Câu1: Bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta (Trong điều kiện mới cần phải làm gì
và làm như thế nào để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính tiên phong của
Đảng; liên hệ chi bộ đồng chí).
Khi nghiên cứu về bản chất công nhân của Đảng cộng sản và tính tiền phong của đảng ta
trong tình hình mới hiện nay; Trước hết chúng ta phải nghiên cứu về một chính đảng .
Đảng là sản phẩm lịch sử của cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp và là một tổ chức chính
trị của một giai cấp . Đảng bao gồm những người cùng chung một lý tưởng, những phần tử tích
cựccủa một giai cấp, giác ngộ lợi ích , tự nguyện đấu tranh bảo vệ quyền lợi của giai cấp đó. Theo
quan điểm của Lê Nin : Trong xã hội có giai cấp, khi đấu tranh giai cấp phát triển đến một mức độ
nhất định thì chính đảng ra đời,chính đảng là người đại biểu cho quyền lợi của giai cấp đó, là
người lãnh đạo chính trị của một giai cấp ; cho nên chính đảng mang tính chất giai cấp rõ rệt,
không có đảng phi giai cấp, siêu giai cấp, ngoài giai cấp. Mỗi một chính đảng chi mang một tính
chất của một giai cấp nhất định và chỉ một mà thôi.
Từ thực tiễn sự ra đời của các chính Đảng Cộng sản, Lê Nin rút ra kết luận : Đảng Cộng
sản là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân.Chủ
nghĩa xã hội khoa học do C.Mác và Ph.Aêngghen sáng lập và sau này được LêNin làm phong phú
thêm cả về lý luận và cả về thực tiễn . Chủ nghĩa xã hội khoa học khi chưa kết hợp với phong trào
công nhân, về mặt tổ chức, sự phát triển cao nhất của nó cũng chỉ dẫn đếnsự ra đời các hội nghiên
cứu,truyền bá chủ nghĩa Mác. Về mặt lịch sử, nó ra đời sau phong trào công nhân. Nhưng giữa
chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào công nhân lại có chung một nguồn gốc, đó là những
quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa. Do quan hệ kinh tế này, nảy sinh cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư
sản vả giai cấp công nhân, từ đó phong trào công nhân ra đời. C.Mác và Ph.Aêngghen đã nghiên
cứu những quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa và phát hiện ra sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp
công nhân và từ đó xây dựng nên lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học. Điều này đã chứng tỏ lý
luận của chủ nghĩa Mác- LêNin là cơ sở lý luận, phong trào công nhân là cơ sở vật chất, cơ sở xã
hội để hình thành Đảng cộng sản. Đảng cộng sản ra đời là một tất yếu khách quan.
Trung thành với học thuyết Mác-LêNin về xây dựng chính đảng cách mạng của giai cấp
công nhân, xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền bá chủ
nghĩa Mác Lê Nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, tạo ra sự kết hợp một các
sinh động yếu tố dân tộc và giai cấp, tạo ra cơ sở xã hội – chính trị rộng lớn về sự ra đời và phát
triển không ngừng một đảng cách mạng của giai cấp vô sản – Đó là sự kết hợp lý luận của chủ
chúng ta mới dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra những
đường lối, phương châm, bước đ cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình
nước ta.
- Tổ chức: Phải thường xuyên kiện toàn bộ máy của đảng trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ
cách mạng. Khi kiện toàn, phải chú ý mặt tổ chức bộ máy, đồng thời xác định cơ chế hoạt động
của bộ máy Đảng từ Trung ương đến cơ sở nhằm phát huy cao nhất vai trònền tảng của tổ chức
cơ sở đảng và vai trò quyết định của tổ chức lãnh đạo cao nhất trong xây dựng, rèn luyện đảng.
Muốn giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của đảng- Đảng ta phải
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ ghĩa xã hội trong bất kỳ tình huống khó khăn nào cũng
không được chao đảo, và xa rời mục tiêu đó.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh: Đảng cộng sản VN là đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc VN, Đảng
không có lợi ích riêng mà chỉ có một lợi ích vì độc lập tự do của dân tộc, ấm no hạnh phúc của
nhân dân mà phấn đấu hy sinh. Cái quý giá nhất của một dân tộc là độc lập - tự do. Nhưng độc lập
– tự do thực sự nhất, chắc chắn nhất, bền vững nhất chỉ khi nào nó gắn liền với CNXH. Mục tiêu
độc lập- tự do không phải bây giờ đảng ta mới khẳng định, mà ngay từ luận cương chính trị năm
1930 đảng ta đã chỉ rõ: Sau khi giành độc lập dân tộc, tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn tu bản chủ
nghĩa, điều đó càng khẳng định quan điểm, bản lĩnh, lập trường trước sau như một của Đảng ta.
Giải quyết vấn đề độc lập dân tộc chính là để đảng ta giải quyết vấn đề cơ bản về lợi ích
dân tộc đi lên CNXH, chính là Đảng ta giải quyết cơ bản về lợi ích giai cấp. Lợi ích dân tộc luôn
luôn ắn liền với lợi ích giai cấp và ngược lại. Do vậy ngày nay đảng ta phát huy sức mạnh đại
đoàn kết dân tộc để thực hiện CNH- HĐH vững chắc đi lên CNXH.
Đảng ta tiếp tục lấy chủ nghĩa Mác – LêNin , tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng
và kim chỉ nam cho hành động, đồng thời tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại , đấu
tranh bảo vệ và không ngừng phát triển làm phong tphú thêm chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng.
Hiện nay, các thê lực thù địch trong và ngoài nước cùng một số phần tử cơ hội bất mãn
trong đảng tìm cách xuyên tạc, phủ nhận nền tảng của Đảngta đó là CN Mác- Lê Nin và tư tưởng
Hồ chí Minh. Nhớ lại lời dạy của Lê Nin : không có đảng nào mang nhiều hệ tư tưởng cả đo vậy
chúng ta phải lấy hệ tư tưởng vô sản của giai cấp công nhân . Bác Hồ cũng đã căn dặn chúng ta:
Đảng muốn vững thì phải có học thuyết, chủ nghĩa đúng đắn, ai cũng phải hiểu và phải theo chủ
chỉ có thể duy trì và thực hiện đúng nguyên tắc TTDC đảng mới không tan vỡ về tổ chức.
Đảng muốn giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của đảng- Đảng phải
tiếo tục nâng cao trình độ trí tuệ cho đội ngũ đảng viên. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh cán
bộ là cái gốc của công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Rõ ràng
cán bộ có vi trò cực kỳ quan trọng, cán bộ vừa là ngườitham gia xây dựng cương lĩnh đường lối,
vừa là người tổ chức thực hiện thắng lợi cương lĩnh đường lối đó. LêNin từng chỉ rõ: Trong lịch
sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không tìm ra dược trong hàng
ngũ của mình những phần tử hạt nhân có đủ khả năng tổ chức lãnh đạo phong trào sau khi giành
được chính quyền , xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người nhấn mạnh lực chọn con người, nghiên cứu
con người , tìm những cán bộ có bản lĩnh hiện nay là then chốt. Hồ Chí Minh nói : Cán bộ là cái
gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộtốt hay kém; Đảng ta luôn
luôn nhấn mạnh : Phải giành nhiều công sức để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của đảng; đổi
mới cán bộ lãnh đạo cáccấp là mắc xích quan trọng mà đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những
cuộc cải cách có ý nghĩa. Trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước hiện nay càng đòi hỏi đảng ta tiếp
tục nâng cao trình độ trí tuệ, đặc biệt là nâng cao trình độ kiến thức, chuyên môn mà người đó
đảm nhận.
Đảng muốn giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của đảng – Đảng phải
luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dânvà thường xuyên
chịu sự giám sát của nhân dân.
Lê Nin khẳng định : Giai cấp công nhân phải có mối liên hệ thực tế, thường xuyên với
quần chúng và phải biết lãnh đạo quần chúng, giai cấp công nhân phải làm tốt công tác quần
chúng để quần chúng đi theo đường lối của đội tiên phong.
Vận dụng và phát triển tư tưởng của Mác – Ph.Aêngghen -LêNin, Hồ Chí Minh khẳng
định : Cách mạng trước hết là phải làm cho dân giác ngộ; Muốn làm cho dân giác ngộ phải có
Đảng cách mạng đi vận động, tổ chức quần chúng Công tác quần chúng của đảng đó là toàn bộ
hoạt động tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, tổ chức của Đảng đối với quần chúng, nhằm phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động tối đa lực lượng toàn dân, thực hiện thắng lợi nhvụ
CM, và chỉ có nhân dân bảo vệ, giúp đỡ thì Đảng mới tồn tại,và phát triển, mới trong sạch vững
mạnh.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay Đảng ta đã có những quan điểm chỉ đạo đổi mới công
nhân thông qua một chính đảng truyền bá các hệ thống chính trị trong đảng là lực lượng lãnh đạo,
các cơ quan tuyên giáo và cán bộ tư tưởng các cấp, các ngành, đoàn thể làm tham mưu nòng cốt
với mục đích nhằm xây dựng con người mới - con người xã hội chủ nghĩa, và một xã hội mới - xã
hội xã hội chủ nghĩa; làm cho mọi người tin rằng con đường mà đất nước ta đang đi là đúng đắn
mà phấn đấu đến cùng để đạt được mục tiêu đề ra.
Đảng ta luôn khẳng định, công tác tư tưởng có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong
những lĩnh vực trọng yếu trong công tác lãnh đạo, tuyên truyền giáo dục, động viên và tổ chức
nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở mọi thời kỳ. Công tác tư tưởng, với ý nghĩa là hoạt
động lãnh đạo của Đảng nhằm nâng cao ý thức tự giác cách mạng của con người, chủ động, sáng
tạo tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, Đảng ta luôn đề cao và coi trọng công tác tư
tưởng, coi đây là vũ khí sắc bén trong hoạt động cách mạng, là bộ phận trực tiếp xây dựng, củng
cố và phát triển đảng. Trong điều kiện hiện nay, thế giới có nhiều biến động tác động mạnh mẽ
đến tình hình tư tưởng của cán bộ và nhân dân nước ta khá phức tạp, do đó, công tác tư tưởng
càng trở nên đặc biệt quan trọng. Công tác tư tưởng sẽ góp phần tích cực xây dựng đảng vững
mạnh về chính trị, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Công tác tư tưởng của Đảng ta là hoạt động của đảng tác động đến cán bộ, đảng viên và
nhân dân nhằm phát triển và truyền bá chủ nghĩa Mác- LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối
quan điểm chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nuớc và những tư tưởng tiên tiến
cách mạng khoa học trên cơ sở đó mà hình thành ở cán bộ đảng viên và nhân dân một thế giới
quan phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản, củng cố và nâng cao niềm tin về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn 75 năm qua của sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đã chứng minh vì sao trước
những thách thức hiểm nghèo, trước các bước ngoặc của cách mạng, Đảng ta vẫn vững vàng lãnh
đạo nhân dân Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi vĩ đại - Ðảng ta luôn khẳng định công tác
tư tưởng có vai trò đặc biệt, là một trong những lĩnh vực trọng yếu trong công tác lãnh đạo, tuyên
truyền, giáo dục động viên và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở mỗi thời kỳ.
Công tác tư tưởng, với ý nghĩa là hoat động lãnh đạo của đảng nhằm nâng cao ý thức tự giác của
con người, chủ động, sáng tạo tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong thời gian qua, Ðảng ta đã có nhiều Nghị quyết chỉ đạo công tác tư tưởng, đề cập
đến những vấn đề cơ bản của công tác tu tưởng. Hội nghị Ban Chấp hành Trung uong Đảng khoá
khởi trong nội bộ, làm tổn hại đến danh dự, uy tín của Ðảng.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cũng còn nhiều diễn biến phức tạp ở một
vài nơi, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Cá biệt vẫn có người băn khoăn về con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội, sùng ngoại, choáng ngợp chủ nghĩa tư bản hiện đại, tiếp thu lối sống thực
dụng. Một số người mê tín dị đoan, hoặc cả tin vào các tín điều tôn giáo. Có người vô tình hoặc
hữu ý bị bọn phản động lợi dụng ngấm ngầm hoặc công khai tuyên truyền quan điểm sai trái,
xuyên tạc, chống đối đường lối chính sách của Ðảng, Nhà nước ta. Có người lợi dụng dân chủ
khiếu kiện vượt cấp gây nên bất ổn ở một số địa phương. Trước tình hình phức tạp nêu trên, công
tác tư tưởng của đảng đã có nhiều cố gắng trong đấu tranh chống tiêu cực, định hướng tư tưởng
cho nhân dân đạt được những kết quả dáng khích lệ. Nhưng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng
ở nhiều nơi còn chưa đồng bộ, trình độ chưa ngang tầm đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng, chưa
đáp ứng những yêu cầu của tình hình mới, còn lúng túng trước những tình huống phức tạp nảy
sinh cần giải quyết. Ðặc biệt là còn thiếu đội ngũ cán bộ có nhiều kinh nghiệm, say mê, nhiệt tình,
sáng tạo làm công tác tư tưởng. Việc đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác tư tưởng tuy đã
được tăng cường, song vẫn có hiện tượng chạy theo số lượng, coi nhẹ chất lượng, hiệu quả chưa
cao. Phương pháp tuyên truyền giáo dục tư tưởng, chính trị chưa thật sự đổi mới, còn giáo điều,
kinh viện, khô khan, kém hấp dẫn. Các tác phẩm có giá trị về tư tưởng lý luận cao chưa nhiều. Vì
thế chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng còn nhiều hạn chế, chưa thật vững chắc.
Những vấn đề nêu trên có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ quan vẫn là chính.
Sự yếu kém buông lỏng trong quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên làm cho một số cán bộ, đảng
viên thiếu ý chí vươn lên, lười học, ngại phấn đấu, không có chí tiến thủ. Cơ chế, chính sách, pháp
lụật có những điểm chưa phù hợp, thực hiện không nghiêm, thiếu nhất quán. Việc giáo dục ý thức
hệ, giáo dục kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chưa có
chiều sâu, chất lượng không cao, chưa bám sát tình hình đặc điểm từng đối tượng, chưa bám sát
yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng để có nội dung thích hợp. Nhiều cấp lãnh đạo
chưa quan tâm đến công tác tư tưởng, còn coi nhẹ, làm cũng được, không làm cũng được, dành sự
đầu tư chính cho làm ăn kinh tế. Đảng , Nhà nước chưa có cơ chế, chính sách hợp lý, đồng bộ để
phát huy sức mạnh tổng hợp của các binh chủng làm công tác tư tưởng. Trong những hạn chế, yếu
kém kể trên, có mặt có thể khắc phục ngay, nhưng có mặt phải có thời gian mới dần dần khắc
phục được. Song công tác tư tưởng rất sáng tạo nên phải có sự đổi mới liên tục để nâng cao chất
việc của các cơ quan, bộ máy làm công tác tư tưởng. Các cấp uỷ và mỗi đảng viên làm công tác tư
tưởng phải đổi mới phong cách, lề lối làm việc, có những đóng góp cụ thể, thiết thực vào công
việc hoạch định, bổ sung, phát triển đường lối, chính sách, chủ trương của đảng, Nhà nước.
Thứ hai, đổi mới phương thức công tác tư tưởng, mở rộng dân chủ, giữ vững định hướng
chính trị trong công tác tư tưởng.
Để công tác tư tưởng đạt hiệu quả, phục vụ tốt nhiệm vụ trọng tâm công nghiệp hoá, hiện
đại hóa đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần tích cực đổi mới phương thức hoạt động của công tác
tư tưởng, nhạy bén hơn, sinh động hơn và có hình thức phù hợp hơn. Tăng cường đối thoại với
nhân dân, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong
công tác tư tưởng. Xuất phát từ tình hình thực tiễn, giải quyết kịp thời những vướng mắc về nhận
thức tư tưởng, không để tồn đọng gây tâm trạng nặng nề, ấm ức trong nhân dân. Huy động toàn
dân làm công tác tư tưởng, thực hiện sự liên kết rộng lớn trong việc gắn công tác tư tưởng với
công tác khác. Quá trình làm công tác tư tưởng, tôn trọng việc đi sâu nghiên cứu, tìm ra chân lý,
bảo vệ chân lý. Muốn vậy cần đoàn kết, thân ái, dân chủ, cởi mở, bình đẳng và có nguyên tắc,
tránh áp đặt, định kiến, quy chụp. Trong thảo luận khuyến khích tự do phát biếu ý kiến cá nhân,
ngay cả những ý kiến chưa thật thống nhất, nhưng phải có động cơ đúng, xây dựng và thống nhất
trong hành động khi thực hiện đường lối của đảng, pháp luật của Nhà nước.
Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu tổng kết thực tiễn. Vì tư tưởng là sự phản ánh ý nghĩ của
con người về những vấn đề của đời sống xã hội. Công tác tư tưởng phải xuất phát từ thực tiễn
cụôc sống xã hội tác động làm nảy sinh tư tưởng của con người. Nhiệm vụ của các cấp uỷ đảng và
người làm công tác tư tưởng phải thường xuyên đi sâu nghiên cứu thực tiễn để nhận rõ những yếu
tố tác động đến tư tưởng quần chúng; tìm ra những vấn đề có tính quy luật của sự hình thành tư
tưởng trong đời sống thực tiễn hàng ngày. Các cơ quan, cán bộ, đảng viên làm công tác tư tưởng
phải coi nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn là nhiệm vụ thường xuyên của mình. Nếu người
làm công tác tư tưởng chưa đủ căn cứ khoa học phân tích sáng rõ các vấn đề làm nảy sinh tư
7
tưởng thì khó thuyết phục người khác. Nghiên cứu thực tiễn còn có tác dụng giúp người làm công
tác tư tưởng truyền đạt đường lối của đảng một cách nhạy bén và thuyết phục. Tổng kết thực tiễn
là phương pháp cơ bản để đúc kết, khái quát lý luận nâng cao nhận thức; là cách thức khắc phục
chủ nghĩa giáo điều, sự yếu kém, lạc hậu, xa rời thực tiễn. Công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ
Người nhấn mạnh lực chọn người, nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh hiện nay
là then chốt .
Trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, do làm tốt công tác cán bộ, Đảng ta có đội ngũ
cán bộ có đạo đức CM và bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực tổ chức thực tiễn ngang tầm
nhiệm vụ. Cán bộ đã đưa chủ trương , đường lối của đảng thâm nhập quần chúng , tổ chức lãnh
đạo quần chúngvượt qua mọi khó khăn, thách thức, chiến đấu gian khổ, làm nên thắng lợi lịch sử
CM tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ , giành độc lập tự
do, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều này chứng tỏ đội ngủ cán bộ
CM là người có năng lực trí tuệ, có tầm nhìn xa, trông rộng và có năng lực tổ chức thực hiện, tổng
kết thực tiễn trong quá trình đem chính sách đường lối của Đảng đến với nhân dân và động viên
quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng .
Trong giai đoạn xây dựng đất nước, thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hóa vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đảng ta chủ trương
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình toàn cầu hóa , chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, khéo léo kết hợp nội lựcvà ngoại lực, bảo đảm xây dựng nền
độc lập, tự chủ phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở giữ vững sự ổn định tình hình trong nước
và chủ động đối phó với những diễn biến phức tạp trên thế giới, công tác cán bộ càng trở nên cực
kỳ quan trọng. Đảng ta đã xây dựng được đội ngũ cán bộ , trước hết là cán bộ lãnh đạo và cán bộ
quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, guơng mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ
và năng lực hoạt động thực tiễn , gắn bó với nhân dân và đang lãnh đạo nhân dân ta thực hiện
thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước.Nhìn chung, thế hệ cán bộ hiện nay đã phát huy được truyền
thống cách mạng, tinh thần sáng tạo,tự chủ của các thế hệ đi trước; Họ năng động, tự tin, dám
nghỉ, dám làm, phương pháp tư duy có tiến bộ, năng lực lãnh đạo và quản lý có bước phát triển
mới
Bên cạnh những thành tựu về công tác cán bộ trong thời gian qua, Hội nghị lần thứ 3 Ban
chấp hành Trung ương khóa VIII đã có những đánh giá công tác cán bộ của đảng hiện nay còn rất
nhiều yếu kém – Đó là :
Do bị tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường và của toàn cầu hóa mang bản chất tư
bản chủ nghĩa và chiến lược “ diễn biến hoà bình“ của các thế lực thù địch hàng ngày , hàng giờ
làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực vào tư tưởng cán bộ, đảng viên .
tục đổi mới và tăng cường công tác cán bộ.
Trong tình hình hiện nay Đảng ta đã xác định : Xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm,
xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt. Để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đó, công tác cán bộ
có ý nghĩa quyết định, vì “ cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
day. Muốn xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ cách
mạng, nhất định cần bắt đầu làm thật tốt công tác cán bộ bao gồm nhiều khâu, nhiều việc từ tìm
hiểu, tuyển chọn, đến đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng , điều động , đề bạt, chăm sóc sức khoẻ và đời
sống , khen thưởng, kỷ luật cán bộ… Các khâu công việc đó liên kết với nhau, tác động qua lại lẫn
nhau nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ số lượng và chất lượngcao đáp ứng được nhiệm vụ
CM.
Trước hết để đánh giá đúng đắn về cán bộ theo đúng quan điểm của Đảng, cần nắm vững
về tiêu chuẩn cán bộ. Đó là căn cứ để đánh giá cán bộ tốt hay xấu, giỏi hay kém. Nói ngắn gọn,
cán bộ phải có đức và tài, hai mặt ấy găn bó hữu cơ với nhau, đức là cái gốc và tài không thể
thiếu, đức và tài được thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị.
Xét về đức, điều quan trọng nhất là phẩm chất chính trị. Đó là lòng trung thành với tổ
quốc và chủ nghĩa xã hội, là sự nhất tri và quyết tâm thực hiện đường lối chính sách cua Đảng, là
sự vững vàng về lập trường, quan điểm chính trị trước nhưng tình huống khó khăn phức tạp ở
những bước ngoặc của cách mạng. Có người quan niệm đức chỉ nặng về phong cách, lối sống mà
không xem xét kỹ phẩm chất chính trị, chỉ dừng lại ở những nhận xét chung chung, trừu tượng. Có
khi người cương trực, đấu tranh thẳng thắng thì bị coi là thiếu khiêm tốn, gây mất đoàn kết nội bộ,
còn người tròn trĩnh , ba phải, thì có khi lại được đánh giá cao, được trọng dụng, kiếm được nhiều
phiếu bầu. Có trường hợp lại quá khắc khe với những khuyết tật nhỏ thuộc về cá tính; ngược lại có
khi dễ dãi bỏ qua những sai trái không lành mạnh về lối sống, nhân cách.
10
Xét về tài , vấn đề quan trọng nhất là năng lực quán triêt và tổ chức thự hiện đường lối ,
chính sách của Đảng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được Đảng, nhà nước giao phó. Nhưng có
trường hợp do đánh giá không rõ cán bộ, đã xảy ra những ý kiến trái ngược nhau. Người này khen
là tháo vác, linh hoạt, người kia lại chê là làm bừa, làm ẩu, vô kỷ luật mà không cùng tuân theo
một tiêu chí thống nhất về hiệu quả công việc của cán bộ đó. Có trường hợp đánh giá về tài của
cán bộ chỉ nhìn vào bằng cấp , học hàm, học vị, mà không xem xéttrươc hết tới kiến thức và năng
Xây dựng đội ngũ cán bộ phải gắn với xây dựng tổ chức, đổi mới cơ chế chính sách thực
hiện nghiêm túc công cuộc xây dựng chỉnh đốn đảng . Muốn làm tốt được điều này đòi hỏi mỗi
cán bộ đảng viên phải luôn gắn chặt với tổ chức , không tách rời tổ chức mỗi cán bộ tốt sẽ làm
cho tổ chức mạnh , ngược lại khi tổ chức mạnh sẽ tác động làm cho mỗi người trong tổ chức đó
mạnh Vì vậy đảng phải luôn chú trọng công tác tổ chức, sắp xếp hợp lý bộ máy tổ chức tinh gọn
, hoạt động có hiệu quả , trên cơ sở đó mà lực chọn cán bộ đúng, và tất nhiên khi đã lực chọn đúng
cán bộ Đảng ta sẽ có một tổ chức vững mạnh.
Thông qua hoạt động thực tiễn trong phong trào cách mạngcủa quần chúng nhân dân ma
tuyển chọn , giáo dục, rèn luyện bồi dưỡng cán bộ. Qua phong trào mà đánh giá cán bộ, tìm ra
những cán bộ tốt phải căn cứ vào tiêu chuẩn chung song cũng cần gắn với chức trách đượcgiao,
nhiệm vụ được phân công gắn với kết quả hoàn thành nhiệm vụ, gắn với phong trào và quá trình
cống hiến phải được kiểm nghiệm qua hoạt động thực tiễn. không thể có tình trạng cán bộ được
đánh giá là tốt mà phong trào ở đó lại kém, kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị không tốt;
Cũng như không thể có đảng bộ “trong sạch, vững mạnh”mà công việc ở đó lại kém, hiệu quả
11
thấp, thậm chí đơn vị có nhiều tiêu cực. Phong trào cách mạng quần chúng là trường học lớn của
cán bộ, đưa cán bộ vào phong trào, quần chúng sẽ lực chọn cán bộ cho Đảng.
Đảng ta xác định thống nhất quản lý cán bộ và công tác cán bộ theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị. Đảng
phải trực tiếp chăm lo xây dựng đội ngũ cho cả hệ thống chính trị và trên mọi lĩnh vực của đất
nước; Đồng thời phân công phân cấp quản lý cán bộ cho các cấp uỷ , tổ chức cơ sở Đảng.Mọi chủ
trương chính sách từ đánh giá, bố trí, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, luân chuyển, đề bạt, kỷ luật ,
khen thưởng nhất thiết phải do cấp uỷ có thẩm quyền theo đa số.Việc xây dựng quy hoạch , tổ
chức đào tạo , bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ,
quy hoạch cán bộ phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức,đánh giá thực trạng và
khả năng phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức là nhiệm vụ phải làm thường xuyên của tổ chức
Tại hội nghị Trung ương 6 ( khoá IX ) đảng ta đã rút ra 5 vấn đề như là những bài học kinh
nghiệm về công tác tổ chức và cán bộ. Một là , công tác tổ chức cán bộ phải kết hợp chặt chẽ với
công tác xây dựng đảng về chính trị và tư tưởng, gắn với yeu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng và hoạt động của hệ thống chính trị. Hai là, đổi mới tổ chức và cán bộ phải được tiến
học viện , trường, và các trung tâm chính trị.Đánh giá đúng và biết sử dụng cán bộ chủ chốt.
Trước hết , phải tìm hiểu kỹ và đánh giá cán bộ thật đúng đắn. Đây là khâu đầu tiên và quan trọng
nhất của việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng. Đánh giá đúng thì mới sử
dụng cán bộ đúng chỗ , đúng việc. Đánh giá cán bộlà hiểu cán bộ trong sự vận động và phát triển,
từ hiện tượng tìm ra bản chất, từ biểu hiện bề ngoài tìm ra thực chất bên trong, tìm hiểu về quá
khứ và hiện tại thấy hướng phát triển tương lai. Đã đánh giá đúng rồi thì mạnh dãn đề bạt, cất
12
nhắc à giao nhiệm vụ đúng lúc, không chờ đợi quá “chín” có khi sẽ bị “rụng”., không để chậm trể
mất thời cơ của cán bộ.
Đường lối cán bộ, công tác cán bộ, trong đó có việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của
Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo. Hiện nay công tác cán bộ còn hiều vấn đề đang đặt ra cần tíep tục
giải quyết nhưng đảng ta đã có những thành công và đã rút ra những bài học kinh nghiệm . Đó là
những cơ sở vững chắc để công tác cán bộ của Đảng ngày càng được tăng cường, phát triển và có
hiệu quả, góp phần quyết định vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, trong đó có đội ngũ
cán bộ chủ chốt đủ năng lực và phẩm chất, đáp ứng yêu cầu yêu cầu của sự nghiệp cách mạng
trong giai đoạn mới./.
13
Câu 4: Vấn đề tổ chức cơ sở đảng.
Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ IX quy định: “Ở xã,
phường, thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân
đội, công an và các đơn vị cơ sở khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở
đảng”.
Tổ chức cơ sở Đảng là tổ chức Đảng ở cấp cơ sở trong cấu trúc hệ thống nhiều cấp tạo cho
Đảng thành một chỉnh thể. Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của
Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở.
Học thuyết về chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân đã khẳng định: Các tổ chức
cơ sở của Đảng Cộng Sản dù quy mô như thế nào, thuộc loại hình nào đều là một khâu quan trọng
trong hệ thống tổ chức và hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng.
Theo quan điểm của Lê Nin thì tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của Đảng, là đơn vị chiến
thống cách mạng quý báu của Đảng và dân tộc, kiên trì mục tiêu, con đường đi lên CNXH, nêu
cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Một số tổ
chức cơ sở đảng đã lãnh đạo nhân dân thực hiện có kết quả các mục tiêu kinh tế xã hội, đặc biệt là
từ sau công cuộc đổi mới đến nay, nhất là nông nghiệp, hàng tiêu dùng, xuất khẩu, chăm lo đời
14
sống nhân dân, giữ gìn trật tự, an ninh, thực hiện các chính sách xã hội. Ví dụ trước đây VN từ
một nước thiếu lương thực phải nhập khẩu, đến nay đã trở thành một nước xuất khẩu lương thực
đứng thứ nhì thế giới.
Nhiều cấp ủy bổ sung quy chế làm việc, điều chỉnh mối quan hệ làm việc giữa cấp ủy với
tổ chức NN và đoàn thể; một số nơi tổ chức lại chi bộ, tổ đảng phù hợp với cơ chế mới, tạo ra sự
gắn bó giữa chi bộ đảng với các đòan thể quần chúng làm cho tổ chức cơ sở đảng gần dân, gắn bó
với dân, dân gắn bó với Đảng hơn. Các cấp ủy đảng quan tâm chỉ đạo xây dựng các tổ chức cơ sở
đảng trong sạch, vững mạnh, tập trung củng cố, giải quyết các tổ chức cơ sở đảng đảng yếu kém.
Qua các kỳ Đại hội, nhìn chung các cấp ủy cơ sở được trẻ hóa, trình độ văn hóa, lý luận
được nâng lên một bước, đảm nhiệm được nhiệm vụ mà Đảng giao phó.
Về những khuyết điểm và tồn tại: Nhìn chung năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một
số tổ chức cơ sở Đảng còn nhiều mặt hạn chế so với yêu cầu nhiệm vụ mới, chưa đáp ứng được
yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, thậm chí còn một số tổ chức cơ sở đảng quan liêu. Nhiều tổ chức
cơ sở đảng buông lỏng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đặc biệt là công tác giáo dục đạo đức,
lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Vẫn còn một số tổ chức cơ sở đảng chưa nắm được chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ
với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị ở cơ sở, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
trong Đảng tuy có tiến bộ nhưng ở một số nơi vẫn còn có những biểu hiện tập trung quan liêu, dân
chủ hình thức, tệ quan liêu xa rời quần chúng ở một số nơi ngày càng nghiêm trọng, ý thức tổ
chức kỷ luật lỏng lẻo; chất lượng sinh họat chi bộ nhìn chung chưa cao, một số nơi sinh hoạt chi
bộ Đảng thất thường, chất lượng kém, một số cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng vẫn còn tình trạng mất
đòan kết, có nơi nghiêm trọng nhưng chậm được giải quyết; công tác kiểm tra của Đảng chưa
được chú trọng đúng mức.
Hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan đảng, nhà nước, đòan thế ở các cấp trong điều kiện mới
vẫn còn nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu và khẳng định. Một số tổ chức còn hình thức, chồng
của các loại hình tổ chức cơ sở đảng.
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình, cấp ủy phải nắm vững đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chủ trương, kế hoạch công tác của cấp trên; đồng thời phải
nắm vững tâm tư nguyện vọng của nhân dân ở cơ sở, tiến hành bàn bạc, thảo luận dân chủ trong
chi bộ, đảng bộ cơ sở và trong nhân dân để xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phấn đấu
cụ thể, chính xác của chi bộ, đảng bộ trong từng thời gian nhất định.
Điều quan trọng là sau khi xác định đúng đắn phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phấn đấu
của mình, bằng công tác tư tưởng và tổ chức, bằng vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ
đảng viên và bằng phát huy quyền làm chủ của quần chúng, tổ chức cơ sở đảng tiến hành tổ chức
thực hiện, biến những quyết định đó thành quyết tâm và kế hoạch hành động của các tổ chức trong
hệ thống chính trị ở cơ sở, thành kết quả phát triển sản xuất, công tác… nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân.
Hai là, tiếp tục xây dựng, kiện tòan đội ngũ cán bộ cơ sở, đặc biệt là cán bộ chủ chốt, khâu
then chốt quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới, một khâu có tính quyết định nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Công việc thành
công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Do vậy, các chi bộ, đảng bộ cơ sở có vai trò đặc biệt
quan trọng, nên cần phải tiếp tục xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ chủ
chốt ở cơ sở thật sự có năng lực, có phẩm chất tốt.
Chất lượng đảng ủy và các chi ủy trong đảng bộ phụ thuộc vào chất lượng của từng cấp ủy
viên, vào cơ cấu hợp lý, vào chế độ làm việc chặt chẽ, khoa học trên cơ sở thực hiện tốt nguyên
tắc tập trung dân chủ… Để lựa chọn được đảng ủy, chi ủy có chất lượng, vấn đề rất quan trọng là
bảo đảm quyền dân chủ thực sự của đảng viên để họ lựa chọn và bầu vào cấp ủy cơ sở những
đồng chí tiêu biểu, có đủ đức, tài và được đảng viên, quần chúng tín nhiệm.
Trong việc xây dựng, kiện tòan đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở cần bố trí đúng các ủy
viên thường vụ, chú ý trong việc bố trí Bí thư với Chủ tịch, Bí thư với Giám đốc, Bí thư với Thủ
trưởng cơ quan.
Ba là, nâng cao chất lượng quản lý đảng viên, giữ vững nề nếp và nâng cao chất lượng
sinh họat chi bộ, một giải pháp căn bản để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ
chức cơ sở đảng.
năng lực, phẩm chất, có bản lĩnh, có kinh nghiệm./.
17
Câu 5 : Nguyên tắc tập trung dân chủ.
Vị trí, vai trò, nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ, liên hệ.
Theo quan điểm của các thế lực thù địch thì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ thì sẽ dẫn
đến độc đóan, chuyên quyền, thủ tiêu dân chủ. Tập trung và dân chủ không thể tồn tại trong một
khái niệm được mà nó luôn luôn bài trừ lẫn nhau, phủ định nhau, đối lập nhau như nước với lửa.
Thể chế chính trị tư sản không có tập trung dân chủ mà chỉ có cộng hòa dân chủ, dân chủ tư sản
loại bỏ được độc đóan chuyên quyền bởi vì nhà nước thực hiện tam quyền phân lập, đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập.
Trong quá trình đấu tranh cách mạng, Mác và Ăng Ghen đã nêu gương đấu tranh có nguyên
tắc để củng cố sự thống nhất về tư tưởng và tổ chức của các tổ chức vô sản, kiên quyết đấu tranh
chống bọn cơ hội, xét lại, không chấp hành kỷ luật cuả Đảng. Trong điều kiện lịch sử mới, khi
Cách mạng vô sản đã trở thành nhiệm vụ trực tiếp, kế tục sự nghiệp của Mác và Ăng Ghen, Lê
Nin đã xây dựng, luận chứng và áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tất yếu
trong xây dựng và trong hoạt động của Đảng cách mạng của giai cấp công nhân.
Theo quan điểm của Đảng ta thì xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ là xóa bỏ bản chất giai
cấp công nhân của Đảng, xóa bỏ sự thống nhất của Đảng, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng.
Với ý nghĩa như trên, nguyên tắc tập trung dân chủ có vị trí, vai trò rất quan trọng trong tổ
chức, lãnh đạo, hoạt động của Đảng ta.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản của Đảng Cộng Sản, chỉ đạo tòan bộ hoạt động lãnh
đạo, sinh họat, tổ chức bộ máy, phong cách lãnh đạo. Đây là vấn đề nằm ngay trong bản chất giai
cấp công nhân của Đảng Vì vậy, nguyên tắc tập trung dân chủ có tính chuẩn mực, là tiêu chí để
phân biệt một tổ chức Đảng Cách mạng chân chính với một đảng cơ hội, đồng thời là thước đo
tính Đảng của đảng viên. Phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ là phủ nhận Đảng từ bản chất.
Xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ là xóa bỏ sức mạnh của Đảng từ gốc, xóa bỏ nguyên tắc nầy
sẽ sa vào cái bẫy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, từ đó dẫn đến sự phân biệt trong Đảng, làm
cho xã hội phân tâm, rối lọan, mất ổn định chính trị. Kinh nghiệm phong trào Cộng Sản quốc tế và
của Đảng ta cho thấy rằng chỉ có thể giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ thì Đảng mới không
tan rã về tổ chức và giữ vững quyền lãnh đạo.
Một là, cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách.
Hai là, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu tòan quốc. Cơ quan lãnh đạo ở
mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ Đại hội, cơ quan lãnh đạo của
Đảng là BCH TƯ, ở mỗi cấp là BCH đảng bộ, chi bô (gọi tắt là cấp ủy).
Bà là, cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng
cấp, trước cấp ủy cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ
chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.
Bốn là, tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa
số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong tòan Đảng phục
tùng Đại hội đại biểu tòan quốc và BCH TƯ.
Năm là, nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có gía trị thi hành khi có hơn một
nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát
biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên
cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu tòan quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết,
không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp ủy có quyền nghiên cứu, xem xét
ý kiến đó; không phân biệt đối xử đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.
Sáu là, tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc về phạm vi, quyền hạn của mình, song không
được trái với nguyên tắc đường lối, chính sách của Đảng , pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của
cấp trên.
Như vậy dân chủ trong Đảng thực chất là quyền làm chủ của tòan thể đảng viên, là sự tham
gia tích cực của tòan thể đảng viên vào việc quản lý công việc của Đảng một cách trực tiếp hay
thông qua đại biểu. Nhưng chỉ trong điều kiện có tính tổ chức cao, tính kỷ luật chặt chẽ, thừa nhận
sự lãnh đạo thống nhất của Đảng thì đảng viên mới có thể thực hiện nghĩa vụ và quyền hạn của
mình. Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp hài hòa giữa hai mặt tập trung và dân chủ. Cả
hai mặt tập trung và dân chủ tạo thành chỉnh thể thống nhất của một nguyên tắc. Dân chủ là điều
kiện, là tiền đề của tập trung, cũng như tập trung là cơ sở, là cái bảo đảm cho dân chủ được thực
hiện.
Trong những năm đổi mới, Đảng ta có những bước tiến cả trong nhận thức và hành động về
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ cũng như xây dựng quy chế, quy trình thực hiện nguyên
Đảng còn thiếu những cơ chế cụ thể có hiệu lực bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ.
+ Không ít trường hợp trong hội nghị không nói thẳng, nói thật mà nói sau lưng, ngoài tổ
chức, đơn thư nặc danh, tố cáo sai sự thật, một số hành vi bè cánh, gây mất đòan kết nội bộ, cá
biệt có người nói và làm sai quan điểm, đường lối của Đảng.
Để thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ cần phải có nhận thức đúng đắn và thống
nhất về yêu cầu, nội dung dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời có cơ chế bảo đảm
thực hiện những nội dung đó. Các giải pháp để thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ:
+ Giáo dục trong tòan Đảng nhận thức đúng và hành động đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
+ Tăng cường thực hiện tập thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ trách.
+ Cần có quy chế cụ thể để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng nội bộ
Đảng, xây dựng tổ chức bộ máy, công tác cán bộ và sự lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực đời
sống xã hội.
+ Lập lại kỷ cương, cùng cố, giữ gìn kỷ luật Đảng, bộ máy Nhà nước. Mọi tổ chức, cán bộ,
đảng viên nói và làm theo nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
+ Phát huy dân chủ rộng rãi trong nội bộ Đảng, trong nhân dân nhằm phát huy, khai thác
những tiềm năng sáng tạo của đảng viên, quần chúng.
+ Nâng cao chất lượng sinh họat cấp ủy, chi bộ, phát huy vai trò người bí thư, cấp ủy.
+ Đẩy mạnh tự phê bình, phê bình, đưa tự phê bình, phê bình trở thành nề nếp thường xuyên
trong sinh họat Đảng.
+ Sửa đổi phong cách làm việc, đi sâu, đi sát thực tế cơ sở.
+ Thiết lập trong tòan Đảng chế độ thông tin nhanh chóng, kịp thời.
+ Tăng cường công tác kiểm tra, khen thưởng.
+ Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng với các tổ chức trong hệ thống chính trị, muốn
vậy phải thống nhất và làm theo quy chế.
Chúng ta tin tưởng rằng với truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng, được nhân dân
đồng tình, hưởng ứng nhất định Đảng ta sẽ thực hiện thành công Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6
(lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII)
về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, tạo ra một chuyển
biến mới trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao nhận thức và hành động đúng