BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
(Kỳ 3)
IX. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Bảng: Các chẩn đoán phân biệt thường gặp của BPTNMT:
Chẩn đoán Triệu chứng
BPTNMT + Khởi phát trong khoảng tuổi 1/2 đời người
+ Những triệu chứng tiến triển chậm
+ Có tiền sử hút thuốc lá kéo dài
+ Khó thở khi gắng sức
+ Giới hạn lưu lượng khí không hồi phục
nhiều.
Hen phế quản
+ Khởi phát sớm thường trong thời kỳ thiếu
niên
+ Những triệu chứng thay đổi từng ngày
+ Những triệu chứng xảy ra ban đêm
+ Dị ứng, viêm mũi và hay là chàm
+ Tiền sử gia đình hen phế quản
+ Giới hạn lưu lượng khí hồi phục nhiều.
Suy tim sung huyết
+ Ran ẩm nhỏ hạt ở đáy
+ X quang lồng ngực cho thấy bóng tim lớn,
phù phổi
+ Test chức năng hô hấp cho thấy rối loạn
thông khí hạn chế
+ Không có giới hạn lưu lượng khí.
Giãn phế quản + Khạc đàm mủ số lượng nhiều
+ Thường phối hợp với nhiễm trùng mủ
+ Ran ẩm to hạt
+ Phim lồng ngực hay CT scan phổi cho thấy
cứu.
+ Phim lồng ngực để chẩn đoán phân biệt.
+ Tâm điện đồ giúp chẩn đoán phì đại tim phải, loạn nhịp và thiểu năng
vành.
+ Công thức máu: chủ yếu công thức bạch cầu và đa hồng cầu có thể có Hct
> 55%)
+ Xét nghiệm đàm có thể tìm thấy Streptococcus pneumoniae, Hemophilus
influnzae và Moraxella catarrahalis.
XI. ĐIỀU TRỊ
1. Xử trí BPTNMT ổn định:
a. Giảm các yếu tố nguy cơ:
- Ngưng thuốc lá: Là phương pháp điều trị độc nhất có hiệu quả để làm
giảm yếu tố nguy cơ.
Ngưng thuốc lá sớm ở bệnh nhân bị BPTNMT có thể cải thiện FEV1, tuy
nhiên các đường khí một khi đã bị tắc nghẽn trầm trọng thì sự ngưng thuốc lá ít có
lợi.
- Thuốc:
* Những thuốc thay thế nicotine: dạng viên, dán.
* Thuốc chống trầm cảm: như bupropion và nortriptyline, thường dùng loại
bupropion thải chậm đơn độc hay kết hợp với cao dán nicotine.
b. Điều trị bằng thuốc:
- Điều trị kết hợp:
Có thể làm gia tăng tác dụng giãn phế quản, sự kết hợp giữa một đồng vận
β2 tác dụng ngắn với một kháng cholinergic ở những bệnh nhân BPTNMT ổn định
làm cải thiện nhiều hơn và kéo dài hơn FEV1 so với sử dụng một loại thuốc.
Sự sử dụng một đồng vận β2 tác dụng ngắn, một kháng cholinergic và hay
là theophylline có thể cải thiện chức năng hô hấp.
- Glucocorticosteroid:
Trong BPTNMT glucocorticosteroid uống và khí dung ít có hiệu quả hơn
trong hen và vai trò trong điều trị BPTNMT ổn định giới hạn trong nhưng chỉ định
hay
+ PaO
2
từ 55 - 60mmHg hay SaO
2
= 89%, nếu có tăng áp phổi, phù ngoại
biên gợi ý suy tim hay đa hồng cầu (Hct > 55%).
Điều trị lâu dài oxy (> 15 giờ/ngày) ở những bệnh nhân bị suy hô hấp mạn
có thể làm gia tăng sự sống sót. Oxy liệu pháp liên tục làm giảm áp lực động mạch
phổi và có thể ngăn ngừa được sự diễn tiến của tăng áp phổi.