Một số yếu tố nguy cơ và hiệu quả của viên tỏi – folate đối với tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu (RLCHLPM) trên người 30 69 tuổi tại hà nội (tóm tắt) - Pdf 16


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

NGUYỄN ĐỖ VÂN ANH MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ
VÀ HIỆU QUẢ CỦA VIÊN TỎI – FOLATE ĐỐI VỚI
TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID MÁU
TRÊN NGƯỜI 30-69 TUỔI TẠI HÀ NỘI

Chuyên ngành: Dinh Dưỡng Tiết Chế
Mã số: 62.72.73.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC

Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư viện Quốc gia
2. Thư viện Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương 3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn chuyển hóa lipid máu hiện nay là một trong những vấn đề đang
được y học thế giới quan tâm, nghiên cứu bởi mối liên quan chặt chẽ của nó
với bệnh lý tim mạch. Nghiên cứu rối loạn chuyển hóa lipid máu ngoài việc
phục vụ cho điều trị, còn mang một ý nghĩa dự phòng rất lớn đối với nguy cơ
tim mạch.
Vai trò của tỏi trong điều trị bệnh đã được chứng minh bằng rất nhiều
nghiên cứu trên thế giới, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tỏi
lên các chỉ tiêu lipid máu vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, còn
nhiều mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất. Ở Việt Nam tỏi là một thực phẩm gia
vị, được trồng và sử dụng rất phổ biến, công dụng của tỏi và liều dùng hầu như
chỉ dựa trên kinh nghiệm dân gian, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh
giá hiệu quả của sử dụng tỏi-folate trên người bệnh có rối loạn chuyển hóa lipid
máu.

Những đóng góp mới của luận án
1. Nghiên cứu bệnh chứng được thực hiện ở giai đoạn I của luận án để kiểm
định sự kết hợp giữa một số yếu tố nguy cơ với tình trạng rối loạn chuyển
hóa lipid máu, là một nghiên cứu mới, có giá trị và đáng tin cậy, làm căn
cứ khoa học để đưa ra giải pháp can thiệp phòng chống tình trạng rối loạn
chuyển hóa lipid máu, liên quan đến việc kiểm soát tình trạng thừa cân,

Chuyển hóa lipid dưới sự điều hòa của nội tiết: hormon làm tăng thoái
hóa lipid và kích thích tổng hợp triglyceride. Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng
đến chuyển hóa lipid: nhiều bằng chứng dịch tễ học cho thấy có mối liên quan
dương tính giữa chế độ ăn với nồng độ lipid máu cũng như tỷ lệ mắc bệnh tim
mạch. Một số thói quen sinh hoạt ảnh hưởng đến chuyển hóa lipid: tập luyện
thể thao có tác dụng điều hòa lượng mỡ máu, giảm xơ vữa động mạch, giảm
nguy cơ bị nhồi máu cơ tim. Hiệu quả đối với bệnh tim mạch của một chương
trình luyện tập được quy định bởi một loạt các yếu tố như: loại bài tập, cường
độ và khối lượng vận động, tần số buổi tập và phương pháp luyện tập. Từ năm
1940, người ta đã tìm thấy có mối liên hệ giữa hút thuốc lá và nguy cơ bị bệnh
tim mạch. Trong nhiều thập kỷ qua, tác động của ethanol lên quá trình tổng
hợp, đào thải và oxy hóa lipid đã được phát hiện: một số nghiên cứu dịch tễ học
đã đưa ra những kết luận trái ngược về tác động của tiêu thụ rượu lên bệnh tim
mạch. Thừa cân và béo phì là một trong những yếu tố thúc đẩy phát sinh các
bệnh lý như đái tháo đường, tim mạch, ung thư. Sự phân bố mỡ trong cơ thể
cũng được quan tâm, người béo phì trung tâm thường mắc bệnh tim mạch, đái
tháo đường, ung thư nhiều hơn người béo phì ngoại biên.

1.3. RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID MÁU
Rối loạn chuyển hóa lipid máu (RLCHLPM) là một thuật ngữ nhằm chỉ
sự biến đổi của các thành phần lipid máu cao hoặc thấp hơn chỉ số hóa sinh
bình thường.
Ngày nay trên thế giới cũng như Việt Nam, số người RLCHLPM ngày
càng gia tăng. Ở Việt Nam, một số nghiên cứu trong bệnh viện cho thấy mối
liên quan chặt chẽ giữa rối loạn chuyển hóa lipid máu với bệnh đái tháo đường,
tình trạng tăng huyết áp, bệnh tim mạch. 5


trạng thừa cân, sự phân bố mỡ trong cơ thể với tình trạng rối loạn chuyển
hóa lipid máu ở người trưởng thành (30-69 tuổi) sống ở nội thành Hà Nội.
2.1.2. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu Bệnh- Chứng
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu
:
 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng cho nhóm bệnh: Là những người trong độ
tuổi 30-69 tuổi, sống ở nội thành Hà Nội. Tự nguyện tham gia nghiên cứu.

6
 Kết quả xét nghiệm lipid máu tại thời điểm nghiên cứu có RLCHLPM. Tại
thời điểm điều tra không có thai hoặc cho con bú, không mắc các bệnh cấp
tính, không bị dị tật bẩm sinh.
 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng cho nhóm chứng: Là những người trong độ
tuổi 30-69 tuổi, sống ở nội thành Hà Nội. Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Kết quả xét nghiệm lipid máu tại thời điểm nghiên cứu không có
RLCHLPM. Từ trước đến nay chưa từng điều trị RLCHLPM bằng thuốc
hay bất kỳ liệu pháp điều trị nào khác. Tại thời điểm điều tra không có thai
hoặc cho con bú, không mắc các bệnh cấp tính, không bị dị tật bẩm sinh.
2.1.4. Địa điểm nghiên cứu: 5 phường nội thành Hà Nội.
2.1.5. Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính theo công thức:
{1/[p
1
(1-p
1
)] + 1/[p
0
(1-p
0
)]}
n = Z

 Mức độ hoạt động nghề nghiệp (được quy đinh trong nghiên cứu này): nhẹ
(Về hưu, thất nghiệp); trung bình (văn phòng, buôn bán, học sinh); nặng
(công nhân, nông dân, lao động phổ thông).
 Thói quen luyện tập thể thao (được quy định trong nghiên cứu này): Thường
xuyên luyện tập thể thao: 3lần/tuần, mỗi lần từ 30 phút trở lên; Không
thường xuyên luyện tập thể thao: <3lần/tuần, hoặc 3lần/tuần nhưng
<30phút/lần.
 Đánh giá kiến thức về RLCHLPM (được dùng trong nghiên cứu này): có
kiến thức (trả lời đúng

3/5 số câu hỏi); không có kiến thức (trả lời đúng
<3/5 số câu hỏi).

2.2. GIAI ĐOẠN II
2.2.1. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của sử dụng viên tỏi - folate đối với tình
trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu trên người 30-69 tuổi.
2.2.2. Phuơng pháp nghiên cứu
2.2.2.1.Đối tượng: 30-69 tuổi có RLCHLPM
2.2 2.2. Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng
2.2.2.3. Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu được tính dựa theo sự khác biệt mong đợi về nồng độ LDL-C,
cholesterol, triglyceride và HDL-C huyết thanh. Sau khi tính toán, cỡ mẫu
nghiên cứu cần thiết là 120 đối tượng, 60 đối tượng cho mỗi nhóm can thiệp và
đối chứng.
2.2.2.4. Chọn mẫu: Dựa trên kết quả xét nghiệm máu của giai đoạn I, lập
khung mẫu các đối tượng có đủ tiêu chuẩn, phân bổ ngẫu nhiên đối tượng vào
hai nhóm nghiên cứu.

mềm EPI data, sau đó chuyển sang SPSS 10.0 để xử lý bằng các test thống kê
phù hợp.

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ

3.1. Sự kết hợp giữa một số yếu tố nguy cơ và tình trạng RLCHLPM
3.1.1 Đặc điểm hai nhóm nghiên cứu
Các đối tượng ở hai nhóm bệnh và nhóm chứng có sự tương đồng về tuổi,
giới tính và nghề nghiệp giữa hai nhóm.
3.1.2. RLCHLPM và một số yếu tố nguy cơ
Bảng 3.2: Mối nguy cơ của thừa cân, béo bụng, % mỡ cơ thể và RLCHLPM
Nhóm bệnh

n (%)
Nhóm chứng

n (%)
OR
(CI.95%)
p

2
test)
Tình trạng thừa cân: Có
Không
89 (59,3)
61 (40,7)
65 ( 43,3)
85 (56,7)
1,9(1,2-3,0)

Nhóm b
ệnh
n (%)
Nhóm ch
ứng
n (%)
OR
(CI.95%)
p
( χ
2
test)
Thói quen hút thuốc
- Hút thường xuyên
 <20điếu
 ≥20 điếu
- Hút không thường xuyên
-
Không hút

17 (11,3)
2 (1,3)
15 (10,0)
14 (9,3)
119 (79,3)

11 (7,3)
6 (4,0)
5 (3,3)
15 (10,0)

4 (2,7)

16 (10,6)
10 (6,7)
78 (52,0)
42 (28,0)

0,7 (0,2-3,5)

0,6 (0,3-1,5)
1,1 (0,4-2,8)
1,0 (0,6-1,7)
-

>0,05

>0,05
>0,05
>0,05

Thói quen luyện tập thể thao
- Không tập
- Không thường xuyên
- Thường xuyên

45 (30,2)
38 (25,5)
66 (44,3)

38 (25,3)


24 (16,0)
126 (84,0)

0,5(0,2-1,0)
-

>0,05
Choleterol khẩu phần
 ≥ 200mg
 <200mg

15 (10,0)
135 (90,0)

14 (9,3)
136 (90,7)

1,1(0,5-2,3)
-

>0,05

10
SFA
 ≥ 7%
 < 7%
(a)
3 (2,0)

143 (95,2)
7 (4,7)

2,4(0,6-9,5)
-

>0,05
Chất xơ
 <20g
 ≥ 20g

136 (80,3)
14 (9,3)

23 (82,0)
27(18,0)

2,1(1,1-4,3)

-

<0,05
Bảng 3.4 cho thấy không có sự kết hợp giữa phần trăm năng lượng từ
lipid khẩu phần, hàm lượng cholesterol cũng như phần trăm năng lượng từ acid
béo chưa no một nối đơn (MUFA) và acid béo chưa no nhiều nối đôi trong
khẩu phần với tình trạng RLCHLPM. Nhưng khi phần trăm năng lượng từ acid
béo no (SFA) khẩu phần ở mức từ 7% trở lên thì nguy cơ mắc RLCHLPM tăng
lên gấp 2,7 lần (p<0,01). Khẩu phần ăn ít chất xơ (dưới 20g/ngày) làm tăng


90 (60,0)
60 (40,0)

94 (63,5)
56 (36,5)

0,9(0,6-1,4)
-

>0,05
Tình trạng mãn kinh
Mãn kinh
Chưa mãn kinh

81 (81,0)
20 (19,0)

51 (50,5)
50 (49,5)

4,0(2,1-7,4)
-

<0,001
Tuy không thấy sự kết hợp giữa kiến thức và RLCHLPM, nhưng kết quả
bảng 3.5 cho thấy, tiền sử gia đình và tình trạng mãn kinh ở phụ nữ làm tăng
nguy cơ mắc RLCHLPM lên gấp 2 và gấp 4 lần so với người không có yếu tố
gia đình và so với những phụ nữ chưa mãn kinh.
3.2. Hiệu quả của sử dụng viên tỏi - folate đối với tình trạng RLCHLPM.

Tăng cân (kg) 0,25±0,15
NS
0,24±0,15
NS
>0,05
BMI 0,01±0,45
NS
0,08±0,45
NS
>0,05
Tăng % mỡ 0,15±0,14
NS
0,37±0,16
NS
>0,05
Vòng eo (cm) 0,09±0,22
NS
-0,20±0,26
NS
>0,05
Vòng mông (cm) 0,18±0,13
NS
0,026±0,13
NS
>0,05
Tỷ số eo/mông 0,001±0,015
NS
0,003±0,001
NS
>0,05

(mmol/l)
T0 2,82 ± 1,97 2,73 ± 1,97
T3 2,75 ± 1,66 2,66 ± 1,85
NS

T3-T0 -0,11 ± 0,12 -0,01 ± 0,09
NSCholesterol _TP
(mmol/l)
T0 5,75 ± 0,71 5,79 ± 0,82
T3 5,75 ± 0,95 5,48 ± 0,92
a, *

T3-T0 0,04 ± 0,09 -0,31 ± 0,08
**LDL-Cholesterol
(mmol/l)
T0 4,07 ± 0,51 4,03 ± 0,51
T3 4,17 ± 0,79 3,46 ± 0,71
b, **

T3-T0 0,09 ± 0,08 -0,41 ± 0,05
**HDL-Cholesterol

độ cholesterol tại thời điểm ban đầu thiên theo xu hướng nghịch chiều, tuy
nhiên mối tương quan này không có ý nghĩa thống kê (Pearson r = - 0,12;
p>0,05).
Không tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ HDL-C huyết thanh ban đầu
với sự cải thiện nồng độ HDL-C sau can thiệp (Pearson r = -0,25; p>0,05).
Tương tự như đối với chỉ tiêu HDL-C, mối tương quan giữa nồng độ
LDL-C huyết thanh ban đầu với mức cải thiện tình trạng RLCHLPM theo chỉ
tiêu LDL-C cũng không có ý nghĩa thống kê (Pearson r = 0,02; p>0,05).

14
Hình 3.8: Sự thay đổi tỷ lệ RLCHLPM theo chỉ tiêu cholesterol huyết thanh
Tại thời điểm T3, cả hai nhóm chứng và can thiệp, tỷ lệ RLCHLPM theo
chỉ tiêu cholesterol toàn phần đều giảm so với thời điểm T0, nhưng chỉ có sự
giảm tỷ lệ ở nhóm can thiệp là có ý nghĩa thống kê với p<0,001.
Tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, ở nhóm đối chứng tỷ lệ đối tượng có

ban đầu và kết thúc nghiên cứu (p>0,05).
Bảng 3.16: Hiệu quả của can thiệp theo các chỉ tiêu lipid máu
Chỉ tiêu lipid máuThời điểm Đối chứng
(n=56)
Can thiệp
(n=55)

Triglycerid
(>2,26 mmol/L)
T0
56,9
52,6
T3
65,5
49,1
NS

Chỉ số hiệu quả
-15,1
6,7
Hiệu quả của can thiệp
21,8

Cholesterol - TP
(>5,2mmol/L)
T0
79,3

(<0,9mmol/L)
T0
8,6
7,0
T3
6,9
5,3
NS

Chỉ số hiệu quả
19,8
24,3
Hiệu quả của can thiệp
4,5
a: p<0,001; so sánh giữa T0 và T3 cùng nhóm, Mc Nemar test.
(NS); (*); (**): p>0,05; p<0,05; p<0,001; so sánh với nhóm chứng, χ
2
test.
Bảng 3.16 cho thấy chỉ số hiệu quả và hiệu quả can thiệp rõ nhất với chỉ
số LDL-Cholesterol (31,7%), Cholesterol toàn phần (28,2%), triglyceride
(21,8%) và sau cùng là HDL-C cholesterol (4,5%).

16
3.2.5. Khẩu phần ăn và thói quen luyện tập thể thao của hai nhóm đối tượng
tại thời điểm kết thúc nghiên cứu.
Không có sự khác biệt giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng về mức tiêu
thụ thực phẩm tại thời điểm kết thúc nghiên cứu (p>0,05). Số liệu về tính cân
đối của khẩu phần tại thời điểm kết thúc nghiên cứu cho thấy không có sự khác
biệt giữa 2 nhóm nghiên cứu.
Tại thời điểm kết thúc nghiên cứu, số đối tượng luyện tập thể thao một

bệnh mạch vành liên quan đến tình trạng béo phì.

17
Thống nhất với nhận định trên, trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi,
nguy cơ mắc RLCHLPM sẽ tăng 6,4 lần khi bị béo bụng.
4.1.2. Sự kết hợp giữa một số thói quen sinh hoạt và tình trạng RLCHLPM.
4.1.2.1. Thói quen luyện tập thể thao và tình trạng RLCHLPM:
Không giống với kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Dung và Nguyễn
Lương Hạnh, nghiên cứu của chúng tôi chưa tìm thấy sự kết hợp giữa thói quen
luyện tập thể thao thường xuyên với tình trạng RLCHLPM. Sự khác biệt này có
thể do trong khuôn khổ nghiên cứu của chúng tôi chỉ khai thác chủ yếu vào tính
thường xuyên hay tần suất luyện tập, trong nghiên cứu của Nguyễn Lương
Hạnh và Phạm Thị Dung lại tập trung nhiều đến cường độ luyện tập. Mà hiệu
quả đối với bệnh tim mạch của một chương trình luyện tập được quy định bởi
một loạt các yếu tố như: loại bài tập, cường độ và khối lượng vận động, tần số
buổi tập và phương pháp luyện tập. Yếu tố nào là quan trọng nhất?. Các nghiên
cứu trả lời câu hỏi này vẫn chưa thống nhất:
 Ferguson và cộng sự cho thấy năng lượng tiêu hao sau mỗi bài tập có mối
liên quan với tình trạng lipid máu.
 Trong phân tích có hệ thống 31 nghiên cứu thử nghiệm nhằm xác định
hiệu quả của tập luyện cho thấy cường độ tập của các chương trình tập
luyện khác nhau có ảnh hưởng không giống nhau lên các chỉ tiêu lipid
máu, việc tập luyện thường xuyên không mang lại hiệu quả cao hơn so
với thời gian tập luyện 3 lần/tuần.
 Trong một nghiên cứu khác, tác giả đưa ra kết luận thời gian của mỗi lần
tập là yếu tố quan trọng nhất khi xây dựng chương trình luyện tập. Bên
cạnh thời gian của mỗi lần tập, tần xuất tập thì quãng thời gian tập hay
việc duy trì tập luyện hết sức quan trọng.
Mặt khác, một số cơ chế liên quan giữa tập luyện và tình trạng cholesterol
huyết thanh đó là tập luyện làm tăng kích thước của các hạt lipoprotein. Do

những điều tra viên có kinh nghiệm được tập huấn kỹ càng.
 Ảnh hưởng lớn nhất rất có thể bởi chính bản thân đối tượng, tính chân
thực của họ khi trả lời các thông tin liên quan đến lượng rượu tiêu thụ,
người uống nhiều rượu có thể không thích nói thật việc tiêu thụ rượu của
họ, thường theo xu hướng ít hơn so với thực tế.
 Đơn vị đo lường, phương pháp đánh giá tiêu thụ rượu cũng khác nhau
giữa các nghiên cứu. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc so sánh cũng
như đánh giá các kết quả nghiên cứu với nhau.
 Một số nhận định sau khi phân tích meta, chất lượng của phân tích phụ
thuộc vào số liệu gốc được công bố rất có thể thừa hưởng sai số và nhiễu
tiềm tàng. Hơn nữa, một vài nghiên cứu từ rất sớm, các kỹ thuật chẩn
đoán hình ảnh chưa sẵn có, một số nghiên cứu chỉ dựa vào thông tin được
ghi lại trong hồ sơ tử vong, điều này ảnh hưởng đến mối liên quan quan
sát được.
4.1.2.3. Thói quen hút thuốc lá và tình trạng RLCHLPM:
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự kết hợp giữa thói quen hút
thuốc lá và tình trạng RLCHLPM, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu
của Jacobson BH., nghiên cứu của O.A.Adedeji.

19
Mối liên hệ giữa thói quen hút thuốc lá và tình trạng RLCHLPM được thể
hiện thông qua số điếu thuốc hút, trong nghiên cứu này, nguy cơ bị RLCHLPM
sẽ tăng lên gấp 3,1 lần ở những người hàng ngày hút từ 20 điếu trở lên so với
người không hút thuốc lá tương tự kết quả nghiên cứu của Nagoya J., nghiên
cứu tại Ấn Độ.
Nghiên cứu của chúng tôi, cũng như các nghiên cứu nêu trên chỉ mới đề
cập đến số lượng điếu thuốc tiêu thụ còn loại thuốc hay lượng độc chất được
cho là nguyên nhân gây nên sự biến đổi các chỉ tiêu lipid máu mà đối tượng
tiêu thụ đều chưa được quan tâm nghiên cứu, rất có thể điều này là một trong
các lý do mang đến sự không thống nhất giữa các kết quả nghiên cứu.

20
lại. Nhiều số liệu cho thấy ảnh hưởng của khẩu phần ăn cholesterol thấp lên
mức LDL-C là rất ít so với khẩu phần khác và các thói quen sống, cần quan
tâm cách nào khác để xem thực phẩm có lợi cho sức khỏe có thể được phối hợp
trong khẩu phần để đáp ứng khuyến nghị cholesterol khẩu phần hiện nay.
Nghiên cứu của chúng tôi chưa tìm thấy sự kết hợp giữa việc tiêu thụ acid
béo chưa no có một nối đôi và acid béo chưa no nhiều nối đôi với các chỉ tiêu
lipid máu. Hành vi ăn uống của con người vốn dĩ vừa đa dạng vừa khó đo
lường một cách chính xác, mà nguồn cung cấp acid béo chưa no chủ yếu là từ
dầu thực vật, đây là một trong số những thực phẩm tiêu thụ, bằng kỹ thuật hỏi
ghi 24 giờ qua, việc thu thập con số đo lường chính xác gặp nhiều khó khăn
nhất, do thực phẩm này được sử dụng phần lớn trong khâu chế biến, số lượng
dầu sử dụng thường bị che lấp ở những thức ăn thành phẩm, có thể chính điều
này đã ảnh hưởng đến việc đo lường mối liên quan giữa MUFA và PUFA với
tình trạng RLCHLPM trong nghiên cứu.
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò của chất xơ trong chế độ ăn với
nguy cơ của bệnh tim mạch và mối liên quan giữa chất xơ với chuyển hóa lipid,
chuyển hóa glucose và các giá trị sinh học khác. Phân tích 67 nghiên cứu thử
nghiệm cho thấy, tiêu thụ 2-10g/ngày chất xơ hòa tan làm giảm nhẹ nhưng có ý
nghĩa thống kê cholesterol máu. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, tiêu
thụ dưới 20g chất xơ/ngày, nguy cơ dẫn đến RLCHLPM sẽ tăng lên 2,1 lần.
4.2. Hiệu quả của sử dụng viên tỏi - folate đối với tình trạng RLCHLPM.
4.2.1. Sự chấp nhận can thiệp:
Tỏi là một phần trong khẩu phần ăn của chúng ta trong nhiều thế kỷ qua,
như một thực phẩm được sử dụng nói chung, tỏi nằm trong danh sách thực
phẩm được công nhận rộng rãi là an toàn (GRAS) do Cục Quản lý Thực phẩm
và Dược phẩm Hoa kỳ (FDA) phê duyệt. Tuy vậy, để đảm bảo an toàn tuyệt
đối cho các đối tượng tham gia nghiên cứu này, viên tỏi sử dụng trong liệu
pháp can thiệp được kiểm nghiệm, phân tích đánh giá chất lượng vệ sinh an
toàn và cung cấp cho đối tượng sau khi có chứng nhận đạt tiêu chuẩn vệ sinh

nhóm can thiệp, nồng độ cholesterol toàn phần giảm 0,31mmol/l so với thời
điểm khi bắt đầu nghiên cứu, so với mức giảm 0,04mmol/l ở nhóm chứng sự
khác biệt này mang ý nghĩa thống kê. Tương tự như vậy đối với chỉ tiêu LDL-
C. Sự thay đổi có ý nghĩa các chỉ tiêu cholesterol toàn phần và LDL-C trong
nghiên cứu có thể cho là những minh chứng cho hiệu quả của viên tỏi-folate
đối với tình trạng RLCHLPM:
 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, tương tự với kết quả nghiên cứu của
Jain và cộng sự.
 Việc giảm có ý nghĩa thống kê nồng độ cholesterol và LDL-C sau can
thiệp trong nghiên cứu của chúng tôi hoàn toàn thống nhất với kết quả
nghiên cứu của Steiner.
Khi đem so sánh với nghiên cứu có quy mô lớn hơn của Mader, tương tự
như trong nghiên cứu của chúng tôi, liệu pháp can thiệp ở đây cũng là bột tỏi
với liều 800mg/ngày, nhưng lại được sử dụng trong thời gian dài hơn (16 tuần),
chỉ tiêu LDL-C không có sự cải thiện. Lý do lớn nhất có thể dẫn đến sự khác
biệt này đó là do Mader tiến hành nghiên cứu trên quy mô rộng tại nhiều trung
tâm, việc phân tích mẫu được tiến hành một cách cục bộ tại mỗi trung tâm theo
cách riêng do vậy dẫn đến sai số đo lường tiềm tàng là điều khó tránh.

22
Sự thay đổi nồng độ triglycerid và HDL-C trong nghiên cứu của chúng
tôi không có ý nghĩa thống kê, khác với kết quả nghiên cứu của Fumiko. Sự
khác biệt này có thể do:
 Liệu pháp can thiệp Fumiko sử dụng ở đây là dịch chiết tỏi lên men thay
cho bột tỏi. Nhìn chung, phương pháp sử dụng để chế biến tỏi ảnh hưởng
đáng kể đến hợp chất sulfur, đó là hợp chất chiếm ưu thế và đáp ứng sinh
học của tỏi.
 Trong nghiên cứu của Fumiko, các chỉ tiêu lipid máu được đánh giá mỗi
12 tuần. Kết quả cho thấy có mối tương tác giữa hiệu quả và thời gian sử
dụng dich chiết tỏi lên men. Quay lại với liệu pháp can thiêp bằng sử

23
Khác với những minh chứng về hiệu quả của tỏi lên các chỉ tiêu
cholesterol toàn phần và LDL-C mà kết quả của nghiên cứu chúng tôi mang lại:
 Nghiên cứu của Simons cho kết quả hoàn toàn trái ngược, tỏi không có
hiệu quả lên các chỉ tiêu lipid máu, đây là một nghiên cứu thử nghiệm
ngẫu nhiên có đối chứng, nghiên cứu này đã khắc phục được một số hạn
chế của những nghiên cứu trước như kiểm soát được yếu tố liên quan
như khẩu phần ăn, thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của đối
tượng được tính toán bằng phần mềm thống kê, thời gian can thiệp dài
hơn. Tuy nhiên, không thấy cung cấp số liệu về việc tuân thủ điều trị của
các đối tượng, do vậy có thể chưa được phản ánh một cách chính xác số
viên tỏi đối tượng tiêu thụ. Mặt khác, với cỡ mẫu 30, liệu đã đủ lớn để
việc so sánh giữa các nhóm có ý nghĩa về mặt thống kê?.
 Neil và cộng sự, năm 1996, cũng bằng thiết kế nghiên cứu thử nghiệm,
mù kép, ngẫu nhiên có đối chứng trong thời gian 24 tuần, sử dụng bột tỏi
khô 300mg/lần, 3lần/ngày, giống như nghiên cứu của Simons, không tìm
thấy sự khác biệt về nồng độ lipid huyết thanh giữa hai nhóm. Trong
nghiên cứu này, mặc dù các đối tượng được yêu cầu hạn chế chất béo
khẩu phần, nhưng không thấy bất kỳ số liệu nào cho thấy khẩu phần ăn
của đối tượng nghiên cứu trong cả hai nhóm được phân tích đánh giá,
vậy liệu khẩu phần ăn có thể là nguy cơ nhiễu ảnh hưởng đến kết quả
nghiên cứu?.
 Trong thời gian 12 tuần, Isaacsohn và cộng sự đã nghiên cứu hiệu quả của
việc bổ sung 900mg bột tỏi/ngày trên đối tượng RLCHLPM, kết quả
nghiên cứu cho thấy tỏi không có hiệu quả làm giảm cholesterol, trong
nghiên cứu này, các đối tượng được yêu cầu hạn chế chất béo khẩu phần,
nhưng không thấy đề cập đến cách kiểm soát. Rất có thể kết quả nghiên
cứu bị ảnh hưởng bởi sự hợp tác của các đối tượng nghiên cứu, tính trung
thực và khả năng ước lượng mô tả chính xác khẩu phần ăn cũng như
cách chế biến. Việc làm cho khẩu phần ăn ổn định mới là điều cốt yếu để

cứu không đạt được mức tối ưu như mong đợi để có thể ước lượng một cách
chính xác nhất về hiệu quả của viên tỏi sử dụng trong nghiên cứu lên các chỉ
tiêu lipid máu. Tuy nhiên, với kết quả thu được từ nghiên cứu này không những
góp phần minh chứng cho hiệu quả của tỏi lên tình trạng RLCHLPM, mà còn
là cơ sở để phát triển các phương pháp xác định chất lượng của viên tỏi, phục
vụ cho những nghiên cứu sâu hơn trong tương lai.

KẾT LUẬN

5.1. Sự kết hợp giữa một số yếu tố nguy cơ và tình trạng RLCHLPM
Từ kết quả nghiên cứu bệnh chứng trên 300 đối tượng 30-69 tuổi sống ở
nội thành Hà Nội năm 2009-2010, chúng tôi có một số kết luận sau:
- Tình trạng thừa cân, béo bụng, % mỡ cơ thể cao là yếu tố nguy cơ của
RLCHLPM:
 Nguy cơ mắc RLCHLPM sẽ tăng lên 1,9 lần (p<0,01) khi bị thừa cân.
 Nguy cơ mắc RLCHLPM sẽ tăng lên 6,4 lần (p<0,001) khi bị béo
bụng.

25
 Nguy cơ mắc RLCHLPM sẽ tăng lên 2,5 lần khi có % mỡ cơ thể cao
(p<0,001).
- Thói quen hút thuốc lá ≥20 điếu/ngày làm tăng nguy cơ mắc RLCHLPM lên
gấp 3,1 lần so với không hút thuốc (p<0,05).
- Phần trăm năng lượng từ acid béo no(SFA) khẩu phần ở mức từ 7% trở lên
thì nguy cơ mắc RLCHLPM tăng lên gấp 2,7 lần (p<0,01).
- Khẩu phần ăn ít chất xơ (dưới 20g/ngày) làm tăng nguy cơ mắc RLCHLPM
lên gấp 2,1 lần (p<0,05).
- Tiền sử gia đình, tình trạng mãn kinh làm tăng nguy cơ RLCHLPM lên gấp
2 và 4 lần.
- Không thấy sự kết hợp giữa lạm dụng rượu bia, thói quen luyện tập thể thao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status