Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ và ứng dụng kỹ thuật cao trong điều trị bệnh sỏi đường tiết niệu - Pdf 13


Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ Bộ QUốC PHòNG
HọC VIệN QUÂN Y Đề TàI ĐộC LậP CấP NHà NƯớC BáO CáO TổNG HợP KếT QUả NGHIÊN CứU Đề TàI

NGHIÊN CứU MộT Số YếU Tố NGUY CƠ
Và ứNG DụNG Kỹ THUậT CAO TRONG
ĐIềU TRị BệNH SỏI ĐƯờNG TIếT NIệU
M Số: ĐTĐL.2008G/28 Cơ quan chủ quản : Bộ Quốc phòng
Cơ quan chủ trì đề tài : Học viện Quân Y
Chủ nhiệm đề tài : PGS.TS. Trần Văn Hinh
881
7

Hà NộI - 2011 HÀ NỘI - 2011

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS. TS. Trần Văn Hinh
THƯ KÝ ĐỀ TÀI: TS. Nguyễn Phú Việt

BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
GS. TS. Nguyễn Tiến Bình
PGS. TS. Trần Văn Hinh
TS. Nguyễn Phú Việt

NHỮNG ĐƠN VỊ THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Bệnh viện 103 và HVQY
Bệnh viện Việt Đức
Bệnh viện TƯQĐ 108
Bệnh viện ĐH Y dược TP Hồ Chí Minh NHỮNG CÁ NHÂN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. BỆNH VIỆN 103 VÀ HỌC VIỆN QUÂN Y
GS. TS. Nguyễn Tiến Bình ThS. Nguyễn Ngọc Toàn
PGS. TS.Trần Văn Hinh ThS. Nguyễn Thành Lê
PGS. TS. Hoàng Mạnh An ThS. Nguyễn Kim Lưu
TS. Nguyễn Phú Việt ThS. Võ Văn Hiển
TS. Nguyễn Duy Bắc ThS. Nguyễn Trung Kiên
PGS. TS. Đào Huy Hậu ThS. Nguyễn Tiến Dũng
PGS. TS. Lê Trung Hải TS. Phạm Văn Trân
TS. Trần Viết Tiến ThS. Phùng Anh Tuấn
TS. Lê Anh Tuấn ThS. Tạ Việt Hưng
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này, Ban chủ nhiệm đề tài xin trân trọng cảm ơn tới
- Bộ khoa học và công nghệ
- Vụ khoa học và công nghệ các ngành kinh tế kỹ thuật, Vụ tài chính kế toán,
Vụ Kế hoạch - Bộ Khoa học và công nghệ.
- Cục Khoa học công nghệ - Bộ Quốc phòng.
- Ban Giám đốc Học viện Quân Y.
- Phòng Khoa học và công nghệ, phòng Tài chính - Học viện Quân Y.
- Bệnh viện 103, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện TƯQ
Đ108, Bệnh viện ĐH
Y dược TP Hồ Chí Minh và các phòng, khoa, ban của các Bệnh viện này.
Đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi nghiên cứu thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ và các nhà khoa học đã đóng
góp cho nhiều ý kiến khoa học quý báu.
Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã tham gia, giúp đỡ và ủng hộ trong quá
trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, chúng tôi xin ghi ơn tất cả
các bệnh nhân đã đồng ý và giúp đỡ
chúng tôi thực hiện nghiên cứu này.

Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2010
Ban chủ nhiệm đề tài

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một nước nhiệt đới, nằm trong vành đai sỏi trên bản đồ thế
giới, tỷ lệ bệnh sỏi tiết niệu chiếm khoảng 35-45% số bệnh nhân đến khám
bệnh tại các chuyên khoa Tiết niệu. Bệnh nhân sỏi tiết niệu chiếm 50-60% số
bệnh nhân nằm điều trị trong khoa tiết niệu [12], [15].
Sỏi đường tiết niệu nếu không được theo dõi và điều tr
ị sẽ gây nhiều
biến chứng như nhiễm khuẩn niệu, suy thận. Mục đích của điều trị sỏi tiết
niệu nhằm loại bỏ sỏi ra khỏi hệ tiết niệu, khôi phục lại lưu thông hệ tiết niệu
và hạn chế các yếu tố nguy cơ để ngăn cản sỏi tái phát sau điều trị. Do đó,
nghiên cứu yếu tố
nguy cơ của bệnh sỏi đường tiết niệu là cần thiết để giảm tỷ
lệ bị bệnh sỏi, phát hiện sớm bệnh ở nhóm người có nguy cơ cao để điều trị
sớm, giảm tỷ lệ biến chứng và tỷ lệ tái phát sỏi sau điều trị [12], [15], [114].
Do sự phát triển của cuộc các mạng khoa học và kỹ thuật, trong điều trị

sỏi tiết niệu, từ những năm 1980 ra đời các phương pháp ít xâm lấn (hiện đại)
có lợi cho người bệnh như: Tán sỏi ngoài cơ thể (Extracorporeal shock wave
lithotripsy - ESWL), tán sỏi qua nội soi niệu quản ngược dòng (uretero
retrograde lithotomy - URL, URS), lấy sỏi thận qua da (percutaneous nephro
lithotomy - PCNL), phẫu thuật lấy sỏi qua nội soi và cắt thận qua nội soi. Bên
cạnh đó còn áp dụng các phương tiện hiện đại như nội soi, X quang với cánh
tay C-arm hỗ trợ trong phẫ
u thuậ mở [50], [114].

cho người Việt Nam không phải tất cả đã phù hợp nên đã xảy ra không ít tai
biến và biến chứng ảnh hưởng tới chất lượng điều trị. Trong nhiều hội nghị
chuyên ngành, nhiều chuyên gia đã lên tiếng cảnh báo do làm không đúng chỉ
định và quy trình nên tỷ lệ tai biến và biến chứng tương đối cao.
Xuất phát từ những nhu cầu th
ực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài
“Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ và ứng dụng kỹ thuật cao trong điều trị
bệnh sỏi đường Tiết niệu”
Với 2 mục tiêu:
1. Xác định một số yếu tố nguy cơ của bệnh sỏi đường tiết niệu
2. Xây dựng chỉ định và quy trình ứng dụng một số kỹ thuật cao điề
u trị
bệnh sỏi đường tiết niệu trên người Việt Nam. 3
Bao gồm 7 mục tiêu cụ thể:
1. Xác định một số yếu tố nguy cơ của bệnh sỏi đường tiết niệu.
2. Xây dựng chỉ định và quy trình ứng dụng điều trị sỏi thận bằng
phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL).
3. Xây dựng chỉ định và quy trình ứng dụng điều trị sỏi thận bằng
phương pháp tán sỏi qua da (PCNL).
4. Xây dựng chỉ định và quy trình ứng dụng điều trị sỏi niệu quản bằng
phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng (URS).
5. Xây dựng chỉ định và quy trình ứng dụng điều trị sỏi thận và niệu
quản bằng phương pháp nội soi sau phúc mạc.
6. Xây dựng chỉ định và quy trình sử dụng các phương pháp và kỹ thuật
nhằm hạn chế sót sỏi trong phẫ
u thuật sỏi san hô và nhiều viên.
7. Xây dựng chỉ định và quy trình ứng dụng cắt thận mất chức năng hay

- Trong khi thực hiện các nội dung trên, các nội dung phối hợp với
nhau tham gia viết sách tham khảo, bài báo khoa học và tham gia đào tạo
- Điểm nổi bật trong đề tài là:
Thành công: Xác định
được một số yếu tố nguy cơ bệnh sỏi tiết niệu, từ
đó đề xuất các biện pháp dự phòng bệnh sỏi tiết niệu
Xây dựng được các chỉ định và quy trình các kỹ thuật cao
điều trị bệnh sỏi tiết niệu.
Tồn tại: Mặc dù đã áp dụng các kỹ thuật bổ trợ trong phẫu thuật mở sỏi
san hô và nhiều viên, nhưng t
ỷ lệ sót sỏi trong phẫu thuật sỏi san hô và nhiều
viên còn cao. 5
Chương 1
TỔNG QUAN 1.1. CƠ CHẾ BỆNH SINH VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH SỎI TIẾT NIỆU
1.1.1. Cơ chế bệnh sinh sỏi tiết niệu

là nguyên nhân tạo sỏi. Epstein (1967) nêu lý thuyết về sự rối loạn tuần hoàn
thận dẫn đến những tổn thương tế bào nội mạc ống sinh niệu, gây giảm các
chất keo, tạo ra nhiều “hạt nhân” để tích tụ các tinh thể hình thành sỏi.
Giả thuyết của Randall: Randall (1973) đưa ra lý thuyết về những mảng
vôi ở biểu mô xoang thận (mảng Tubulin), là sự lắng đọng muối vôi vào
những vế
t chợt loét ở lớp biểu mô đó. Theo Randall, nếu tháp thận bình
thường nhẵn nhụi thì sỏi khó kết hợp, ngược lại nếu các tháp thận thay đổi,
các đài thận bị lở loét mất tính trơn nhẵn thì các tinh thể bám dính tại sỏi.
Theo B. Doré (1999), thời gian không có triệu chứng kéo dài hàng năm. Sau 2
năm, chỉ có 29% sỏi rơi ra và di chuyển xuống đường tiết niệu dưới để ra
ngoài. Tỷ lệ sỏi rơi xuố
ng dưới sau 3 năm là 13% và nếu sau 5 năm thì sỏi rất
khó tự rơi và thoát xuống dưới ra ngoài [11], [86], [114].
Khi sỏi bong ra khỏi gai thận, nhờ những tác động của nhu động đẩy nước
tiểu từ thận xuống bàng quang, đẩy sỏi di chuyển xuống NQ.
* Thuyết tác dụng của Mucoprotein hay thuyết khuôn đúc:
Theo Boyce, Baker, Simon thì sỏi tiết niệu loại calci, uric đều có một
nhân khởi điểm hữu cơ mà cấu trúc của nhân này là Mucoprotein (Muco
polysaccharid). Ở
người bình thường, nồng độ Mucoprotein là 90 - 120mg/24
giờ. Ở bệnh nhân sỏi tiết niệu, nồng độ này lên tới 500 - 1.000mg/24 giờ.
Mucoprotein acid rất dễ kết hợp với calci để tạo một phức không tan, khởi
điểm cho sỏi tiết niệu. Như vậy, ngoài chất Mucoprotein là chất keo che chở
không cho các tinh thể lắng đọng tạo sỏi còn có Mucoprotein toan tính làm
nhân tạo sỏi. [11], [86], [89], [114].
* Thuyết bão hòa quá mức:
Theo Coe (1980), Elliot (1973), Finlayson (1974): có sự thăng bằ
ng giữa
tốc độ hòa tan và tăng trưởng của các tinh thể trong dung môi. Ở giai đoạn

Do các cơ chế bệnh sinh hình thành sỏi chưa rõ ràng, mỗi giả thuyết chỉ
đề cập một khía cạnh, do đó nhiều tác giả tập trung giải thích các yếu tố
nguy cơ dẫn đến hình thành sỏi tiết niệu. Các yếu tố nguy cơ bao gồm yếu
tố nội sinh (bên trong cơ thể) và yếu tố ngoại sinh (môi trường) [28], [86],
[89], [114].
8
1.1.2.1. Các yếu tố nội sinh (bên trong cơ thể)
- Tuổi: tỷ lệ mắc sỏi cao nhất gặp ở lứa tuổi từ 20 - 50. Tuy nhiên, ở hầu
hết các bệnh nhân đều cho thấy có những bằng chứng khởi phát từ tuổi thanh
thiếu niên (từ 13-19). Nhiều tác giả cho rằng xu hướng mắc bệnh sỏi tiết niệu
từ khi còn nhỏ (dưới 13 tuổi) hoặc cả nam và nữ là cân b
ằng nhau.
- Giới: tỷ lệ nam/nữ = 3/1, tuy nhiên, trong trường hợp sỏi tiết niệu xuất
hiện trên nền của viêm đường tiết niệu mạn tính thì tỷ lệ bệnh ở nữ giới lại
cao hơn nam giới. Finlayson (1974) nghiên cứu đi tới kết luận là nồng độ
testosterone trong huyết thanh thấp góp phần ngăn ngừa sỏi oxalate hình
thành ở phụ nữ và trẻ em. Nghiên cứu của Fan (1999) cho thấy androgen có
tác dụng làm tăng bài tiết oxalate niệu, oxalate huyết thanh, sự tích tự tinh thể
calci oxalate ở thận, trong khi đó oestrogen có tác dụng ngược lại.
Testoterone có thể làm tăng sản xuất oxalate ở gan (góp phần làm tăng nguy
cơ mắc sỏi calci oxalate); trong khi nữ giới có nồng độ citrate trong nước tiểu
cao hơn (citrate ức chế sự tạo thành sỏi calci oxalate).
- Chủng tộc: có rất nhiều tài liệu cho thấy, sỏi tiết niệu không phổ biến ở

người dân châu Mỹ, người da đen (châu Phi, Mỹ); trong khi đó bệnh khá phổ
biến ở người Capsca, người châu Á.
- Di truyền: 25% bệnh nhân sỏi tiết niệu có tiền sử sỏi tiết niệu trong gia

Ngoài ra, còn một loạt yếu tố nguy cơ nội sinh khác tạo điều kiện hình
thành sỏi tiết niệu:
+ Béo phì.
+ Cao huyết áp.
+ Nồng độ phosphat máu và nước tiểu thấp.
+ Bệnh cường tuyến cận giáp.
+ Bệnh viêm đại trực tràng.
+ Bệnh viêm khớp mạn tính.
+ Đã phẫu thuật cắt một phần dạ dày.
+ Các dị tật bẩm sinh đường tiết niệu.
+ Các bệnh lý gây tắc nghẽ
n đường tiết niệu.
+ Tỷ trọng nước tiểu cao.
+ Thể tích nước tiểu ít
10
1.1.2.2. Các yếu tố ngoại sinh (bên ngoài môi trường)
- Địa dư, khí hậu và mùa: mối liên quan giữa những yếu tố vừa đề cập với
nguy cơ mắc sỏi tiết niệu rất phức tạp. Trong khi sỏi thận phổ biến ở những
vùng có khí hậu nóng, thì một số nhóm cư dân bản địa ở những vùng đó lại có
tỷ lệ mắc thấp (người da đen châu Phi, thổ dân), c
ũng như dân cư ở nhiều
vùng khí hậu ôn đới lại có tỷ lệ mắc cao (Bắc Âu và vùng Scandinavi). Điều
đó có thể liên quan tới chế độ ăn quá dư thừa mà không cân đối của người
phương Tây, uống ít nước, ít vận động kết hợp với yếu tố di truyền dẫn đến
sự hình thành sỏi.
Theo Schneider, tần số mắc bệnh từ 1 - 14%, tuỳ theo từng vị trí đị
a dư.

hơi, hay những người làm việc thường xuyên ngoài trời nắng cũng nguy cơ
sỏi niệu (Sutor và Wooley, 1974).
- Chế độ ăn uống:
+ Uống nhiều nước làm loãng nước tiểu có thể làm thay đổi hoạt động ion
giúp cho ngăn cản sự hình thành sỏi (Finlayson, 1974). Blacklock (1969) báo
cáo rằng lượng nước tiểu tăng t
ừ 800ml - 1.200ml/ngày thì tỷ lệ bệnh sỏi niệu
ở những thuỷ thủ tàu giảm 86%.
+ Ăn một số thức ăn mà nước tiểu bài tiết ra nhiều các chất tạo sỏi như:
purine (acid uric), oxalate, hoặc calcium, phosphat.
+ Ngoài ra, còn một số yếu tố nguy cơ ngoại sinh khác cũng góp phần
hình thành sỏi tiết niệu:
. Thường xuyên lao động trong điều kiện nóng.
. Nguồn nước cứng có nồng độ các ion calci, magiê cao.
. Thức
ăn nhiều đạm và mỡ động vật.
. Thức ăn ít chất xơ.
. Uống ít nước.
. Thường xuyên dùng một số loại thuốc như nhóm thiazides, vitamin
C, vitamin D [86].
1.2. PHÂN LOẠI SỎI TIẾT NIỆU
Có nhiều cách phân loại sỏi tiết niệu, cụ thể là: [10], [28], [86], [114].
1.2.1. Đặc điểm, tính chất của sỏi (vị trí, số lượng và hình dạng của sỏi)
Vị trí của sỏi: Sỏi tiết niệu có thể gặp sỏi ở thận, niệu quản, bàng quang,
niệu đạo, với tỷ lệ: Sỏi thận chiếm 40%. 12
Sỏi niệu quản chiếm 28%.
Sỏi bàng quang chiếm 26%.
13
+ Sỏi calcium phosphate, màu vàng nhạt hay trắng bẩn, dễ vỡ.
+ Sỏi calcium carbonate, màu trắng như phấn, mềm và dễ vỡ.
- Sỏi hữu cơ:
+ Sỏi Urate, màu trắng gạch cua, có thể không cản quang, mềm.
+ Sỏi cholesterol, màu vàng, dễ vỡ vụn nát.
+ Sỏi Cystine, màu vàng nhạt, nhẵn, mềm, kém cản quang.
+ Sỏi Struvite (ammonium magnesium phosphate), màu vàng trắng,
rắn, cản quang, phát triển nhanh thành sỏi to, sỏi san hô.
1.2.3. Nguyên nhân hình thành sỏi
- Sỏi cơ thể: sỏi tiết niệ
u có nguồn gốc các bệnh lý, các rối loạn chức
năng các cơ quan khác, các bệnh lý toàn thân. Có thể kể đến các bệnh như: ưu
năng cận giáp trạng, ưu năng giáp trạng, bệnh Gout, những chấn thương nặng
của xương, chứng tăng canxi máu do nhiều nguyên nhân [89], [114],
- Sỏi cơ quan: sỏi tiết niệu có nguồn gốc từ các bất thường giải phẫu hay
những tổn thương ở ngay các bộ
phận trên hệ thống tiết niệu như: các dị tật
bẩm sinh gây ứ đọng nước tiểu (hẹp khúc nối bể thận - niệu quản, thận móng
ngựa, thận đa nang, túi thừa niệu quản, túi thừa bàng quang hay niệu đạo…);
những tổn thương vi thể tại thận, nhiễm khuẩn niệu (thường gây ra sỏi
Amoni-magie-phosphat) cũng được phát hiện và tìm thấy có mối liên quan
tới sự hình thành sỏ
i [89], [114].

1.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN
1.3.1. Điều trị nội khoa
Điều trị nội khoa bao gồm các biện pháp phòng bệnh, làm hạn chế sự

viên nhỏ này dễ bỏ
sót trong phẫu thuật nhất là khi nhu mô thận dày, cổ đài
hẹp, phẫu thuật có chảy máu nhiều. Khi sỏi sót, gây rất nhiều tai biến và biến
chứng tiếp theo như rò nước tiểu, nhiễm khuẩn niệu [33], [38].
Tỷ lệ sót sỏi sau phẫu thuật sỏi thận dao động từ 10- 40%, thường các
tác giả chỉ đề cập sỏi sót gây các biến chứng, do vậy tỷ lệ thực tế sót sỏi
(không gây biế
n chứng và gây biến chứng) có thể nhiều hơn con số thông báo
này. Nguyễn Hồng Trường (2007), khi phẫu thuât sỏi san hô tại bệnh viện
Việt Đức cho thấy tỷ lệ sót sỏi trong phẫu thuật 34,6%. Do đó nếu phẫu thuật
sỏi san hô và nhiều viên thì tỷ lệ này chắn chắn phải cao hơn [24], [34]. 15
Nếu để sót sỏi nhỏ trong phẫu thuật sẽ gây nhiều biến chứng như nhiễm
khuẩn niệu, rò nước tiểu, sỏi hình thành tái phát nhanh v.v
Để kiểm tra lấy sỏi nhỏ, nâng cao tỷ lệ sạch sỏi, giảm tỷ lệ sót sỏi có
thể áp dụng:
1.3.2.1. X- quang trong phẫu thuật
Sử dụng X quang chụp trong phẫu thuật để lấy những viên sỏi nhỏ mà
bằng tay và dụng cụ
không thể kiểm soát được đã được áp dụng từ những
năm 1980 của thế kỷ trước. Hiện nay do sự phát triển của X quang với cánh
tay chữ C (C-arm) cho phép sử dụng phương pháp này có hiệu quả hơn vì
không những cho biết vị trí của sỏi nằm ở nhóm đài trên hay đài giữa mà khi
xoay cánh tay có thể cho biết các đài mặt trước hay mặt sau của thận.
Ono Y và CS (1985) nghiên cứu ở 100 bệnh nhân phẫu thuậ
t sỏi thận
san hô và nhiều viên, khi sử dụng X quang trong và sau phẫu thuật để kiểm
tra và phát hiện sỏi sót, tác giả kết luận tỷ lệ sót sỏi là 19,4%. Qua nghiên

được chụp X quang trong phẫu thuật [29], [88].
1.3.2.3. Nội soi tìm sỏi và dùng máy tán sỏi xung hơi (Pneumatic lithotripsy) hay
LASER tán sỏi qua đường mở bể thận
Trong phẫu thuật mở SSH, Martha K.T đã áp dụng biện pháp dùng ống soi
thận mềm, ống soi thận cứng hoặc thậm chí có thể dùng ống soi bàng quang để kiểm
tra, định vị và lấy một số sỏi nhỏ trong các đài thận. Tuy nhiên theo tác giả điều hạn
chế của kỹ thuật này là khó giữ được nước trong các đài - bể thận và phẫu trường
“bẩn”. Năm1980, Zingg E.J và CS sử dụng ống soi cứng để nội soi trong phẫu
thuật sỏi thận san hô và nhiều viên, kết quả quan sát phát hiện trên 60% các
đài thận và sỏi nhỏ trong đó mà nhẽ ra sỏi nằm vị trí này sẽ sót lại trong thận.
Traxel. O và CS (2005) dùng ống soi mềm và năng lượng LASER để tìm và
tán sỏi nhỏ trong đài thận [8].
Onsal A (1982) sử dụng máy tán sỏi “xung hơi” đưa qua đường cắt mở
bể thận để
tán những nhánh sỏi và những viên sỏi nằm trong các đài sau khi
đã lấy viên sỏi ở bể thận. Kết quả điều trị: 88% BN hết sỏi, thời gian phẫu
thuật trung bình là 190 phút (135 - 285 phút), lượng máu mất trung bình là
226ml (140 - 425 ml), không có BN nào cần truyền máu; thời gian nằm viện 17
trung bình là 4,2 ngày (3 - 7 ngày). Kiểm tra chức năng thận 6 tháng sau phẫu
thuật: chỉ số Ure và creatinin trung máu bình theo thứ tự giảm từ 31,2 xuống
28,2mg/dl (p = 0,043) và từ 1,3 xuống 1,1 mg/dl (p = 0,043); trên UIV các đài
- bể thận bớt giãn nở và chức năng thận cải thiện hơn trước phẫu thuật; trên
đồng vị phóng xạ thấy chức năng thận bên phẫu thuật tăng từ 39 lên 43% (p =
0,043), không có biến chứng đáng kể ngoài 01 BN bị sốt cao (dẫ
n theo [8]).
Hiện nay, tại các nước phát triển, phẫu thuật mở vẫn sử dụng, đặc biệt
để điều trị 5 - 12% sỏi san hô còn lại không có chỉ định can thiệp bằng các

hơi, bóng hơi này to ra và vỡ tạo ra sóng áp lực cao (sóng xung). Sóng xung
sẽ được hướng tới tiêu điểm F2 bởi bộ phận phản xạ hình elíp.
+ Máy áp sứ điện: Dùng vài trăm đế
n vài nghìn tinh thể gốm áp điện
đặt trong lòng một mặt cầu. Khi truyền một xung cao áp vào các tinh thể,
chúng co và giãn tức khắc, tạo ra một xung áp lực thấp vào nước xung quanh.
Sóng hội tụ vào tâm hình cầu và được khuếch đại lên.
+ Máy điện từ trường: Khi cho một xung điện cao áp chạy qua cuộn
dây, một từ trường thay đổi mạnh sẽ được sản sinh ra và tạo một dòng điện
cảm ứng trong màng
đối diện. Những lực điện từ làm rung màng kim loại
phát ra một xung âm thanh chậm và áp lực thấp. Dùng một thấu kính âm
thanh để hội tụ xung này. Tiêu điểm được xác định bởi thấu kính. Biên độ của
sóng âm thanh tăng dần khi sóng truyền tới tiêu điểm.
* Chỉ định tán sỏi ngoài cơ thể
Để chỉ định tán sỏi ngoài cơ thể có những căn cứ sau:
+ Sỏi thận có kích thướ
c < 2cm, trường hợp sỏi lớn hơn thường ít hiệu
quả và nhiều khi phải tán nhiều lần.
+ Theo El-Assmy A, El-Nahas AR và CS (2006), sỏi san hô có thể điều
trị bằng tán sỏi ngoài cơ thể, tuy nhiên thích hợp cho sỏi có kích thước
≤ 500mm², các mảnh sỏi nhỏ không có ý nghĩa về mặt lâm sàng có thể sẽ to
trở lại và BN phải quay lại điều trị. Micheals E K, Fowler JR nghiên cứu điều
trị sỏi thận có di
ện tích bề mặt ≤ 5cm² kết luận rằng: sỏi thận kích thước lớn
có thể điều trị hiệu quả và an toàn bằng tán sỏi ngoài cơ thể [90], [91].
+ Chức năng thận còn tốt
+ Đường bài xuất đủ rộng
+ Sỏi chưa gây ra các biến chứng như nhiễm khuẩn niệu, giãn đài bể
thận

ơi có đủ
trang thiết bị kỹ thuật và được ưa chuộng hơn phẫu thuật mở vì tính ưu việt ít
đau đớn, thời gian hồi phục nhanh, ít ảnh hưởng tới khả năng lao động, có thể
chỉ định cho sỏi thận kích thước lớn, sỏi san hô mà các kỹ thuật ít xâm hại
khác không thực hiện được. Tuy nhiên, so với TSNCT, phương pháp này còn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status