Đề Tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC VẬT THỂ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRONG TRƯỜNG MẦM NON doc - Pdf 16

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

BÀI TẬP NGHIỆP VỤ CUỐI KHÓA
Đề Tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH
BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC VẬT THỂ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
TRONG TRƯỜNG MẦM NON
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : TS. Đinh Hồng Thái
NGƯỜI THỰC HIỆN :
Lớp :
Hà Nội, tháng 8 năm 2008
2
MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
I./ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5
1. Về mặt lý luận. 5
2. Về mặt thực tiễn. 5
II./ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6
III./ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 6
IV./ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận. 6
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. 6
V./ ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 7
VI./ GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 7
VII./ GIỚI HẠN ĐỀ TÀI 7
B PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận
I./ Khái niệm về biểu tượng-biểu tượng kích thước vật thể 8
II./ Những tính chất cơ bản của kích thước vật thể 9

Lời cảm ơn
Việc hoàn thành bài tập nghiệp vụ này, đó là kết quả của
quá trình tận tình truyền đạt kiến thức và trao đổi kinh nghiệm
của quý Thầy cô. Vì thế, tôi xin chân thành cám ơn:
- Thầy Đinh Hồng Thái, người hướng dẫn trong quá trình
thực hiện và hoàn thành đề tài.
- Tập thể quý thầy cô Khoa Mầm non trường Đại học sư
phạm Hà Nội.
- Các cô giáo cùng các cháu lớp Mẫu giáo lớn trường
Mầm non tư thục Sao Mai và trường Mầm non tư thục Sơn
Ca.
5
PHẦN MỞ ĐẦU
I/- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Về mặt lý luận:
Bước vào những năm cuối cùng của thế kỷ 20 và chuẩn bị bước vào thế
kỷ 21 đất nước ta đang ở trong thời kỳ thực hiện sự đổi mới do đảng ta phát
động từ năm 1986 và bắt đầu thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa- hiện đại hóa
do đại hội lần thứ 8 đề ra.
Trong quá trình đổi mới giáo dục vì sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước
để làm cho giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu. Mục đích của giáo dục là:
Nâng cao dân trí, đào tạo nhận lực, bồi dưỡng nhân tài. Nghị Quyết của hội nghị
TW Đảng lần thứ hai khóa 8 đã khẳng định rằng: “ Lấy giáo dục và đào tạo là
khoa học công nghệ làm yếu tố cơ bản, coi đó là khâu đột phá ”. Vậy giáo dục
mầm non là mắc xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta. Mục
đích chung của giáo dục mần non là phát triểntất cả các khả năng trẻ, hình thành
cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người, tạo điều kiện để trẻ phát
triển toàn diện hầu có nhiều cơ may thăng tiến trên con đường học hành cũng
như trong cuộc sống. Vì thế, cùng với các bộ môn khác của bậc học mầm non
thì việc hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ đã được đưa vào chương

kích thước vật thể cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non tư thục Sao
Mai.
3) Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy về biểu tượng
kích thước vật thể cho trẻ mẫu giáo lớn.
IV/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
+ Sưu tầm nghiên cứu tài liệu, đọc sách liên quan đến đề tài.
2) Nhóm phương pháp thực tiễn.
2.1. Phương pháp quan sát.
Dự giờ ở các lớp với nội dung này ở trường mẫu giáo dđẻ tìm hiểu
thực trạng của việc dạy trẻ về biểu tượng kích thước vật thể.
2.2. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
Điều tra thu thập ý kiến các giáo viên có liên quan đến đề tài .
2.3. Phương pháp thực nghiệm.
Đây là phương pháp quan trọng nhằm kiểm nghiệm những phương pháp
đã đưa ra là đúng, được tiến hành trên 60 trẻ, 30 trẻ làm thực nghiệm, 30 trẻ làm
đối chứng.
Lần 1: Thực nghiệm điều tra với cả 2 nhóm trẻ (60 trẻ)với hệ thống bài
tập theo nội dung của chương trình đề ra.
Lần 2: Thực nghiệm với nhóm trẻ làm thực nghiệm (30 trẻ) qua giờ học
với nội dung và phương pháp mà tôi đã đưa ra làm kiểm nghiệm thu thập đánh
giá kết quả: So sánh 2 nhóm trẻ thực nghiệm và đối chứng.
7
V/ ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU.
1) Đối tượng nghiên cứu.
- Biện pháp hình thành biểu tượng về kích thước vật thể cho trẻ mẫu giáo
lớn ở trường mầm non.
2) Khách thể nghiên cứu.
- Trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Tư thục Sao Mai.
- Trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Tư thục Sơn Ca.

+ Các nhà tâm lý học cho rằng: Biểu tượng là sản phẩm của quá trình trí
nhớ và tưởng tượng. Biểu tượng thường là “Mẫu” những “đoạn” nào đó của tri
giác, so với hình ảnh của tri giác biểu tượng không ổn định bằng, nó thường hay
dao động (khi trực tiếp nhìn người bạn thì hình ảnh của tri giác về người bạn rất
ổn định, nhưng nếu chỉ nhớ lại thì biểu tượng về người bạn thường lờ mờ hơn).
Theo họ, biểu tượng là sự xâm nhập giữa tính trực quan vừa có tính khái
quát, nên biểu tượng được coi như bước quá độ giữa hình tượng và khái niệm và
là giai đoạn chuyển tiếp từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính.
Từ những quan niệm trên, các nhà tâm lý học cho rằng:
“Biểu tượng là những hình ảnh của sự vật và hiện tượng, nảy sinh ra trong
óc khi sự vật hiện tượng đó không còn đang trực tiếp tác động vào giác quan ta
như trước ”.
9
2) Khái niệm về kích thước.
Kích thước là một biểu hiện đặc trưng của vật thể và mỗi vật thể có thể đo
theo 3 chiều chiều dài; chiều rộng và chiều cao. Tùy theo kích thước của vật mà
ta nói vật đó rộng hay hẹp, dài hay ngắn, cao hay thấp.
II/ NHỮNG TÍCH CHẤT CƠ BẢN CỦA KÍCH THƯỚC VẬT THỂ.
1) Tính so sánh: Việc xác định kích thước của vật thể chỉ thực hiện trên
cơ sở so sánh từ hai vật trở lên. Nhờ có sự so sánh mà ta có thể hiểu được mối
liên hệ các khái niệm “To hơn, nhỏ hơn, rộng hơn, hẹp hơn hoặc bằng nhau”
Các khái niệm này xác định tính chất cơ bản của vật. Tuy nhiên, không phải
kích thước của vật nào cũng có thể so sánh một cách trực tiếp, mà chúng ta
thường so sánh kích thước của vật đó với những biểu tượng chung về kích thước
của những vật quen biết.
Ví dụ: Bạn Châu cao hơn bạn Lam tức là đã so sánh chiều cao của Châu
và Lam.
2) Tính Thay đổi: Kích thước của vật (Chiều dài, chiều rộng, chiều
cao ) có thể tăng lên hoặc giảm xuống, có thể thay đổi về kích thước và sự thay
đổi đó không luôn thay đổi nội dung của khách thể.

Trẻ 2 tuổi tuy chưa nắm được ngôn ngữ tích cực, đã có thể hình thành ở
trẻ những phản xạ không chỉ trước sự khác nhau về kích thước của các vật thể
mà cả trước các mối quan hệ về kích thướcgiữa các khách thể. Tuy nhiên, trong
một thời gian dài những biểu tượng về kích thước vật thể ở trẻ nhỏ còn mang
tính tuyệt đối. Dấu hiện kích thước vật thể được trẻ lĩnh hội gắn liền với những
vật cụ thể. Đó là một dấu hiệu mang tính tuyệt đối và trẻ rất khó khăn khi hiểu
tính tương đối của khái niệm kích thước.
Nếu đặt trước mặt trẻ 3-4 vật khác nhau về kích thước và sắp sếp theo thứ
tự tăng dần thì trẻ hiểu những vật đó gắn với từ cô nói ( To nhất, to hơn, tơ hơn
nữa. . .)
Ở trẻ 3 tuổi, sự tri giác kích thước còn thiếu tính phân định, trẻ thường chỉ
định hướng tới độ lớn chung của vật mà không có sự phân tích từng chiều đo
kích thước của vật như: Chiều dài, chiều rộng. Vì vậy, khi yêu cầu trẻ mang ghế
cao nhất trong lớp cho cô, trẻ thường mang ghế to nhất.
Trong ngôn ngữ thụ động của trẻ đã xuất hiện những từ phản ánh sự phân
biệt các chiều đo kích thước khác nhau. Điều đó chứng tỏ ở trẻ đã hình thành
những biểu tượng kích thước và sự tri giác kích thước của trẻ nhỏ ngày càng
mang tính ổn định.
Lên 4 tuổi trẻ đã biết chọn các vật theo chiều dài, chiều rộng, chiều cao
nếu sự khác biệt của các chiều đo là rõ rệt. Tuy nhiên phần lớn 4 tuổi không hiểu
nghĩa của từ “kích thước ” nên khi hỏi trẻ về kích thước của vật nhiều trẻ lại trả
lời về màu sắc, số lượng.
Trong sự tri giác kích thước lời nói đóng vai trò quan trọng. Lời nói diễn
đạt các dấu hiệu khác nhau của kích thước vật thể.
Ví dụ: Quả bóng xanh to hơn quả bóng đỏ
11
Băng giấy xanh dài hơn băng giấy đỏ
Trẻ mẫu giáo thường dùng các từ to, nhỏ để diễn đạt kích thước vật tri
giác. Còn để diễn đạt sự thay đổi của các tham số kích thước như: chiều dài,
chiều rộng, chiều cao hay độ lớn của vật, trẻ thường dùng các từ to hơn, nhỏ

chính xác hơn, nên cô giáo có thể sử dụng các trò chơi một cách lý thú cho trẻ
chơi. Như vậy sẽ có tác dụng kích thích trẻ so sánh các vật bằng mắt.
Ví dụ: Trẻ có thể xác định chiều dài, chiều rộng và chiều cao của hộp
đựng bút đặt trên bàn rồi sau đó lật nghiêng hộp đi để trẻ tìm được chiều dài,
12
chiều rộng và chiều cao của hộp. Đồng thời trẻ cũng có khả năng so sánh được 3
vật khác nhau và nêu lên được cái gì cao hơn.
Kết luận:
Chúng ta phải kịp thời hoàn thành và phát triển ở trẻ những biểu tượng
ban đầu về kích thước vật thể một cách chính xác, không chỉ dừng lại ở việc
nhận biết mà hơn thế nữa trẻ phải phản ánh được kết quả nhận biết bằng lời tức
là đã phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Cần dạy trẻ biết so sánh và nhận biết đồng thời
2 đến 3 thông số kích thước bằng phương pháp xếp chồng, xếp cạnh các vật thể,
dạy trẻ so sánh các vật có kích thước khác nhau để hình thành những biểu tượng
về dài, ngắn, cao, thấp, to, nhỏ, rộng, hẹp, dày, mỏng và tập cho trẻ biết ước
lượng bằng mắt hoặc sờ tay để so sánh kích thước các vật khác nhau và cũng
nên tập cho trẻ đo các vật đơn giản bằng gang tay, bằng bàn chân, bằng dây ,
que, bằng các băng giấy, trẻ nói lên được kết quả đo và so sánh kết quả đó với
nhau. Đồng thời dạy cho trẻ biết vận dụng kiến thức về kích thước vào trong
cuộc sống hằng ngày của trẻ.
IV/ Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIẢNG DẠY VỀ KÍCH THƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC
HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC VẬT THỂ ĐỐI VỚI TRẺ
LỨA TUỔI MẪU GIÁO.
Đối với lứa tuổi mẫu giáo, trẻ không hình thành cho mình những biểu
tượng về toán học mà phải nhờ sự hươngs dẫn giúp đỡ của người lớn. Thông
qua phương pháp nhập tâm J.Bruner đã khẳng định: “Mức độ phát triển trí tuệ
phản ánh trình độ nhập tâm hành động sử dụng công cụ mà con người được tạo
cho trong nền văn hoá nào đó” thuyết “Nhập tâm” biểu hiện ở chỗ hành động
đối chiếu thuộc tính của các đồ vật với chuẩn cảm giác, hành động xây dựng và
ứng dụng mô hình tốt nhất cần hình thành dưới hình thức bên ngoài, trong tương

khen- Đạt được: Công đoàn cơ sở vững mạnh được LĐLĐ thị khen và đã đạt
được nhiều thành tích cao trong các hội thi “Giáo viên giỏi toàn diện cấp Thị -
Tỉnh” hội thi làm đồ dùng đồ chơi đạt giải I cấp Thị - Tỉnh và được tham gia dự
thi cấp Trung ương một bộ đồ dùng đồ chơi. tham gia các phong trào văn nghệ
đều đạt giải
Trường mầm non tư thục Sao mai với tổng số CB-GV-NV (17 người)
Trong đó CB quản lý : 01
Giáo viên trực tiếp giảng dạy : 12
Nhân viên : 04
Tổng số học sinh : 170 (trong đó 60 em là dân tộc thiểu số)
Được chia làm 6 lớp (bán trú) tập trung tại 1 địa điểm.
Trường mầm non tư thục Sao Mai hiện đang thực hiện theo chương trình
đổi mới (riêng 2 lớp dân tộc thiểu số thực hiện theo chương trình cải cách).
II./ Vài nét về thực trạng nhằm hình thành những biểu tượng về kích
thước vật thể cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non tư thục Sao Mai.
- Trong các trường mầm non hiện nay đa số đang thực hiện chương trình
đổi mới hình thức, nhất là đối với lớp lớn (5-6 tuổi) đã thực hiện một cách đại
trà.
Việc dạy trẻ làm quen với toán nói chung và hình thành biểu tượng kích
thước vật thể nói riêng đã có nhiều thay đổi trong phương pháp dạy so với
chương trình cải cách trước đây về nội dung kiến thức cũng như cách dạy của
giáo viên, tiến bộ nhất là hình thức dạy toán không cứng ngắt rập khuôn, nhưng
được tổ chức như những dạng hành động tạo tình huống cho trẻ được trãi
nghiệm trên vật thật cho trẻ tự phát hiện và giải quyết vấn đề. Đồ dùng dạy học
mang tính thực tế, những nguyên vật liệu rất gần gũi với trẻ như: Bao diêm, hộp
15
bơ, chai xà phòng và mang tính chủ điểm giúp cho kiến thức của trẻ thấm sâu
trong trẻ.
* Nhận thức của giáo viên về việc hình thành biểu tượng kích thước
vật thể cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non tư thục Sao Mai.

nhau.
- Dạy trẻ phân biệt được kích thước 3 chiều của một vật (chiều dài, chiều
rộng, chiều cao) và cách xác định 3 chiều đó là 1 cách chính xác.
- Dạy trẻ so sánh kích thước của nhiều vật với nhau, giúp trẻ hiểu được
mối tương quan của vật này với vật kia.
16
Ví dụ: Trẻ biết lấy ghế to cho búp bê lớn và ngược lại.
- Dạy trẻ đo chiều dài, chiều rộng của vật bằng một vật chuẩn( bằng thước
đo, que tính, đoạn dây, gang tay. . .).
- Phát triển cho trẻ những kỹ năng phân biệt, nhận biết, khảo sát các thông
số kích thước( cho so sánh các khối).
- So sánh lập dãy 5-10 vật theo kích thước tăng dần.
- Dạy trẻ cũng cố biểu tượng về sự thay đổi kích thước của vật thể.
- Dạy trẻ phép đo đạc ( Yếu tố của hoạt động đo đạc).
- Dạy trẻ phép đong đo.
* Phương pháp dạy trẻ nhận biết kích thước của vật.
Ngay từ lớp nhỡ, các cháu đã hiểu được các vật thể khác nhau độ dài,
chiều rộng và chiều cao và đã nắm được cách so sánh kích thước của vật. Song
điều quan trọng là cần phải hoàn thiện trẻ về cách diễn đạt và trẻ hiểu biết tính
chất tương đối về kích thước chẳng hạn; Khi so sánh 3 băng giấy ( xanh, đỏ,
vàng) Trẻ phải rút ra được kết luận và diễn đạt bằng lời nói: “ băng giấy đỏ rộng
hơn băng giấy xanh và dài hơn băng giấy xanh”.
Cần phải cho trẻ biết sử dụng các kiến thức này vào các hoạt động khác
nhau như: Vẽ, nặn, cắt, dán và trong hoạt động vui chơi .
ở lớp lớn trẻ đã so sánh 5-10 vật và biết sắp sếp chúng theo thứ tự tăng
dần hay giảm dần.
+ Dạy trẻ khảo sát, phân tích các thông số kích thước của vật. Dạy trẻ
đồng thời so sánh 2 đến 3 thông số kích thước.
Sử dụng phạm vi các vật thể trẻ mở rộng thông số kích thước ( Vật phẳng,
vật khối). Nên sử dụng các thao tác khảo sát bằng ngón tay trỏ, thông số kích

nhưng đều là các hành động mang tính văn hóa nhân loại, trẻ chỉ tiếp thu được
thông qua mẫu của cô và được thử nghiệm. Đây chính là lối giải thích cho các
thí nghiệm mà ta đưa ra.
Ví dụ: Khi ta xem xét 1 đứa trẻ so sánh dung tích giữa 2 thùng chứa, một
thùngthì cao và hẹp, một thùng thì to và rộng, đứa trẻ đổ từ thùng này sang
thùng kia và phát hiện ra sức chứa của thùng 1 bằng đúng thùng thứ 2. Sau
nhiều lần đổ như vậy đứa trẻ kết luận rằng: Hình dạng không là nhân tố quyết
định cho dung tích. Các khái niệm mở đầu đó giúp trẻ tạo ra khi chúng quan sát
phân loại, so sánh sắp xếp và đánh giá các yếu tố trong môi trường của chúng.
* Bước 3:
Thế giới toán học của trẻ liên quan đến các thực tiễn vật chất là nền tảng
cho sự hình thành các hình ảnh mang tính trừu tượng. Một lớp học kích thích trẻ
có một số lượng với các vật liệu để trẻ thao tác. Vì thế ta nên có những hoạt
động mở rộng cho trẻ ở các hoạt động góc như: cái thùng, chai nhựa chứa nước,
cát, gạo, đậu, bắp hoặc các chất liệu nước khác tạo ra nhiều cơ hội đẻ trẻ khám
phá ra dung tích bằng cách đo lường. Có như vậy trẻ sẽ được so sánh trực tiếp
về độ dài, diện tích, hình dạng về khối lượng, các cây gậy, băng keo, dây xích
với các thanh nhựa để đo chiều dài, các khối theo mẫu khuyến khích trẻ trong
quá trình điều tra về không gian hình dung và vị trí. Khi trẻ tiến hành công việc
so sánh các thông số kích thước cần yêu cầu trẻ diễn đạt kết quả so sánh bằng
lời.
+ Dạy trẻ so sánh 5-10 vật và lật dãy vật theo kích thước giảm dần (3-1
em).
Qua việc khảo sát trên bằng cách so sánh và trãi nghiệm trên các vật giúp
trẻ thấy được tính tương đối của khái niệm về kích thước và hiểu được tính bắc
18
cầu của các mối quan hệ kích thước trong dãy, khi trẻ so sánh mỗi vật với tất cả
những vật đứng sau hoặc đứng trước, qua đó trẻ có thể thấy được một vật có thể
nhỏ hơn tất cả những vật đứng sau nó nhưng nó lớn hơn tất cả những vật đứng
trước nó, bằng biện pháp lập dãy các vật theo kích thước tăng dần hoặc giảm

Ví dụ: Băng giấy, hình học, que đã đo độ chênh lệch về kích thước của
vật đó trong dãy. Để cũng cố những kích thước, kỹ năng mà trẻ thu được trên
tiết học nên sử dụng các trò chơi: Đặt ô tôvào chổ rộng - hẹp ; cao - thấp; đặt lên
ghế dài - ngắn.
Trẻ 4 - 5 tuổi: Cô cùng trẻ xây cho búp bê cái cầu thang trên mỗi bậc
thang có một người đứng. Giúp trẻ hiểu và phản ảnh đượckích thước của vật
theo trật tự của dãy.
19
Ô tô to đi trên cái cầu dài, hẹp và hỏi trẻ, vì sao ôtô không thể đi qua cầu ?
Giúp trẻ so sánh đồng thời 2 thông số kích thước.
Trẻ 5-6 tuổi các trò chơi học tập là chủ yếu, củng cố kỹ năng kiến thức lập
dãy và so sánh đồng thời 2-3 thông số kích thước.
Ví dụ: “Ai là người đứng đầu tiên ” Búp bê quên rằng mình phải đứng sau
ai “Các cháu hãy cùng giúp búp bê nhé” Người đầu tiên phải thấp hơn người thứ
2, người thứ 2 phải thấp hơn người thứ 3 vậy búp bê đứng đầu tiên (thứ 2, 3)
phải có chiều cao như thế nào ? Trẻ sẽ trả lời búp bê đầu tiên thấp nhất, hay thấp
hơn búp bê thứ 2 và thấp hơn búp bê thứ 3. Búp bê thứ 2 thấp hơn búp bê thứ 3
nhưng lại cao hơn búp bê thứ nhất
Các trò chơi học tập có tác dụng rất tốt đến sự phát triển trí tuệ của trẻ, trẻ
tiếp thu những kiến thức - kỹ năng một cách thoải mái, nhẹ nhàng, không gò bó,
ức chế. Ban đầu trẻ có thể giải quyết nhiệm vụ chơi dựa trên các đồ dùng trực
quan và sau đó chỉ bằng lời. Ngoài ra còn có thể sử dụng các bài luyện tập đề
củng cố những kiến thức về tính chất của dãy cho trẻ. Các bài tập này đòi hỏi trẻ
phải thông minh, nhạy bén và có óc suy luận logic.
Ví dụ: Yêu cầu trẻ lập dãy bắt đầu từ vật đứng giữa. Tìm đặt vào vị trí bỏ
trống hoặc vật thừa có trong dãy, xếp những vật vào giữa dãy có sẵn.
+ Phát triển sự ước lượng kích thước vật thể bằng mắt.
Cô giáo phải đưa vào những biện pháp so sánh kích thước mà trẻ đã học
như xếp chồng, xếp cạnh, đo đạt cho trẻ luyện tập qua hệ thống các bài luyện
tập từ đơn giản đến phức tạp, tìm kiếm, mở rộng ra dạy trẻ ước lượng theo mẫu,

Ngay từ lứa tuổi mầm non cần cho trẻ làm quen với thông số kích thước
một cách chính xác. Đó là phương pháp khảo sát cung cấp cho trẻ những kiến
thức đơn giản đến phức tạp, để đến lứa tuổi mẫu giáo lớn trẻ nhận biết được
đồng thời 3 thông số kích thước và lập dãy các vật theo từng thông số kích
thước và diễn đạt bằng lời các quan hệ của chúng. vì trẻ em nắm bắt các kỹ năng
giải toán căn bản từ các thao tác cụ thể của tay - mắt thậm chí của cơ thể, kích
thước chung thử nghiệm các ý tưởng và chấp nhận các lời giải của chúng đều
tạo ra cho chúng sự tự tin để tiếp tục suy nghĩ, đặt câu hỏi và cộng tác. Như vậy
ngôn ngữ tiếp tục phát triển nhanh chóng và lời nói được dùng nhiều hơn để
thực hiện các khái niệm về kích cỡ, trễ và sớm; về thời gian dài và ngắn; về độ
dài của vật chúng học cách phân biệt vật thể bằng cách dùng những thông tin
mà chúng thu thập được về đặc điểm như là màu sắc, hình dạng và kích cỡ. Vậy
vai trò của giáo viên là nuôi dưỡng niềm đam mê về toán học cho trẻ. Đây là nền
tảng, là cơ sở về toán học cho trẻ sau này.
21
CHƯƠNG III
CÁC BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ KÍCH THƯỚC
VẬT THỂ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRONG TRƯỜNG MẦM NON
I/ XÂY DỰNG BIỆN PHÁP:
- Bằng các biện pháp gợi mở như: câu đố, hệ thống câu hỏi tạo tình
huống.
- Trẻ tự tìm tòi, khám phá để giải quyết vấn đề.
- Gây hứng thú, chú ý, hấp dẫn trẻ qua các thủ thuật: trò chơi, kể chuyện,
hát lồng ghép một cách tích hợp thông qua giờ học, gìơ chơi.
- Bằng các biện pháp so sánh, phân tích, tổng hợp.
- Bằng các bài tập nhỏ. Trẻ được luyện tập và thường xuyên được thao tác
trên đồ dùng đồ chơi thông qua hoạt động chung, hoạt động góc.
Các biện pháp trên cần phải được vận dụng một cách linh hoạt nhằm hình
thành biểu tượng về kích thước vật thể cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non
làm tiền đề cho việc học toán sau này của trẻ.

b) So sánh các thông số kích thước của các vật khác nhau qua thí nghiệm.
- So sánh từng thông số kích thước của 2 vật, 3 vật, 4 vật
- So sánh đồng thời 2 thông số kích thước như so sánh đồng thời chiều dài
và chiều rộng hoặc chiều rộng với chiều cao.
c) Khả năng thiết lập mối quan hệ kích thước của 3 vật và diễn đạt bằng
lời mối quan hệ đó.
A) Hệ thống bài tập thực nghiệm:
* Bài tập 1: Yêu cầu - nhận biết - phân biệt chiều dài chiều rộng, chiều
cao của 2 đối tượng
. Diễn đạt bằng lời các thông số kích thước và mối quan hệ của chúng.
. Diễn tập kỹ năng đặt vật này cạnh vật kia.
- Cách tiến hành:
Giáo viên sử dụng 2 băng giấy có chiều dài khác nhau, 2 băng giấy có
chiều rộng khác nhau, độ chênh lệch giữa 2 vật đó là 7 đến 10. yêu cầu trẻ nhận
xét chiều dài, chiều rộng và chiều cao của 2 vật và yêu cầu biện pháp xếp cạnh.
* Bài tập 2 :
Thực nghiệm 1
- Yêu cầu:
. Đo khả năng so sánh thông qua kích thước của 2 vật (so sánh chièu dài,
chiều rộng, chiều cao)
. Dạy trẻ so sánh bằng phương pháp xếp cạnh và diễn đạt bằng lời kết quả
so sánh
- Tiến hành:
. Cô sử dụng 2 bằng giấy có chiều dài khác nhau, 2 băng giấy có chiều
rộng khác nhau. độ chênh lệch là 10cm
24
. Cô xếp 2 vật cạnh nhau theo chièu cần đo, yêu cầu trẻ nhận xét về dộ
chênh lệch kích thước giữa 2 vật theo chiều dài, chiều rộng và chiều cao.
. Dạy trẻ xếp cạnh 2 vật cần so sánh và diễn đạt bằng lời kết quả so sánh.
Thực nghiệm 2:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status