BÀI THUYẾT TRÌNH HỌC PHẦN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
Đề Tài: Thẩm định tín dụng của công ty cổ phần
sữa Việt Nam- Vinamilk
Danh sách nhóm 25:
1. Vũ Xuân Hội
2. Nguyễn Khôi Nguyên
3. Nguyễn Thanh Hiếu
4. Nguyễn Quang Nghĩa
5. Phạm Trần Hương Giang
MỞ ĐẦU
Công ty sữa Vinamilk là một trong những công ty sản xuất kinh doanh sữa và
các sản phẩm từ sữa hàng đầu Việt Nam trong nhiều năm qua. Do đó công ty trở
thành một khách hàng đầy tiềm năng đối với các công ty tài chính đặc biệt là ngân
hàng. Tuy nhiên, để có thể cấp tín dụng cho việc sản xuất cũng như kinh doanh sản
phẩm, các ngân hàng gặp phải vấn đề là: Liệu tình hình tài chính của công ty
Vinamilk có được như trong báo cáo của họ không? Công ty có gặp phải vấn đề
phát sinh nào đó không?
Để trả lời được những câu hỏi trên, trước khi cấp tin dụng cho công ty, các nhân
viên ngân hàng phải xem xét, cân nhắc và phân tích một cách kĩ lưỡng báo cáo tài
chính của công ty Vinamilk các năm gần đây. Việc này ảnh hưởng rất lớn đến
quyết định có cho vay hay không của ngân hàng bởi vì như chúng ta đã biết, tín
dụng là lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của ngân hàng và trong đó khâu thẩm định tín
dụng là bước quan trọng nhất.
Do đó, trong lĩnh vực kinh doanh và sản xuất sữa như công ty Vinamilk, việc
cấp tín dụng liệu có an toàn hay không? Điều này sẽ được làm sang tỏ trong bài
thuyết trình của nhóm chúng tôi qua hai mô hình: mô hình cổ điển thông qua các
chỉ số, và mô hình điểm số Z. Nhóm phân tích hi vọng có thể mang lại cho người
đọc cái nhìn tổng quan nhất về tình hình tài chính của công ty Vinamilk và có
những chính sách cũng như hạn mức cấp tín dụng cho công ty một cách hợp lí.
Bài viết được chia làm ba phần chính:
- Phần giới thiệu chung
bà Liên được phong danh hiệu Anh hùng Lao động thời kì đổi mới
.
3. Hoạt động của công ty:
Ngành, nghề kinh doanh và các sản phẩm chính: sản xuất và kinh doanh sữa
hộp, sữa bột, bột dinh dưỡng, bánh, sữa tươi, sữa đậu nành, nước giải khát và các
sản phẩm từ sữa khác. Ngoài ra, công ty Vinamilk còn kinh doanh thực phẩm
công nghệ, thiết bị phụ tùng, vật tư, hóa chất, nguyên liệu; kinh doanh nhà, môi
giới cho thuê bất động sản; kinh doanh kho bãi, bến bãi; kinh doanh vận tải bằng ô
tô, bốc xếp hàng hóa; sản xuất mua bán rượu, bia, đồ uống, thực phẩm chế biến,
chè uống, café rang – xay – phin – hòa tan; và sản xuất, kinh doanh một số ngành
nghề khác theo phạm vi cho phép của pháp luật. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của
Công ty: Công ty có trụ sở chính tại 36-38 Ngô Đức Kế, Quận 1, Tp.HCM. Công
ty có 8 nhà máy sữa, trong đó có 3 nhà máy và 1 xí nghiệp kho vận tại Tp.HCM
cùng 5 nhà máy đặt tại các tỉnh như: Đồng Nai, Cần Thơ, Quy Nhơn, Nghệ An, Hà
Nội.
4. Kế hoạch đầu tư
Với tốc độ tăng trưởng của Công ty cùng với chiến lược thâm nhập vào thị
trường quốc tế, Công ty có kế hoạch đầu tư mới một số dây chuyền sản xuất, xây
dựng nhà máy. Đồng thời để mở rộng hoạt động kinh doanh, Công ty cũng đầu tư
vào một số lĩnh vực mới. Kế hoạch đầu tư phát triển như sau:
- Xây dựng thêm các nhà máy sữa ở một số địa phương có tiềm năng phát triển
về thị
trường tiêu thụ và có nguồn nguyên liệu sữa bò tươi.
- Đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ và trang thiết bị cho các đơn vị hiện có.
- Xây dựng nhà máy sản xuất các sản phẩm mới như bia, cà phê…
- Liên doanh xây dựng cao ốc nhằm đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh
PHẦN II. PHÂN TÍCH TÍN DỤNG CỦA CÔNG TY VINAMILK
I.Phân tích theo mô hình cổ điển: Phân tích các chỉ số tài chính chủ yếu của
công ty
1.Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
5.Vòng quay tổng tài sản= Doanh Thu/ GT tổng tài
sản
1.38 1.25 1.46
Nhận Xét
a) Số vòng quay hàng tồn kho của doanh nghiệp có xu hướng biến động, trong
năm 2008 tỷ số này là 3.25 vòng, trong năm 2009 là 7.13 vòng và trong năm 2010
là 4.49 vòng. Việc tỷ số này biến động trong các năm, có thể do nhu cầu của thị
trường trong các năm khác nhau, doanh nghiệp có các chính sách quản trị hàng tồn
kho qua các năm là khác nhau.
b) Kỳ thu tiền bình quân của Vinamilk giao động ổn định xung quanh từ 24
ngày đến 29 ngày từ năm 2008-2010. Điều này cho thấy doanh nghiệp đang có
chính sách quản trị khoản phải thu hợp lí, ổn định.
c)Vòng quay tài sản cố định ròng của doanh nghiệp từ năm 2008 -2010 khá ổn
định, trong năm 2008 tỷ số này 4.23, trong năm 2009 là 4.21, và trong năm 2010 tỷ
số này tăng lên là 4.59. Cho thấy qua các năm hiệu quả sử dụng các tài sản cố định
của doanh nghiệp là hợp lí và đạt mức ổn định.
d)Vòng quay tổng tài sản của Vinamilk qua 3 năm giao động ở mức từ 1.35 đến
1.46, chỉ số này cho thấ hiệu quả sử dụng tài sản nói chung của doanh nghiệp để
tạo ra doanh thu là khá ổn định
2/ Tỷ số khả năng sinh lợi:
Nhóm chỉ số khả năng
sinh lợi
Công thức
Năm
2008 2009 2010
1.Hệ số lãi gộp
EBIT/Doanh thu 0.1671 0.2573 0.2699
2.Hệ số lãi ròng
EAT/Doanh thu 0.1523 0.2239 0.2296
3.Khả năng sinh lợi căn
của thuế và đòn bẩy tài chính, chỉ số này năm 2010 xấp xỉ bằng năm 2009.
d)Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản = ROA = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông
thường / Giá trị tổng tài sản bình quân
=
2
)502,850,035,482,8860,295,032,773,10(
180,949,185,616,3
+
=0.3756
e)Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu = ROE = Lợi nhuận dành cho cổ
đông thường / Vốn chủ sở hữu =
282,590,436,964,7
180,949,185,616,3
=0.4540
ROA và ROE của công ty ở mức khá cao, thể hiện rõ khả năng sinh lợi của
tổng tài sản cũng như của tổng vốn chủ sở hữu. Một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư
thu về lợi nhuận tới hơn 0.45 đồng. Hai chỉ số này của công ty tăng khá mạnh qua
các năm, thể hiện sự hoạt động hiệu quả, ổn định.
4/ Tỷ số Đòn bẩy tài chính:
Nhóm chỉ số đòn bẩy
tài chính
Công thức
Năm
2008 2009 2010
1.Hệ số nợ Tổng nợ/Tổng tài sản 0.1935 0.2124 0.2607
2.Hệ số nợ trên vốn chủ
sở hữu Tổng nợ/Vốn chủ sở hữu 0.2424 0.2697 0.3526
3.Số nhân vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản/vốn chủ sở
hữu 1.2531 1.2697 1.3526
282,590,436,964,7
860,295,032,773,10
=
Năm trước: 1.4426
Với hệ số nợ là 26.07% như trên đã phân tích, tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng
nguồn vốn của công ty Vinamilk là khoảng 74%. Chỉ số này tăng dần qua các năm
với lí do là tổng nợ tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng tổng vốn chủ sở hữu.
d)Hệ số nợ dài hạn = Nợ dài hạn/(Nợ dài hạn+Vốn chủ sở hữu)
=
02.0
282,590,436,964,7306,454,583,163
306,454,583,163
=
+
Hệ số nợ dài hạn của công ty ở mức rất thấp (2%), trong tổng số nợ phải trả của
công ty thì chủ yếu là các khoản nợ ngắn hạn, chiếm tỷ trọng lớn nhất là khoản
phải trả người bán (chiếm 38.8% tổng nợ). Hệ số này của công ty giảm dần qua các
năm.
5/Tỷ số giá thị trường
Tỷ số 2008 2009 2010
1.Giá cổ phiếu 83.000 75.000 126.000
2.EPS 7.132 6.769 10.251
3.Giá trị sổ sách 26.619 18.685 22.541
4.Giá/Thu nhập (P/E) 11,64 11,08 12,29
5.Giá thị trường/Giá trị sổ sách (P/B) 3,12 4,01 5,59
Tỷ số giá trên thu nhập cho thấy nhà đầu tư sẵn sàng trả bao nhiêu để có
được một đồng lợi nhuận của công ty. Tỷ số này của VNM trong ba năm lần lượt
là 11,64; 11,08; 12,29. P/E (2009) giảm so với P/E (2008) nhưng sau đó tăng khá
mạnh vào năm 2010, và tỷ số này biến động không nhiều trong ba năm, điều này
chứng tỏ nhà đầu tư tin tưởng vào hoạt động của VNM, bởi công ty luôn là thương
sản
Giá trị sổ
sách của
tổng nợ
2008 2.215.10
3
803.037 1.371.313 1.752.75
7
8.380.563 5.966.959 1.154.432
2009 3.334.28
7
893.344 2.731.35
8
3.512.65
3
10.820.14
2
8.482.036 1.991.196
2010 3.274.791 1.909.022 3.642.656 3.530.72
1
16.081.46
6
10.773.03
2
2.808.596
Năm X1 X2 X3 X4 X5 Z
2008 0,3712 0,1345 0,2298 1,5183 1,4045 3,7683
2009 0,3931 0,1053 0,3220 1,7641 1,2757 4,0865
2010 0,3040 0,1772 0,3381 1,2571 1,4928 4,0260
Năm 2008:
công ty mà không cho thấy được một số vấn đề liên quan tới đánh giá riêng lẻ như
việc phân tích các chỉ số tài chính. Ví dụ như hệ số thanh toán nhanh của doanh
nghiệp vào năm 2009 là 2.4201, đây là một mức cao khá bất thường và không hẳn
đã là tốt cho doanh nghiệp do sẽ xuất hiện hiện tượng vốn chết. Nhưng khi xem xét
chỉ số Z và X1 của năm 2009 thì ta không thể nhận thấy được sự bất thường này
mà chỉ đánh giá là tình hình của công ty vẫn đang tốt đẹp. Chính vì vậy, để đánh
giá được một doanh nghiệp một cách toàn diện, ti mỉ và chính xác thì phân tích các
chỉ số tài chính sẽ đưa ra được kết quả rõ ràng hơn cho từng muc hoạt động của
doanh nghiệp.
- Ngược lại chỉ số Z thể hiện được mức độ quan trọng của từng tỉ lệ riêng lẻ đối
với doanh nghiệp, điều mà việc phân tích các chỉ số tài chính không thôi không
làm được. Khi phân tích chỉ số Z, các chỉ số X đều được tính toán mức độ quan
trọng thể hiện qua tỉ số của chúng, nhờ đó mà nhà đầu tư có được một đánh giá
định lượng về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ví dụ như khi doanh thu của
doanh nghiệp tăng nhưng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu lại giảm mạnh, sự
kết hợp của hai việc này sẽ mang lại những ảnh hưởng tốt hay xấu cho tình hình tài
chính của doanh nghiệp ? Nếu chỉ phân tích theo phương pháp chỉ số tài chính thì
việc đánh giá ảnh hưởng của hai sự việc này tới tình hình tài chính của công ty sẽ
mang nặng tính chủ quan cảm tính của người đánh giá, tuy nhiên khi áp dụng
phương pháp chỉ số Z thì thông qua những số liệu thống kê và nghiên cứu trước
đây ta có được hai tỉ số đánh giá là 0,999 và 0.006. Từ đó ta sẽ đưa ra được một kết
quả có tính định lượng về ảnh hưởng của hai sự việc này đối với tình hình tài chính
của công ty. Do sự biến động về tài chính của doanh nghiệp là hết sức phức tạp và
có nhiều ảnh hưởng khác nhau thậm chí là đối nghịch nên phương pháp chỉ số Z là
hết sức hữu dụng khi cần phải đưa ra một đánh giá định lượng chung.
KẾT LUẬN
Bài phân tích tập trung vào phân tích công ty sản xuất sữa và kinh doanh sữa
Vinamilk thông qua hai mô hinh: mô hình cổ điển và mô hình điểm số Z, nhằm
đưa ra những phân tích cơ sở về tình hình tài chính của công ty và qua đó thể hiện
khả năng vay vốn và khả năng trả nợ của công ty trong tương lai. Phương pháp