Nghiên cứu tách dòng và biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng (Trypanosoma Evansi) lưu hành ở Việt Nam - Pdf 16


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THU HIỀN NGHIÊN CỨU TÁCH DÒNG VÀ BIỂU HIỆN GEN MÃ HÓA
KHÁNG NGUYÊN BỀ MẶT CỦA TIÊN MAO TRÙNG
(TRYPANOSOMA EVANSI) LƢU HÀNH Ở VIỆT NAM TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60.64.01.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan
2. TS Phạm Thị Tâm


Vào hồi giờ ngày tháng năm 2013 Có thể tìm hiểu luận văn tại trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên
Và thƣ viện Trƣờng/Khoa:…………………………….
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của chúng tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này mà tôi sử dụng chƣa từng
đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hiền
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hiền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
Mục lục
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Điểm mới của đề tài 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. TIÊN MAO TRÙNG VÀ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG Ở GIA SÚC 4
1.1.1. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 4
1.1.2. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng 8
1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh 10
1.1.4. Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 13
1.1.5. Phƣơng pháp phát hiện ADN của tiên mao trùng bằng phản ứng
PCR (Polymerase Chain Reaction) 19
1.1.6. Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa 19
1.2. VECTOR TÁCH DÒNG 22
1.2.1. Khái niệm 22
1.2.2. Các loại vector tách dòng 23

3.2 Biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên RoTAT 1.2 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64
1. Kết luận 64
2. Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vii
CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

ADN Acid deoxyribonucleic
CATT Card Agglutination Test for Trypanosomiasis
cDNA DNA bổ xung (complementary DNA)
dNTP Deoxynucleotid triphotphat
ddNTP Dideoxynucletid triphotphat
EDTA Ethylen Diamin Tetra Acetic
IFAT Indirect Fluorescent Antibody Test
IPTG Isopropyl β – D – thiogalactoside
MCS Multi clonding site
PBS Phosphat Buffered Saline
RNA Ribonucleic acid
SDS Sodium Dodecyl Sulfat
SDS – PAGE Sodium Dodecyl Sulfat Poly Acrylamide
TEA Tris – axit acetic - EDTA

Hình 1.2. Sơ đồ thiết kế vector tái tổ hợp pJET1.2-RoTAT 1.2 26
Hình 3.1. Hình ảnh ký sinh trùng trong máu chuột bạch 47
Hình 3.2. Kết quả tách chiết ADN tổng số 48
Hình 3.3. Kết quả sản phẩm PCR trên gel agarose 1,5% 49
Hình 3.4. Kết quả biến nạp gen RoTAT 1.2 vào vi khuẩn E.coli DH10b 51
Hình 3.5. Kết quả tách chiết ADN plasmid 51
Hình 3.6. Kết quả kiểm tra plasmid tái tổ hợp bằng phản ứng PCR với cặp
mồi F1.2 /R1.2 53
Hình 3.7. So sánh trình tự gen RoTAT 1.2 của chủng T.evansi HB với trình tự
GeneBank 54
Hình 3.8 So sánh trình tự gen RoTAT 1.2 của chủng T.evansi LS với trình tự
GeneBank 55
Hình 3.9. So sánh trình tự gen RoTAT 1.2 của chủng T.evansi TN với trình tự
GeneBank 55
Hình 3.11. Hình ảnh điện di gen RoTAT 1.2 cắt bằng các anzyme giới hạn
Bam HI và Xho I 58
Hình 3.12. Hình ảnh điện di sản phẩm cắt plasmid tái tổ hợp bằng enzyme
Bam HI và Xho I 60
Hình 3.13 Sơ đồ cấu trúc của vector pET 32a(+) 61
Hình 3.14 Kết quả điện di protein tái tổ hợp RoTAT 1.2 trên gel SDS-PAGE 62
Hình 3.15 Kết quả Western blot giữa protein tái tổ hợp RoTAT 1.2 với
kháng thể kháng
6xHis
63
Hình 3.16 Kết quả Western blot giữa protein tái tổ hợp RoTAT 1.2 với
kháng thể kháng T.evansi 63

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
Hiện nay nƣớc ta đã sử dụng nhiều phƣơng pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
nhƣ: phƣơng pháp chẩn đoán truyền thống, phƣơng pháp chẩn đoán huyết thanh học,
phƣơng pháp chẩn đoán sinh học phân tử. Trong đó, phƣơng pháp chẩn đoán huyết
thanh học đƣợc đánh giá là có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho kết quả nhanh và có khả
năng chẩn đoán với số lƣợng mẫu lớn, trong thời gian ngắn.
Các phƣơng pháp chẩn đoán huyết thanh học bệnh tiên mao trùng đƣợc thực
hiện dựa trên nguyên tắc phát hiện, kháng nguyên hoặc kháng thể trong máu gia súc
bệnh. Tuy vậy, kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng lại rất đa dạng với nhiều
epitop biến đổi khác nhau. Việc lựa chọn một epitop kháng nguyên có tính ổn định và
tính đặc hiệu với nhiều serotype của tiên mao trùng là công việc cần thiết để đảm bảo
phƣơng pháp chẩn đoán có độ nhạy và đặc hiệu cao.
Theo nghiên cứu của Dia và cs (1997), Verloo và cs (1998 - 2000), kháng
nguyên Ro-TAT 1.2 có mặt ở hầu hết các VAT (Variable Antigen Type) của
Trypanosoma evansi. Kháng nguyên này có thể chế tạo đƣợc bằng công nghệ gen cho
khả năng phát hiện đặc hiệu kháng thể kháng tiên mao trùng đạt 98% (Verloo và cs,
2000). Trong khuôn khổ của đề tài này, chúng tôi tiến hành: “Nghiên cứu tách dòng
và biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng (Trypanosoma
evansi) lưu hành ở Việt Nam”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định đƣợc gen mã hóa kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng
- Tạo đƣợc dòng tế bào vi khuẩn biểu hiện gen mã hóa kháng nguyên bề mặt
của tiên mao trùng
3. Điểm mới của đề tài
- Đề tài xác định đƣợc gen mã hóa kháng nguyên Ro-TAT 1.2 của tiên mao
trùng phân lập ở Việt Nam tạo cơ sở cho việc xác định cấu trúc kháng nguyên.
- Kháng nguyên Ro-TAT 1.2 đƣợc chế tạo bằng công nghệ gen ở Việt Nam sẽ
phục vụ việc sản xuất Kit chẩn đoán có khả năng phát hiện đặc hiệu với bệnh tiên mao

của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) nhƣ sau:
Ngành Sarcomastigophora
Phân ngành Mastigophora
Lớp Zoomastigophorasida
Bộ Kinetoplastorida
Phân bộ Trypanosomatorida
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria
Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901
Loài Trypanosoma (H) leisi
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi
Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax
Loài Trvpanosoma (D) uniform

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (N) congolense
Loài Trypanosoma (N) siminae
Loài Trypanosoma (N) vanhogi
Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906
Loài Trypanosoma (T) brucei
Loài Trypanosoma (T) gambience
Loài Trypanosoma (T) rhodesiense
Loài Trypanosoma (T) equiperdum
Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964

tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân. Trong roi có 9 cặp vi
ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare,
1972 [21]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [3]).
1.1.1.3. Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi
Kháng nguyên của T. evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng
nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi
* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi trong
quá trình sống ký sinh. Bằng phƣơng pháp điện di miễn dịch huyết thanh thỏ tối
miễn dịch với T. evansi, Kageruka (1982) đã phát hiện tới 30 thành phần kháng
nguyên khác nhau. Có ba loại kháng nguyên không biến đổi ở màng nguyên sinh
chất tế bào (ISG: Invanant Surface Glycoprotein): ISG 65, ISG 75 và ISG 100. Do
cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ƣa nƣớc, các loại này không kết hợp với
kháng thể của vật chủ (Nolan, 1997).
* Kháng nguyên biến đổi
Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG
(Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên
biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi.
Nhờ kháng thể đặc hiệu đƣợc đánh dấu mà Vickerman và Luckins (1969) đã
phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt. Cross (1975) đã mô tả lớp áo
bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế
bào bằng một lớp phân tử giống nhau (mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử). Lớp áo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng
nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type). Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới
có khả năng kích thích vật chủ tạo miễn dịch chủ động. Ngƣời ta ƣớc lƣợng rằng,
một con tiên mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 - 10% số
gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này.

của các điểm biểu hiện gen này. Cách thứ hai là, tập hợp lại các đoạn ADN khác
nhau để tái tổ hợp gen, mà việc tái tổ hợp này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc
từng phần gen; hoặc việc thay thế diễn ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ không
phải dựa vào tái tổ hợp gen. Trƣờng hợp này đƣợc diễn giải nhƣ sau: một gen hoạt
hoá đƣợc thay thế bằng bản sao chép của một gen khác. Do có sự thay thế một phần
của gen nên đã tạo ra loại gen phức hợp và đặc trƣng.
1.1.2. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng
1.1.2.1. Phân bố của bệnh
Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông bán cầu.
Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từ châu Phi cho đến
Philippine.
Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác
nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển. Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [6],
bệnh tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên
Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tây). Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và
thay đổi giữa các vùng khác nhau (trâu, bò ở đồng bằng nhiễm tiên mao trùng cao
hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò có nguồn gốc từ miền núi chuyển
xuống vùng đồng bằng).
Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [7] đã điều tra tình hình nhiễm tiên mao trùng ở
trâu bò Việt Nam. Kết quả cho thấy, trâu bò nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ cao
(21,27%), trong đó trâu bò nuôi ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhiễm T. evansi cao
hơn ở đồng bằng.
1.1.2.2. Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng
Trong tự nhiên, tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú hoang,
thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hƣơu, nai, hổ, báo, sƣ tử, chó, mèo, lạc
đà, voi thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch , nhƣng không ký sinh ở ngƣời.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
Chen Qijun (1992) cho biết: T. evansi gây bệnh cho hầu hết các loài động vật

1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
1.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi trâu, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu, bò,
ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da. Theo có thể
quan sát đƣợc phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò gây nhiễm thực nghiệm
tiên mao trùng, kích thƣớc chỗ viêm phụ thuộc vào số lƣợng tiên mao trùng đƣợc
tiêm truyền (ƣớc chừng khoảng 108 tiên mao trùng có thể gây viêm da - ở vị trí
tiêm truyền), một số lƣợng lớn tiên mao trùng phát triển ở tại chỗ viêm này.
Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong bạch
huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân chia theo chiều dọc.
Số lƣợng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng nhƣ nhau. Mật độ tiên
mao trùng thay đổi theo ngày. Biểu đồ sóng tiên mao trùng cho thấy, xen kẽ giữa
những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt sóng yếu. Mỗi đợt sóng tiên mao
trùng bắt đầu bằng sự tăng số lƣợng tiên mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó
phát hiện thấy tiên mao trùng. Mỗi đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu
hiện sự xuất hiện một quần thể tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới,
quần thể này có thể tiếp tục sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi cơ thể xuất
hiện kháng thể đặc hiệu với chúng.
Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose, các chất đạm,
chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phƣơng thức thẩm thấu qua bề mặt
cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản. Ở súc vật bị bệnh, trong 1 ml máu có thể có
10.000 - 30.000 tiên mao trùng. Với số lƣợng nhiều nhƣ vậy, tiên mao trùng chiếm
đoạt dinh dƣỡng nhiều, làm cho súc vật bệnh gây còm, thiếu máu và mất dần khả
năng sản xuất sữa, thịt, mất dần khả năng sinh sản và giảm sức đề kháng với các
bệnh khác.
Sống trong máu vật chủ, tiên mao trùng còn tạo ra độc tố Trypanotoxin, độc tố
này gồm: độc tố do tiên mao trùng tiết ra qua màng thân trong quá trình sống và độc
tố do xác chết của tiên mao trùng phân huỷ trong máu sau 15 - 30 ngày. Độc tố của
tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ƣơng làm rối loạn trung khu điều hoà


- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu, bò
bệnh. Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sƣng đỏ ngầu. Khi
khỏi bệnh, mắt có màng trắng (củi nhãn) kéo che kín giác mạc.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
- Hội chứng tiêu hoá: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng, màu
vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy. Các đợt ỉa chảy tiếp theo
những cơn sốt cách quãng. Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thƣờng dai dẳng và
con vật vẫn ăn đƣợc.
- Gầy yếu, suy nhƣợc: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ sau 7 –
14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu. Nếu bệnh kéo dài thì
con vật gầy xơ xác, lông dựng ngƣợc, da khô nhăn nheo, niêm mạc mắt nhợt nhạt,
lông dễ rụng, dần dần suy nhƣợc cơ thể nặng, mất khả năng cày kéo và sinh sản.
Nếu gặp điều kiện bất lợi nhƣ thiếu ăn, rét mƣớt thì trâu, bò dễ chết. Trong thực tế,
có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khoẻ, làm việc bình thƣờng khi đƣợc
chăm sóc nuôi dƣỡng tốt.
Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T. evansi gây ra. Theo Silva
Rams và cs (1995), Smith R. D. (1995), số lƣợng hồng cầu và hàm lƣợng huyết sắc
tố giảm, số lƣợng bạch cầu tăng, thành phần bạch cầu thay đổi: bạch cầu lymphô,
bạch cầu ái toan tăng nhƣng bạch cầu trung tính giảm, protein tổng số và Albumin
giảm rõ rệt.
* Ở ngựa
Sau khi ruồi, mòng hút máu và truyền T. evansi, ngựa phát bệnh sau 1 - 2
tuần. Triệu chứng rõ nhất là ngựa sốt 40 - 41
0
C, sốt gián đoạn, khi sốt có tiên mao
trùng ở máu ngoại vi. Khi bị bệnh nặng, ngựa thƣờng sốt cao đột ngột, các triệu
chứng khác chƣa kịp thể hiện thì con vật đã lăn lộn điên cuồng rồi chết. Thể bệnh
cấp tính diễn ra khoảng 1 - 3 tuần, thể mãn tính kéo dài 2 - 4 tháng (tuy nhiên, thể

* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trực tiếp:
Muốn phát hiện tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng những phƣơng
pháp sau:
- Phƣơng pháp xem tƣơi (Direct smear)
Khi bệnh súc sốt, T. evansi thƣờng xuất hiện trong mao quản ngoại vi; vì
vậy, nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tƣơi. Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiến kính đã
có sẵn 1 giọt EDTA 1%; dùng góc của la men khuấy đều, đậy la men lên để máu
dàn theo la men thành một lớp mỏng. Soi dƣới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 10
và 10 x 20) để phát hiện tiên mao trùng sống.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
- Phƣơng pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)
+ Phƣơng pháp giọt dầy: Đặt 1 giọt máu to vào giữa phiến kính, dùng một
góc của đầu một phiến kính khác ria tròn giọt máu với đƣờng kính khoảng 1 - 1,25
cm. Để khô tự nhiên trong khoảng 1 giờ, rồi cố định bằng cồn Methanol, nhuộm
Giemsa [1 giọt Giemsa + 1 ml dung dịch PBS (Phosphat Buffered Saline) pH = 7,2]
trong 25 phút. Rửa tiêu bản dƣới vòi nƣớc chảy mạnh, để khô rồi soi dƣới kính hiển
vi (độ phóng đại 10 x 100 hoặc 10 x 90).
Phƣơng pháp này có nhƣợc điểm là dễ làm tổn thƣơng tiên mao trùng, do đó
khó phân biệt đƣợc các loài khác nhau trong trƣờng hợp nhiễm nhiều loài tiên mao
trùng cùng một lúc.
+ Phƣơng pháp giọt mỏng: Đặt 1 giọt máu cách 1 đầu phiến kính 2 cm, dùng
la men ria máu thành một lớp mỏng. Để khô, cố định bằng cồn Methanol trong 2
phút. Nhuộm Giemsa trong 25 phút (l giọt Giemsa + 1 ml dung dịch PBS pH = 7,2).
Rửa tiêu bản dƣới vòi nƣớc chảy mạnh, để khô, soi dƣới kính hiển vi (độ phóng đại
10 x 100 hoặc 10 x 90).
Ƣu điểm của phƣơng pháp giọt mỏng là có thể phân biệt đƣợc hình thái các
loài tiên mao trùng khác nhau.
+ Phƣơng pháp làm tan hồng cầu: dung dịch SDS (Sodium Dodecyl Sulfat)

Bằng phƣơng pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặc kháng
nguyên tiên mao trùng. Đây là các phƣơng pháp huyết thanh học đặc hiệu.
- Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng
Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sinh ra kháng thể đặc hiệu chống
lại tiên mao trùng. Những phƣơng pháp sau cho phép phát hiện kháng thể kháng
tiên mao trùng trong máu vật chủ:
+ Phƣơng pháp ngƣng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination Test):
hoà tan 1 giọt huyết thanh gia súc nghi mắc bệnh vào 1 giọt nƣớc muối sinh lý trên
phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột bạch có nhiều tiên mao trùng vào, trộn đều,
đậy la men và soi dƣới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 hoặc 10 x 40). Nếu thấy
ngƣng kết hình hoa cúc là (+) và ngƣợc lại là (-). Phƣơng pháp này đơn giản, dễ làm
và có thể áp dụng trên diện rộng.
+ Phƣơng pháp LATEX (Latex Agglutination Test)
LATEX là phƣơng pháp đƣợc dùng để phát hiện kháng thể lƣu động có trong
máu của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
16
Nguyên lý của phƣơng pháp LATEX: khi kháng nguyên bề mặt T. evansi
gắn lên các hạt latex kết hợp với kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng ở trên bản
nhựa, thì sẽ xảy ra phản ứng ngƣng kết giữa kháng nguyên với kháng thể. Hiện tƣợng
ngƣng kết có thể quan sát đƣợc bằng mắt thƣờng, và đƣợc giải thích là do kháng
nguyên bề mặt tiên mao trùng đƣợc gắn lên các hạt latex là loại kháng nguyên hữu
hình, có nhiều điểm quyết định tính kháng nguyên bề mặt (epitop surface). Còn kháng
thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng lại có nhiều điểm thụ thể (receptor) tƣơng ứng, đặc
hiệu với các điểm quyết định của kháng nguyên. Do đó, khi kháng nguyên tiên mao
trùng gặp kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng, sẽ có hiện tƣợng một phân tử
kháng thể đặc hiệu liên kết với nhiều phân tử kháng nguyên và ngƣợc lại. Kết quả là
các hạt latex cùng với kháng nguyên chụm lại, tạo thành đám ngƣng kết có thể quan
sát bằng mắt thƣờng. Kháng nguyên dùng cho phản ứng là kháng nguyên bề mặt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status