LỜI NÓI ĐẦU
Sự ra đời của những công cụ thanh toán đã tạo ra nhiều thuận lợi ích các giao
dịch kinh tế - thương mại. Song đi kèm với chúng cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức
tạp như sự giả mạo, tính không đích thực của các phương tiện cũng như của chủ sở
hữu. Vì vậy, để có thể sử dụng được các công cụ thanh toán này, cần phải tuân theo
các quy trình chung do các tổ chức tín dụng, hiệp hội ngân hàng cùng xây dựng nên.
Trong lĩnh vực du lịch, việc thanh toán không chỉ bó gọn trong phạm vi một
quốc gia mà liên quan tới rất nhiều đối tác cùng tham gia, nhiều loại ngoại tệ, nhiều
loại công cụ thanh toán. Do vậy, việc xây dựng một quy trình thanh toán hợp lý sẽ
giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm thiểu các rủi ro trong việc thanh toán.
Xuất phát từ những suy nghĩ trên, dựa trên cơ sở những kiến thức đã được
học về quản trị du lịch và khách sạn và thời gian thực tập tại khách sạn Bình Minh –
27 Lý Thái Tổ, em xin chọn đề tài “Hoàn thiện công tác thanh toán đối với khách
du lịch quốc tế tại Khách sạn Bình Minh”. Kết cấu bài viết sau đây gồm 3 phần.
Chương I: Nêu khái quát một số khái niệm chung về kinh doanh khách sạn,
một số lý luận cơ bản về công tác thanh toán đối với khách du lịch quốc tế.
Chương II: Tìm hiểu thực trạng công tác thanh toán đối với khách du lịch
quốc tế tại khách sạn Bình Minh.
Chương III: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh toán tại khách
sạn.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - Tiến sĩ Trần Thị Minh Hoà cùng toàn thể
các thầy cô giáo Khoa Quản trị kinh doanh Du lịch và khách sạn - Trường đại học
Kinh tế quốc dân - những người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành bản báo cáo
này. Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ công nhân
viên công tác tại Khách sạn Bình Minh đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng bài viết vẫn có nhiều thiếu sót. Rất mong sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô để em có thể hoàn thiện bài viết này.
1
CHƯƠNG I
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC THANH TOÁN QUỐC
lượng sản xuất trong xã hội và trình độ sản xuất xã hội. Trình độ sản xuất xã hội
ngày càng cao, các mối quan hệ xã hội càng hoàn thiện thì nhu cầu du lịch của con
người ngày càng trở nên gay gắt.
Nhu cầu du lịch không giống như các nhu cầu khác, đó là một loại nhu cầu
đặc biệt và tổng hợp của con người, được hình thành và phát triển trên nền tảng của
nhu cầu sinh lý và các nhu cầu tinh thần. Nhu cầu du lịch là sự mong muốn khát
khao được rời khỏi nơi ở thường xuyên của mình để đến một nơi nào đó nhằm thoả
mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế.
Nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp, khi muốn thực hiện được chuyến đi du
lịch con người cần có đủ hai điều kiện:
- Thời gian nhàn rỗi
- Khả năng thanh toán
Đây là hai điều kiện cơ bản mà con người phải có để biến nhu cầu trở thành
hành động. Nếu thiếu một trong hai điều kiện này thì con người không thể thực hiện
được chuyến đi du lịch của mình.
Với các nhà kinh doanh du lịch thì việc đáp ứng và làm thoả mãn nhu cầu du
lịch không phải là đơn giản bởi sự đòi hỏi của nó luôn ở mức độ cao cấp như để đáp
ứng nhu cầu sinh lý về ăn uống thì không chỉ ăn no, ăn ngon mà đòi hỏi cả tính
nghệ thuật trong việc trình bày món ăn, sự cầu kỳ và khéo léo được thể hiện trên
từng sản phẩm. Khách du lịch không chỉ thưởng thức các món ăn bằng miệng mà
còn cả bằng mắt.... điều này đã tạo ra sự khác biệt giữa nhu cầu du lịch và các nhu
cầu thông thường.
3
2. KHÁCH CỦA KHÁCH SẠN
Trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh khách sạn
nói riêng, khách luôn là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công hay thất bại của
một doanh nghiệp. Sản phẩm mà khách sạn tạo ra trong từng giây, từng phút nếu
không được bán, được sử dụng sẽ không thể sử dụng hai lần trong cùng một thời
gian để bù lại như các sản phẩm khác. Chính vì vậy, từ khi bắt đầu hoạt động kinh
tế đã đưa ra một định nghĩa khá đầy đủ về khách du lịch quốc tế.
“Khách du lịch quốc tế là người thăm viếng và lưu lại một hoặc một số nước
khác ngoài nước cư trú của mình với thời gian ít nhất là 24 giờ vì bất kỳ lý do gì
ngoài mục đích hành nghề để có thu nhập.”
Khách du lịch nội địa được hiểu là những người đi du lịch không qua phạm
vi du lịch nước mình. Với một khoảng cách tối thiểu nào đó, vì bất kỳ lý do nào
ngoài việc thay thế chỗ làm việc.
Để giúp các doanh nghiệp có thể hiểu rõ hơn về khách du lịch, Tổng cục du
lịch Việt Nam đã định nghĩa khách du lịch quốc tế như sau: “Khách du lịch quốc tế
là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đến Việt Nam không quá
12 tháng với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, hành hương thăm thân nhân, bạn bè,
tìm hiểu cơ hội kinh doanh... trên lãnh thổ Việt Nam”
Như vậy, có thể thấy khách du lịch rất đa dạng, họ có thể là khách du lịch thuần
tuý, có thể là khách du lịch thương mại, những khách đoàn đến chờ họp hội nghị,
hội thảo thương mại..., họ đi với rất nhiều mục đích khách nhau trừ mục đích
kiếm tiền, với những nhu cầu khác nhau, những khách biệt này có khi không
đáng kể nhưng có lúc lại rất lớn. Nắm bắt nhu cầu của từng loại khách là rất
quan trọng, nó quyết định sự thành bại trong kinh doanh của một khách sạn.
3. KINH DOANH KHÁCH SẠN
3.1. Khái niệm kinh doanh khách sạn
Du khách đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đều cần đến các dịch
vụ về lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi... ở đâu có nhu cầu thì ở đó sẽ có nhà cung cấp.
Chính bởi vậy ngành kinh doanh khách sạn ra đời.
Định nghĩa: Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh các dịch vụ cho
thuê buồng ngủ, ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác của khách sạn nhằm thoả mãn
5
các nhu cầu về nghỉ ngơi tạm thời của khách tại các điểm du lịch và mang lại lợi ích
kinh tế cho cơ sở kinh doanh.
3.2. Đặc điểm kinh doanh khách sạn
sạn sẽ tăng lên. Với đặc điểm này, quản lý hiệu quả nguồn nhân lực đó là yếu tố
quyết định sự thành công trong công tác thu hút khách của khách sạn.
Thứ tư, hoạt động kinh doanh khách sạn mang tính chu kỳ. Do phụ thuộc vào
tài nguyên và nhu cầu của khách nên ngành kinh doanh khách sạn không chỉ chịu sự
chi phối của các quy luật tự nhiên mà còn phụ thuộc vào các quy luật xã hội, kinh
tế, thói quen, tâm sinh lý.
Với những đặc điểm này, kinh doanh khách sạn sẽ trở nên đặc biệt khó khăn.
Khả năng thành công của các nhà kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn không chỉ
phụ thuộc và các nhân tố như vốn, năng lực, kinh nghiệm mà còn cần phải có sự say
mê thực sự của người lao động.
3.3. Sản phẩm khách sạn
Sản phẩm kinh doanh khách sạn được hiểu là tổ hợp những nhân tố vật chất
tinh thần mà khách sạn cung cấp đáp ứng nhu của của khách hàng kể từ khi họ có
yêu cầu đầu tiên đến khi thanh toán và kết thúc quá trình lưu trú. Như vậy, nó sẽ
bao gồm các dịch vụ, hàng hoá, và các tiện nghi cung cấp cho khách.
∗ Hàng hoá là những vật phẩm hữu hình mà khách sạn cung cấp như thức ăn,
đồ uống, đồ bán kèm, hàng lưu niệm, hàng tiêu dùng thông thường,...
∗ Dịch vụ bao gồm dịch vụ lưu trú, ăn uống được xem như phần cứng của sản
phẩm. Phần mềm là các dịch vụ bổ sung, là phần tạo ra sự khác biệt của từng khách
sạn.
Đặc điểm của sản phẩm khách sạn
- Sản phẩm khách sạn không thể dịch chuyển trong không gian như các hàng
hoá thông thường khác, chỉ có sự vận động cơ học của khách hàng đến nơi có sản
phẩm. Với đặc điểm này áp dụng chính sách kéo khách hàng đến khách sạn phải
được quan tâm hàng đầu.
- Chủ yếu tồn tại dưới dạng phi vật chất, có tỷ trọng dịch vụ cao, chỉ có thể
đánh giá chất lượng sau khi đã tiêu dùng, có nghĩa là ngoài nhân viên phục vụ
khách hàng cũng là một bộ phận quan trọng trong quá trình tiêu dùng sản phẩm.
- Là sản phẩm không lưu kho cất giữ được. Với đặc điểm này, nếu một phòng
trong khách sạn không có khách thì điều đó đồng nghĩa với việc khách sạn vẫn phải
8
- Thẻ tín dụng (Credit Card)
- Thư tín dụng ngân hàng (Bank letter of Credit)
3. Các chứng khoán có giá trị ghi bằng ngoại tệ như:
- Cổ phiếu (Stock)
- Trái phiếu công ty (Debenture)
- Công trái quốc gia (Government loan)
- Trái phiếu kho bạc (Treasury Bill)
4. Vàng bạc, kim cương, ngọc trai, đá quý... được dùng làm tiền tệ.
5. Tiền của Việt Nam dưới các hình thức sau:
- Tiền của Việt Nam ở nước ngoài dưới mọi hình thức khi quay lại Việt Nam.
- Tiền Việt Nam là lợi nhuận của người đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
- Tiền Việt Nam có nguồn gốc ngoại tệ khác.
Tác động của tỷ giá hối đoái
2.4.1. Khái niệm tỷ giá hối đoái
Κ Khái niệm
Trong chế độ bản vị vàng, tiền tệ trong lưu thông là tiền đúc bằng vàng và
giấy bạc ngân hàng được tự do đổi ra vàng căn cứ vào hàm lượng vàng của nó. Tỷ
giá hối đoái là quan hệ so sánh hai đồng tiền vàng của 2 nước với nhau hoặc là so
sánh hàm lượng vàng của 2 đồng tiền 2 nước với nhau (ngang giá vàng - gold
parity).
Ví dụ: Hàm lượng vàng của 1 bảng Anh (GBP) là 2,488281 gam và của 1 đôla Mĩ
(USD) là 0,888671 gam, do đó, quan hệ so sánh giữa GBP và USD là:
1 GBP = =2,80 USD
Trong chế độ lưu thông tiền giấy, tiền đúc trong lưu thông không còn nữa,
giấy bạc ngân hàng không được tự do đổi ra vàng theo hàm lượng vàng của nó, do
đó, ngang giá vàng không còn là cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái.
Có 2 khái niệm về tỷ giá hối đoái:
hối ra. Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợi
nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.
10
2,488281
8,888671
Tỷ giá đóng cửa là tỷ giá của hợp đồng kỳ kết cuối cùng trong ngày. Tỷ giá của
chuyến giao dịch ngoại hối đầu tiên trong một ngày gọi là tỷ giá mở cửa.
Trong khuôn khổ chế độ quản lý ngoại hối, ở các nước kém phát triển, ngoài thị
trường ngoại hối chính thức còn hình thành thị trường ngoại hối tự do. Do đó, bên
cạnh tỷ giá chính thức do Nhà nước quy định, còn có tỷ giá chợ đen do quan hệ
cung cầu ngoại hối trên thị trường quyết định.
Nhà nước áp dụng chế độ nhiều tỷ giá chính thức để điều tiết nền kinh tế, tác động
đến cán cân ngoại thương, kích thích hoặc hạn chế hoạt động xuất nhập khẩu.
2.4.2. Tác động của tỷ giá hối đoái tới việc thanh toán của khách tại khách
sạn
Khi khách du lịch tới nghỉ tại khách sạn, họ sẽ tiêu dùng những dịch vụ lưu trú, ăn
uống... và đương nhiên, họ phải thanh toán những dịch vụ đó. Nhưng khách sạn
không chấp nhận tất cả các đồng ngoại tệ mà chỉ nhận một số loại ngoại tệ mạnh và
thông dụng hoặc là đồng nội tệ. Do vậy, khách du lịch phải chuyển đổi đồng tiền
của họ sang các loại ngoại tệ hoặc đồng nội tệ được khách sạn chấp nhận. Trong
quá trình chuyển đổi đó, sự biến động của tỷ giá sẽ gây ra tác động lớn, làm tăng
hoặc giảm sự chênh lệch giữa khoản thanh toán ghi trên hoá đơn và khoản thanh
toán thực tế khách phải trả.
Nếu đồng tiền của khách là những đồng tiền được khách sạn chấp nhận thanh toán
thì sự biến động của tỷ giá chỉ gây tác động một lần. Ví dụ, nếu tỷ giá giữa đồng
tiền của khách và đồng VND tăng, một đồng tiền của khách sẽ đổi được nhiều đồng
VND hơn, khoản thanh toán thực sự mà khách phải trả sẽ giảm đi. Ngược lại, nếu tỷ
giá đó giảm, đồng tiền của khách sẽ đổi được ít đồng VND hơn, tổng giá dịch vụ
mà khách đã tiêu dùng tăng lên, khách chịu thiệt vì phải trả nhiều tiền hơn.
của tất cả các nước. Séc cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế về
hàng hoá, cung ứng lao vụ, du lịch và về các chi trả phi mậu dịch khác.
2.4.4. Bản chất
Séc là một mệnh lệnh thanh toán của chủ tài khoản ký phát, yêu cầu ngân hàng của
mình trích từ tài khoản của mình thanh toán một khoản tiền nhất định cho người thụ
hưởng hoặc có tên ghi trên séc hoặc theo lệnh của người này hoặc cho chính người
cần séc.
Séc có giá trị thanh toán trực tiếp như tiền tệ, do vậy séc phải có những quy định về
phát hành, nội dung và hình thức theo luật định. Năm 1931, nhiều nước như Đức,
12
Pháp, ý, Hà Lan, Thuỵ Sĩ... đã họp tại Giơnevơ để ký kết một công ước quốc tế về
Séc. Công ước này được nhiều nước áp dụng.
2.4.5. Những điều kiện để có Séc
- Mở tài khoản vãng lai.
- Có hồ sơ thanh toán tốt: khả năng tài chính tốt (có thế chấp), khả năng thanh
toán tốt (xét theo thu nhập hoặc hiệu quả kinh doanh), không bị ghi tên vào sổ đen
ngân hàng).
- Ký hợp đồng xin sử dụng séc và được ngân hàng cấp cho một quyển sổ séc
với số lượng tờ nhất định (20 đến 40 tờ).
2.4.6. Hình thức và nội dung
Séc là những bản mẫu in sẵn do những ngân hàng thuộc cấp II phát hành. Khi
cần ký phát, chủ tài khoản chỉ cần điền thêm vào những nội dung cần thiết. Về nội
dung của tờ séc, séc cần ghi đủ những điều sau đây:
- Tiêu đề séc
- Tên, địa chỉ tổ chức phát hành
- Họ tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản của chủ tài khoản
- Số seri của séc: gồm cả phần chữ và số
- Quy định về người thụ hưởng: phần quy định ai là người thụ hưởng, tên, địa
chỉ, số chứng minh thư nhân dân. Nếu trên séc không có các mục chi tiết như trên
2.4.9. Thanh toán bằng Séc du lịch
Séc du lịch chỉ được chấp nhận thanh toán tại các khách sạn đã ký hợp đồng
với một tổ chức là đại lý của mạng thanh toán. Tổ chức này sẽ cấp cho khách sạn
một mẫu thẻ (Specimen) và danh mục những thẻ du lịch bị đình chỉ thanh toán.
Khi tiếp nhận Séc du lịch từ khách, nhân viên thu ngân phải kiểm tra kỹ tính
hợp lệ của nó: về hình thức (không tẩy xoá, rách nát...), hiệu lực thanh toán, chữ kỹ
của chủ sở hữu... Sau khi nhận séc, trong thời hạn 7 ngày làm việc phải đem đến đại
lý ký hợp đồng nhờ thu hộ theo nguyên tắc ký hậu.
2.4.10. Ưu nhược điểm khi thanh toán bằng Séc du lịch
Ở một số nước phát triển như Anh, Đức... việc sử dụng séc du lịch rất phổ biến.
Khách du lịch có thể thanh toán trực tiếp với khách sạn hoặc đổi séc thành tiền mặt
14
qua ngân hàng. Trong trường hợp bị mất, người hưởng thụ séc phải khai báo một
sóo thủ tục và được hoàn trả khoảng 80% giá trị tờ séc.
Đối với khách sạn, việc thanh toán bằng séc du lịch đơn giản hơn thanh toán bằng
séc. Séc du lịch có tính đảm bảo hơn song lại kém linh hoạt vì không thể tự do
chuyển nhượng được.
Thẻ tín dụng (Credit Card)
2.4.11. Bản chất
Thẻ tín dụng là một công cụ tiền bút toán cho phép chủ tài khoản thanh toán
không phải bằng tiền mặt trên một địa bàn rộng với nhiều mục đích. Thẻ tín dụng
được dân sử dụng nhiều.
2.4.12. Hình thức
Thẻ tín dụng là một tấm nhựa plastic, kích thước 6 × 9 cm. Mặt trước có ghi
biểu tượng của mạng thanh toán (VISA, JCB...), nơi phát hành (đại lý của mạng) và
phần in nổi bao gồm số thẻ, thời hạn hiệu lực, họ tên chủ sở hữu. Phần in nổi này
được dùng khi cà thông tin để lưu lại trên hoá đơn.
2.4.13. Một số điểm cần lưu ý khi thanh toán bằng thẻ tín dụng
Đối với chủ sở hữu muốn được sử dụng thể phải có đẩy đủ 3 điều kiện: Mở
thanh toán tới lúc nhận được tiền mặt có thể kéo dài 2 tuần đến 1, 2 tháng. Vì vậy,
trong một số trường hợp, khách sạn chấp nhận chi mức hoa hồng cao cho ngân hàng
để thu hồi tiền nhanh.
Voucher
2.4.1. Bản chất
Voucher là những hoá