Sử dụng một số phần mềm thiết kế bài dạy kể chuyện cho trẻ mẫu giáo lớn trong trường mầm non - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
_____________

______________
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP VIỆN
SỬ DỤNG MỘT SỐ PHẦN MỀM THIẾT KẾ
BÀI DẠY KỂ CHUYỆN CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
TRONG TRƯỜNG MẦM NON
MÃ SỐ: V2012 - 12
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài

HÀ NỘI - 2013
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA
1. Trần Yến Mai – Trung tâm NCCSVC, TBDH, ĐCTE, chủ nhiệm đề tài.
2. Phan Đông Phương - Trung tâm NCCSVC, TBDH, ĐCTE, thành viên.

ĐƠN VỊ THAM GIA CỘNG TÁC
1. Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục mầm non – Viện Khoa học Giáo dục
Việt Nam
2. Vụ Giáo dục mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo
3. Một số trường mầm non thành phố Hà Nội
4. Trung tâm sản xuất thiết bị giáo dục mầm non
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GV Giáo viên
HS Học sinh
TBDH Thiết bị dạy học
GD Giáo dục
MN Mầm non
TBDHMN Thiết bị dạy học mầm non

1.2. Phần mềm dạy học hỗ trợ hoạt động kể chuyện trong trường mầm non 7
1.3. Đặc điểm tâm lý trẻ 5 - 6 tuổi với việc ứng dụng công nghệ thông tin 10
1.3.1. Đặc điểm phát triển nhận thức 10
1.3.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ 12
1.3.3. Đặc điểm phát triển vận động tinh 13
1.3.4. Đặc điểm phát triển xúc cảm, tình cảm và kĩ năng xã hội 13
1.3.5. Đặc điểm phát triển thẩm mĩ 14
1.4. Chương trình mẫu giáo 5-6 tuổi hiện nay và những yêu cầu khi ứng dụng
phần mềm thiết kế câu chuyện 14
1.4.1. Hoạt động kể chuyện với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: 14
1.4.2. Định hướng ứng dụng CNTT chung vào hoạt động kể chuyện cho trẻ
mẫu giáo lớn trong chương trình giáo dục mầm non hiện nay 17
1.5. Một số lưu ý khi cho trẻ mầm non tiếp xúc với máy tính 21
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN 22
2.1. Tổng quan một số một số phần mềm công cụ thường được giáo viên mầm
non sử dụng trong trường mầm non 22
2.1.1. Phần mềm công cụ chung 22
2.1.2. Phần mềm công cụ đặc thù môn học 24
2.2. Tình hình sử dụng phần mềm công cụ thiết kế bài dạy kể chuyện trong
trường MN 32
III. Nguyên tắc, quy trình sử dụng phần mềm vào thiết kế câu chuyện 43
3.1. Nguyên tắc thiết kế câu chuyện trên phần mềm dạy học cho trẻ mầm non
43
3.1.1. Phù hợp với mục tiêu của giáo dục mầm non 43
3.1.2. Phù hợp với nội dung giáo dục mầm non 44
3.1.3. Phù hợp với phương pháp giáo dục mầm non 44
3.1.4. Phù hợp với điều kiện của trường, lớp mầm non và của địa phương 45
3.2. Quy trình thiết kế câu chuyện từ phần mềm dạy học 46
IV. THIẾT KẾ CÂU CHUYỆN CÓ ỨNG DỤNG PHẦN MỀM (ví dụ
minh họa) 50

3. Cơ quan chủ trì đề tài: Trung tâm Nghiên cứu CSVC, TBDH, ĐCTE
4. Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục
Mầm non, Viện KHGDVN (TS Trần Thị Ngọc Trâm); Vụ Giáo dục Mầm
non, Bộ Giáo dục và Đào tạo; Công ty Cổ phần TBGD I;
5. Thời gian thực hiện: 8/2012 - 8/2013.
6. Mục đích: Sử dụng một số phần mềm thiết kế bài dạy kể chuyện cho trẻ
mẫu giáo lớn, từ đó đề xuất quy trình thiết kế bài dạy kể chuyện trong trường
mầm non.
7. Nội dung nghiên cứu: 7.1. Nghiên cứu lý luận: - Làm rõ một số khái niệm
khoa học: Phần mềm; phần mềm dạy học; - Đặc điểm tâm lý trẻ 5 - 6 tuổi với
việc ứng dụng công nghệ thông tin; - Chương trình mẫu giáo 5-6 tuổi hiện nay
và những yêu cầu khi ứng dụng phần mềm vào thiết kế câu chuyện; - Các phần
mềm dùng cho hoạt động kể chuyện cho trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi; 7.2.
Nghiên cứu thực tiễn : Thực tế về trang bị và sử dụng một số phần mềm để
thiết kế bài dạy kể chuyện cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN; 7.3. Nguyên tắc,
quy trình sử dụng phần mềm vào thiết kế câu chuyện:- Nguyên tắc thiết kế;
- Quy trình thiết kế. 7.4. Thiết kế câu chuyện có ứng dụng phần mềm(ví dụ
minh họa): - Tên câu chuyện và nội dung câu chuyện;- Định hướng thiết câu
chuyện;- Giá trị ứng dụng của câu chuyện.
8. Kết quả nghiên cứu:
* Đề tài đã phát triển làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu. Cụ thể: - Hệ thống khái niệm chuyên ngành, chuyên sâu: Khái
niệm phần mềm; phần mềm dạy học; - Đặc điểm tâm lý trẻ 5 - 6 tuổi với
việc ứng dụng công nghệ thông tin; - Chương trình mẫu giáo 5-6 tuổi hiện nay
và những yêu cầu khi ứng dụng phần mềm vào thiết kế câu chuyện; - Nghiên
cứu về các phần mềm dùng cho hoạt động kể chuyện cho trẻ mẫu giáo lớn 5-6
tuổi;
* Đề tài đã đề xuất hệ thống các nguyên tắc và một quy trình sử dụng phần
mềm vào thiết kế câu chuyện phục vụ cho hoạt động LQVVH trong trường MN.
Hệ thống các nguyên tắc và quy trình thiết kế đó là: + Nguyên tắc thiết kế: 1.

7. Research Contents: 7.1. Research reasoning: - Clarifying some scientific
concepts: Software, educational software; - Psychological Characteristics
children 5-6 years old with the application of information technology; -
Kindergarten Program 5-6 current age and the requirements for application
software to design story; - the software used for storytelling activities for
children kindergarten age 5-6; 7.2. Practical Research: Facts about the
equipment and use some software to design lessons for children 5-6 years old
narrator in the MN; 7.3. Principles and processes used to design software
story: - Design Principles; - Design Process. 7.4. Story design software
applications (examples): - Name of stories and story content; - Orientation set
story; - Application Value of the story.
8. Research results:
* The theme has developed clarify some theoretical issues related to the
research problem. Specifically: - System concept specialized, in-depth:
Concept software, educational software; - Psychological Characteristics
children 5-6 years old with the application of information technology; -
Kindergarten Program 5 - 6 years old now and when the application
requirements into software design story; - Research on the software used for
storytelling activities for preschool children 5-6 years old;
* The theme proposed system principles and processes used in software
design story serve operation acquainted with literature in preschool.System
principles and design process are: + Design Principles: 1. Must comply with
the objectives of early childhood education; 2. Consistent with early
childhood education content; 3. In accordance with the method of preschool
education; 4. In accordance with the conditions of the school, kindergarten
and local; 5. Consistent with regional. + Design process consists of 5 steps
feasible: 1. Research carefully examined the subject, the content of education,
documentation preschool; 2. Develop scenarios for designing pedagogical
story on the computer; 3.The current pedagogical scenarios on the computer;
4. Consider, adjust, test their might (try to teach); 5. manual.

trong giảng dạy, trong đó có hoạt động Làm quen với văn học.
+ Hoạt động làm quen với văn học (LQVVH)
cho trẻ, đặc biệt là trẻ 5
- 6 tuổi là một trong những mục tiêu giáo dục quan trọng ở bậc học mầm non,
đó là rèn luyện và phát triển ở trẻ các kỹ năng nghe nói cần thiết, Biết cách
diễn đạt ý nghĩ, mong muốn, của mình một cách rõ ràng với tất cả mọi người
xung quanh. Cho trẻ làm quen với các kỹ năng đọc, viết ban đầu để chuẩn bị
vào lớp một. Chính vì vậy, nó đáp ứng được định hướng của chương trình
giáo dục mầm non mới do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo thông tư số
17/2009/TT - BGDĐT ngày 25/7/2009 là tạo cơ hội cho trẻ hoạt động và tích
cực hoá các hoạt động của trẻ. Do vậy, gia đình và lớp mẫu giáo 5 tuổi cần có
ý thức trau dồi ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi thông qua mọi hoạt động
chăm sóc – giáo dục hàng ngày, trong đó hoạt động kể chuyện cho trẻ mẫu
1
giáo là một trong những hoạt động PTNN (PTNN) đóng vai trò quan trọng đối
với trẻ.
+ Giáo dục mầm non - cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân, mắt xích đầu tiên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực
và đẩy mạnh việc sử dụng phần mềm vào giảng dạy. Đối tượng giảng dạy
của giáo viên mầm non (GVMN) là trẻ ở độ tuổi mầm non với đặc điểm tư
duy trực quan là chủ yếu. Ở trẻ, khả năng tập trung chú ý còn ngắn và chưa
bền vững nhưng trẻ lại rất dễ hứng thú với các hình ảnh trực quan minh hoạ
gây ấn tượng, tác động đến mọi giác quan như: hình ảnh, âm thanh, màu sắc
sống động. Vì thế, sử dụng phần mềm thiết kế các hoạt động học tập đặc biệt là
hoạt động làm quen với văn học sẽ kích thích hứng thú, sự tập trung chú ý, ghi nhớ
có chủ định của trẻ vào nội dung của hoạt động, từ đó những kiến thức được tiếp cận
sẽ khắc sâu hơn trong trí nhớ của trẻ.
+ Hiện nay các trường mầm non có điều kiện đầu tư và trang bị Tivi, đầu
Video, xây dựng phòng đa năng với hệ thống máy tính và máy chiếu, nối
mạng internet. Một số trường còn trang bị thêm máy quay phim, chụp

quan đến sử dụng phần mềm)
- Nghiên cứu về các phần mềm dùng cho hoạt động kể chuyện cho trẻ
mẫu giáo lớn 5-6 tuổi
+ Các khái niệm liên quan về phần mềm.
+ Tác dụng của sử dụng phần mềm vào hoạt động kể chuyện với trẻ 5 tuổi.
II. Nghiên cứu thực tiễn.
- Thực tiễn về trang bị và sử dụng phần mềm vào hoạt động kể chuyện
hiện nay trong các trường mầm non.
- Nhu cầu của các trường mầm non đối với CNTT vào hoạt động kể
truyện hiện nay
III. Sử dụng một số phần mềm để thiết kế bài dạy kể chuyện cho trẻ
mẫu giáo lớn trong trường mầm non.
Nghiên cứu sử dụng một số phần mềm để thiết kế bài dạy kể chuyện
cho trẻ mầm non.
1. Phần mềm HappyKid.
2. Phần mềm Kid Pix
3. Phần mềm Kidsmart:
4. Phần mềm LEARNING FUN STORY
3
4. Phạm vi nghiên cứu
Sử dụng phần mềm để thiết kế câu chuyện cho trẻ mẫu giáo lớn trong
trường mầm non tại Hà Nội.
5. Phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu lí luận: Phân tích, hệ thống hóa và khái quát hóa những
vấn đề nghiên cứu
+ Nghiên cứu thực tiễn: Tình hình trang bị và sử dụng phần mềm ở một
số trường mầm non Hà nội.
+ Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia; Giáo viên
6. Sản phẩm khoa học của đề tài
+ Báo cáo tổng kết đề tài

1.1.1.1. Khái niệm phần mềm:
Theo từ điển tin học Anh Việt ; Việt Anh, Nhà xuất bản Hà Nội năm
2002. « Phần mềm (PM) – software: Là những chương trình có thể chạy trên
hệ thống máy tính, khác với các yếu tố vật lý (phần cứng) ».
Theo từ điển tin học Anh Việt; Nhà xuất bản thanh niên năm 2002.
« Phần mềm (PM) – software: Là các chương trình hay thủ tục chương trình
chẳng hạn như một ứng dụng, tập tin, hệ thống, trình điều khiển thiết bị…
cung cấp các chỉ thị chương trình cho máy tính ».
« Phần mềm là : các lệnh (chương trình máy tính) khi được thực hiện
thì đưa ra hoạt động và kết quả mong muốn, các cấu trúc dữ liệu làm cho
chương trình thao tác thông tin thích hợp, và các tài liệu mô tả thao tác và
cách dùng chương trình » (Kĩ nghệ phần mềm - Nhà xuất bản giáo dục 2001)
- Theo luật công nghệ thông tin : « Phần mềm là chương trình máy tính
được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị
số thực hiện chức năng nhất định » (mục 12 điều 4 chương I – Luật CNTT).
1.1.1.2. Khái niệm phần mềm dạy học:
Theo [1] Phần mềm (software) là phần ra lệnh cho phần cứng
(hardware) của máy vi tính những điều cần làm, để giúp cho từng cá nhân
khai thác lợi ích của máy tính. Trong lĩnh vực giáo dục, ngoài những phần
mềm được cài đặt trong các máy vi tính (hệ điều hành, ứng dụng, quản lý dữ
liệu, ), còn có những phần mềm chuyên dụng cho việc dạy và học gọi là
phần mềm dạy học (PMDH). Đó là những chương trình ra lệnh cho máy tính
thực hiện các yêu cầu về nội dung, phương pháp dạy học theo mục đích đã
định.
1.1.2. Về phân loại phần mềm dạy học.
Theo giáo trình tin học cơ sở do Hồ Sĩ Đàm chủ biên trong chương 8
“phần mềm máy tính” đã giới thiệu một số loại phần mềm (PM) sau: Phần
mềm ứng dụng; Phần mềm công cụ (PMCC); PM hệ thống; PM tiện ích
(utility) và tài liệu cũng nêu sự phân loại nói trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Để
hỗ trợ cho việc làm ra các sản phẩm PM, người ta lại dùng chính các PM khác

một chuyên ngành nhất định. Các PMCC chuyên dụng đòi hỏi kiến thức rất
sâu về một chuyên ngành hẹp nào đó do vậy thường chỉ được dùng trong một
phạm vi không rộng rãi như các PMCC chung.
* Các phần mềm chuyên dụng: để kiến tạo và thiết lập các bài giảng
điện tử dành riêng cho giáo viên. Các PM này phần lớn hỗ trợ một số chuẩn
của e-Learning đặc biệt là chuẩn SCORM hiện đang được khá nhiều quốc gia
trên thế giới công nhận. Các PM này về cơ bản có nhiều chức năng tương tự
như PowerPoint mà hiện đang được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện
6
nay. Tuy nhiên PowerPoint lại không phải là PM chuyên giáo dục hỗ trợ
chuẩn SCORM.
1.2. Phần mềm dạy học hỗ trợ hoạt động kể chuyện trong trường mầm non.
Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kể chuyện đã có sự hỗ trợ
tích cực trong giảng dạy đối với giáo viên và trẻ nhỏ.
Với giáo viên:
+ Trước đây, khi phần mềm CNTT còn hạn chế, chưa được áp dụng
phổ biến, khi tiến hành hoạt động kể chuyện GV thường phải mất thời gian vẽ
tranh, bồi bìa, đóng khung chi phí tốn kém. Hầu hết giáo viên không phải là
họa sĩ, vì thế tranh khó đẹp như ý muốn. Khi sử dụng tranh có nhiều bất cập,
sử dụng xong phải tìm nơi cất giữ đến năm học sau thì tranh bị mốc, bị
rách Hơn nữa những hình ảnh động sẽ làm tăng tính hấp dẫn rất nhiều cho
giờ kể chuyện bởi đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non rất hứng thú với hình ảnh
động, có sự kết hợp với màu sắc và âm thanh sẽ thu hút được sự chú ý của
trẻ. Muốn có hình ảnh động giáo viên phải làm tranh kiểu 3D rất tỉ mỉ, càng
mất nhiều thời gian hơn cho việc chuẩn bị tranh, ảnh hưởng đến các hoạt
động khác mà giáo viên mầm non do đặc thù nghề nghiệp không chỉ giảng
dạy mà còn phải chăm sóc trẻ.
+ Trên giờ dạy thường xuyên giáo viên phải sử dụng giọng kể của
mình. Trung bình mỗi tiết chuyện kể cô phải kể ít nhất là 2 đến 3 lần và 1 lần
diễn giải, đọc trích dẫn. Muốn giải thích từ khó bằng hình ảnh thì tranh vẽ

dung câu chuyện. Giáo viên chỉ cần đặt câu hỏi kết hợp trình chiếu các slide
để học sinh quan sát và trả lời câu hỏi của cô. Thông qua đó giáo viên cũng
tiết kiệm được nhiều thời gian giảng giải, không quá vất vả khi diễn giải, trích
dẫn cho trẻ hiểu nội dung câu chuyện, đặc biệt là giải thích các từ khó trong
câu chuyện, trẻ dễ tiếp thu, nội dung câu chuyện được trẻ ghi nhớ sâu đậm.
giờ kể chuyện sinh động. Trẻ thích thú, tích cực tham gia giờ học, trẻ không
mệt mỏi, căng thẳng, giảm tính thụ động . Ngoài ra, trẻ còn được tích hợp các
hoạt động khác như: làm quen với MTXQ, Toán, lễ giáo phù hợp với phương
pháp dạy học đổi mới hiện nay.
+ Đối với giáo viên Mầm non, việc ứng dụng phần mềm để thiết kế bài
dạy kể chuyện đã giúp giải phóng sức lao động cho các cô giáo. Giáo viên có
thể vừa kể chuyện vừa điều khiển chuột để xuất hiện từng trang slide mà vẫn
có thể bao quát trẻ. Trong quá trình dạy, giáo viên có thể cho trẻ nghe chuyện
đã ghi âm, nhờ đó mà giáo viên được giảm tải công việc, đỡ mệt hơn.
Với trẻ mầm non:
+ Trong dạy học nói chung, dạy học mầm non nói riêng, tính trực quan
trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả
bài học cả về giáo dưỡng, giáo dục và phát triển học sinh. Các ứng dụng của
CNTT ở góc độ này, nhất là công nghệ Multimedia được xem là phương tiện
kĩ thuật dạy học có nhiều ưu thế trong việc đem lại những hình ảnh trực quan
trong dạy học ở trường mầm non. Ngày nay, nhờ sự phát triển không ngừng
của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin đã đến rất gần với các em, trẻ
8
được tiếp xúc nhiều hơn với phim ảnh, với nhiều hình ảnh sống động, hấp dẫn
đã thực sự cuốn hút trẻ. vì vậy những câu chuyện nếu chỉ được kể cho trẻ
nghe cùng với sự minh hoạ bằng tranh ảnh đơn thuần như chúng ta vẫn thường
làm thì sẽ không gây được nhiều hứng thú cho trẻ, không phát huy hết được khả
năng tư duy cũng như tính tích cực hoạt động của trẻ trong các giờ kể chuyện.
CNTT trong lĩnh vực này đã phát huy rất tốt những thế mạnh của mình.
+ Các câu chuyện do giáo viên thiết kế trên phần mềm có nhiều hình

+ Việc trẻ mầm non thường xuyên được tiếp xúc với những tác phẩm văn
học được thiết kế từ phần mềm sẽ giúp trẻ phát triển một cách toàn diện trong
quá trình học tập. Chẳng hạn, khi dạy trẻ một bài thơ, câu truyện về thế giới
các loài hoa, thế giới loài vật …nhằm giúp trẻ, hình dung, tưởng tượng được
các loại hoa nở thế nào, cây sinh trưởng và phát triển ra sao; rừng vàng, biển
bạc với các con vật, tôm cá sinh sống thế nào…giáo viên xây dựng những
những tranh vẽ, xây dựng phim hoạt hình sống động, những băng hình video
sinh động trên phần mềm Power point. Khi trình chiếu các trang slide màu sắc
đẹp với các hiệu ứng linh hoạt, hình ảnh động cùng nhạc nền, những bài hát
liên quan đến nội dung chuyện hay và phù hợp, kết hợp với lời giảng của cô,
trẻ nhỏ sẽ thấy rõ thế giới tươi đẹp và rộng lớn quanh trẻ. Như vậy, thông qua
tri giác về màu sắc, âm thanh, hành động, cùng một lúc các em được phát
triển đầy đủ tư duy lôgic, so sánh, tưởng tượng, nhận xét,…và óc quan sát
kênh hình. Thông qua các câu truyện hình thành cho trẻ lòng yêu thiên nhiên,
Tổ quốc, tình yêu thương con người rộng lớn. Hình thành và phát triển thói
quen tốt trong sinh hoạt tập thể đó là tính tổ chức kỷ luật tự chủ mạnh dạn
trước mọi người
Với năm công nghệ thông tin, việc đưa phương tiện hiện đại vào giảng
dạy để góp phần tạo ra môi trường sư phạm tốt, phát huy vai trò độc lập của
trẻ và đi đúng đường lối hiện đại hoá giáo dục,tạo cho trẻ một tâm thế háo
hức chờ đợi như được xem một bộ phim hay. Đó cũng là thành công không
nhỏ đối với những người làm công tác giáo dục.
1.3. Đặc điểm tâm lý trẻ 5 - 6 tuổi với việc ứng dụng công nghệ thông tin.
1.3.1. Đặc điểm phát triển nhận thức
Sự phát triển nhận thức ở trẻ MG 5 – 6 tuổi về cơ bản nối tiếp sự phát
triển ở các giai đoạn trước nhưng có sự phong phú, đa dạng hơn. Hoạt động
cảm tính (cảm giác, tri giác) ở trẻ đã chính xác hơn, trẻ phân biệt các đối
tượng nhanh hơn nhờ sự phát triển của các giác quan.
Ham muốn tìm tòi, khám phá là đặc điểm rõ nét trong sự phát triển
nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi. Trẻ rất say mê tìm hiểu, khám phá và luôn có

kinh nghiệm phong phú. Cùng với sự phát triển của tư duy, vốn sống kinh
nghiệm của trẻ 5 – 6 tuổi ngày càng tăng, trí tưởng tượng có những bước phát
triển rõ rệt. Vì vậy, sử dụng một số phần mềm thiết kế câu chuyện sẽ giúp trẻ
được quan sát, tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng, mở rộng kinh nghiệm, tạo
điều kiện cho sự phát triển trí tưởng tượng phong phú.
5 – 6 tuổi là giai đoạn ở trẻ có những biến đổi quan trọng trong sự phát
triển nhận thức, là lứa tuổi trẻ chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý
tính, từ giai đoạn tiền thao tác sang giai đoạn thao tác lôgic hình thức, từ hoạt
động vui chơi sang hoạt động học tập. Vì thế, các tác động sư phạm đến lứa
tuổi này có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ.
11
1.3.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ
Cùng với sự phát triển của hệ thần kinh, sự hoàn thiện dần của bộ máy
phát âm , ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi có bước tiến đáng kể. Kết
quả hoạt động nhận thức được phản ánh vào ngôn ngữ, giúp cho ngôn ngữ
của trẻ ngày càng đa dạng và tham gia nhiều hơn vào quá trình nhận thức với
vai trò tổ chức, định hướng, điều chỉnh. Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ phản ánh
các sự vật, hiện tượng đầy đủ, phong phú, chính xác hơn về màu sắc, mùi vị,
hình dạng, kích thước,…Trẻ có thể thiết lập mối liên kết đa dạng giữa các sự
vật và hiện tượng. Mối quan hệ này và sự liên kết bên trong của ngôn ngữ
giúp trẻ tích cực nắm bắt các hình thức ngữ pháp của ngôn ngữ. Ngoài ra, việc
mở rộng các mối quan hệ xã hội đã giúp trẻ tri giác đầy đủ và đúng một số âm
thanh trong môi trường gần gũi xung quanh. Do vậy, trẻ có thể phát âm
chính xác các từ, có thể phân biệt được các loại âm gần giống nhau trong
môi trường xung quanh gần gũi với trẻ. Sự tiến bộ của trẻ còn thể hiện ở
khả năng phát âm hoàn thiện hơn các phụ âm đầu, âm chính, thể hiện ở khả
năng nghe – hiểu và khả năng biểu đạt. Khả năng nghe của trẻ mẫu giáo 5 –
6 đã phát triển vượt bậc so với các độ tuổi trước đó, thể hiện ở việc trẻ đã
có khả năng tập trung chú ý đến lời nói, hiểu được lời nói của người khác
và biết cách làm theo chỉ dẫn một cách chính xác đồng thời trẻ cũng trở nên

động thô, cuối tuổi mẫu giáo, kỹ năng vận động tinh đòi hỏi sự khéo léo của
trẻ đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc điều khiển, kiểm soát cử
động của bàn tay, ngón tay và khả năng phối hợp tay - mắt chính xác . Trẻ có
thể thực hiện các vận động tinh khéo, có kỹ năng thực hiện tốt một số công
việc tự phục vụ và biết cầm bút để vẽ hay tô chữ, điều khiển con chuột máy
tính, xếp chồng nhiều khối, đặt các khối nhỏ vào đúng chỗ. Tuy nhiên, do sự
kiểm soát của não và sự phối hợp tay – mắt còn nhiều hạn chế nên trẻ 5 – 6
tuổi còn gặp những khó khăn trong việc điều khiển các cơ nhỏ khi thực hiện
những vận động đòi hỏi sự chính xác. Chính vì vậy, vẫn phải có sự trợ giúp
của GV trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen phần mềm thiết kế câu
chuyện.
1.3.4. Đặc điểm phát triển xúc cảm, tình cảm và kĩ năng xã hội
Đời sống tình cảm của trẻ 5-6 tuổi có những bước chuyển biến mạnh
mẽ, vừa phong phú, vừa sâu sắc. Trẻ trải nghiệm nhiều trạng thái cảm xúc,
tình cảm, hướng tình cảm của mình đến nhiều đối tượng khác nhau. Trẻ luôn
thèm khát sự yêu thương, trừu mến của cha mẹ, dễ tủi thân nếu không được
quan tâm. Trẻ cũng bộc lộ tình cảm của mình mạnh mẽ và rõ ràng hơn đối với
mọi người, luôn tỏ ra thông cảm, an ủi người khác. Xúc cảm, tình cảm của trẻ
thể hiện rõ nét trong việc trẻ được giao tiếp với những người gần gũi với
những thứ trẻ yêu thích như các câu chuyện yêu thích, các hình ảnh ngộ
nghĩnh đáng yêu trên các phương tiện thông tin
Sự hoàn thiện dần chức năng của vỏ não đặc biệt là của hệ thống tín
hiệu thứ hai (ngôn ngữ) giúp cho đời sống xúc cảm, tình cảm của trẻ 5 – 6
tuổi ổn định hơn. Trẻ có nhu cầu lớn trong việc cảm nhận và biểu lộ xúc cảm,
13
tình cảm với những người gần gũi xung quanh. Bước đầu trẻ cảm nhận được
những sắc thái tình cảm của mọi người thông qua các tín hiệu ngôn ngữ và
phi ngôn : điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt…Tâm tư tình cảm của trẻ đều
được biểu hiện trên khuôn mặt, dễ xúc động, dễ khóc, dễ cười, tuy nhiên rồi
những cảm xúc đó cũng nhanh chóng qua đi. Vì vậy trong quá trình giáo dục

những nhược điểm về giọng kể và ở một khía cạnh nào đó nó có thể thay thế
14

Trích đoạn Phù hợp với phương pháp giáo dục mầm non Quy trình thiết kế câu chuyện từ phần mềm dạy học Thiết kế câu chuyện:(ví dụ minh họa) Đối với hoạt động góc và hoạt động chiều Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status