếu tố liên quan như tên công ty, địa chỉ, số điện thoại, số fax… Việc ghi tên , địa chỉ
người lập hóa đơn bắt buộc phải theo đúng, kể cả khi nội dung tham chiếu này bị ghi sai, trong
hóa đơn thương mại và các chứng từ khác.
• Kiểm tra tên, địa chỉ người mua bằng cách đối chiếu với mục Applicant của thư tín dụng xem

thành 3 bản. Mỗi bản có tác dụng cụ thể như sau:
+ Một bản để trong kiện hàng để cho người nhận hàng có thể kiểm tra hàng trong kiện khi cần, nó
là chứng từ để đối chiếu hàng hóa thực tế với hàng hóa do người bán gởi.
+ Một bản được tập hợp cùng với các phiếu đóng gói khác tạo thành một bộ và được xếp vào kiện
hàng thứ nhất của lô hàng nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho việc kiểm tra hàng hóa của người nhận
hàng.
+ Một bản kèm theo hóa đơn thương mại và các chứng từ khác lập thành bộ chứng từ xuất trình
cho ngân hàng làm cơ sở thanh toán tiền hàng.
2.2.3 Phân loại
Ngoài loại phiếu đóng gói thông thường, còn có các loại sau:
+ Phiếu đóng gói chi tiết (Detailed packing list)
Là phiếu đóng gói có nội dung liệt kê tỉ mỉ hàng hóa trong kiện hàng. Đôi khi nội dung không có gì
khác biệt so với phiếu đóng gói thông thường, nhưng nếu nó có tiêu đề là phiếu đóng gói chi tiết thì nó
trở thành phiếu đóng gói chi tiết.
+ Phiếu đóng gói trung lập (Neutrai packing list)
Là phiếu đóng gói trong đó không ghi tên người bán và người mua nhằm để người mua có thể sử dụng
phiếu này bán lại hàng hóa cho người thứ 3.
Ngoài phiếu đóng gói còn có một chứng từ tương tự đó là bản kê chi tiết hàng hóa (Specification): là
bản thống kê toàn bộ hàng hóa của lô hàng được phân bổ trong các kiện. Đơn giản hóa đó là bản tổng
hợp của các phiếu đóng gói. Nó được dung trong các trường hợp hàng hóa phức tạp (như phụ tùng,
dụng cụ, hóa chất thí nghiệm…)
2.2.4 Yêu cầu về nội dung của phiếu đóng gói
Phiếu đóng gói là một trong các chứng từ không thể thiếu của bộ chứng từ xuất trình thnah toán. Nó
chính là chứng từ thể hiện chi tiết lô hàng, là căn cứ để người mua xác nhận việc giao hàng của người
bán có đúng hợp đồng hay không và là cơ sở để người bán làm bằng chứng đã giao hàng đúng quy
định. Mẫu phiếu đóng gói cũng có thể có nhiều mẫu khác nhau, tùy thuộc vào từng doanh nghiệp. Tuy
nhiên, phiếu đóng gói sử dụng trong phương thức tín dụng chứng từ không thể thiếu các nội dung chủ
yếu sau:
+ Tên người bán, người mua: Phải phù hợp với quy định của L/C
+ Tên hàng và mô tả hàng hóa phải phù hợp với L/C

định trong vận đơn tại cảng đến.
* Thứ ba, vận đơn đường biển là bằng chứng xác nhận hợp đồng chuyên chở hàng hoá bằng đường
biển đã được ký kết.
* Trong trường hợp thuê tàu chuyến, trước khi cấp vận đơn đường biển, người thuê tàu và người cho
thuê tàu đã ký kết với nhau một hợp đồng thuê tàu chuyến (charter party). Khi hàng hoá được xếp hay
được nhận để xếp lên tàu, người chuyên chở cấp cho người gửi hàng vận đơn đường biển. Vận đơn
được cấp xác nhận hợp đồng vận tải đã được ký kết.
Trong trường hợp thuê tàu chợ thì không có sự ký kết trước một hợp đồng thuê tàu như thuê tàu
chuyến mà chỉ có sự cam kết (từ phía tàu hay người chuyên chở) sẽ dành chỗ xếp hàng cho người thuê
tâù. Sự cam kết này được ghi thành một văn bản, gọi là giấy lưu cước (booking note). Vậy vận đơn
được cấp là bằng chứng duy nhất xác nhận hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đã được
ký kết. Nội dung của vận đơn là cơ sở pháp lý để giải quyết mọi tranh chấp xảy ra sau này giữa người
phát hành và người cầm giữ vận đơn.
Phân loại:
* Căn cứ vào tình trạng bốc dỡ hàng hóa
Có 2 loại:
• Vận đơn đã bốc hàng lên tàu: là chứng từ xác nhận hàng đã được bốc qua lan can tàu, thể hiện
người bán đã giao hàng theo đúng hợp đồng đã ký với người mua. Vận đơn này thường được
ghi chú bằng chữ shipped on board, on board, shipped hoặc Laden On Board.
• Vận đơn nhận hàng để chở: Là chứng từ xác nhận người chuyên chở đã nhận hàng để chở và
cam kết sẽ bốc hàng lên tàu tại cảng quy định trong vận đơn.
* Căn cứ vào phê chú trên vận đơn
Có 2 loại:
• Vận đơn hoàn hảo: là vận đơn không có ghi chú xấu rõ ràng về hàng hóa hoặc bao bì hàng
hóa.
• Vận đơn không hoàn hảo: là vận đơn có những phê chú xấu rõ ràng (bao bì không đáp ứng
cho vận tải biển, một thùng bị vỡ, hàng bị ướt, hàng có mùi hôi, ký mã hiệu không rõ ràng )
Cần lưu ý rằng những phê chú xấu không rõ ràng về sự khiếm khuyết của hàng hóa không khiến B/L
trở nên không hoàn hảo (ví dụ như những phê chú: bao bì "có thế" không đáp ứng được vận tải đường
biển, bao bì dùng lại, thùng được đóng đinh lại, hàng hóa "hình như" bị ẩm, hàng hóa "có vẻ" cồng

- Nơi giao hàng (place of delivery)
- Tên hàng (name of goods)
- Kỹ mã hiệu (marks and numbers)
- Cách đóng gói và mô tả hàng hoá (kind of packages and discriptions of goods)
- Số kiện (number of packages)
- Trọng lượng toàn bộ hay thể tích (total weight or mesurement)
- Cước phí và chi chí (freight and charges)
- Số bản vận đơn gốc (number of original bill of lading)
- Thời gian và địa điểm cấp vận đơn (place and date of issue)
- Chữ ký của người vận tải (thườnglà master’s signature)
Nội dung cuả mặt trước vận đơn do người xếp hàng điền vào trên cơ sở số liệu trên biên lai thuyền
phó.
* Mặt thứ hai của vận đơn
Gồm những quy định có liên quan đến vận chuyển do hãng tàu in sẵn, người thuê tàu không có quyền
bổ sung hay sửa đổi mà mặc nhiên phải chấp nhận nó. Mặt sau thường gồm các nội dung như các định
nghĩa, điều khoản chung, điều khoản trách nhiệm của người chuyên chở, điều khoản xếp dỡ và giao
nhận, điều khoản cước phí và phụ phí, điều khoản giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở, điều
khoản miễn trách của người chuyên chở
Mặt hai của vận đơn mặc dù là các điều khoản do các hãng tàu tự ý quy định, nhưng thường nội dung
của nó phù hợp với quy định của các công ước, tập quán quốc tế vận chuyển hàng hoá bằng đường
biển.
2.3.4 Hướng dẫn lập B/L
Hai hình ảnh minh họa về vận đơn:
class="bi x36 y1d4 wb h1c"
1. Tiêu đề vận đơn đường biển:
Tiêu đề của vận đơn đường biển thường được in sẵn và không quyết định tính chất, nội dung và loại
vận đơn, do đó về mặt lí thuyết vận đơn có thể không cần có tiêu đề hoặc có tiêu đề là bất cứ thế nào.
Để biết vận đơn thuộc loại nào phải căn cứ vào nội dung cụ thể trên mặt trước tờ vận đơn.
2. Tên người chuyên chở:
Bất kì vận đơn nào cũng phải thể hiện tên của công ty vận tải biển hay người chuyên chở (Shipping


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status