Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo
lớn làm quen chữ viết
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Dạy trẻ làm quen với chữ viết là một trong những nội dung quan trọng cho
trẻ mẫu giáo lớn. Đối với trẻ mẫu giáo lớn, làm quen với chữ viết giúp trẻ bước
đầu nhận biết được các chữ cái và phát âm chuẩn các chữ cái trong các từ trọn vẹn,
phát triển ở trẻ khả năng quan sát, so sánh và phát triển ngôn ngữ khi trẻ đã thuộc
và phát âm chuẩn các chữ cái thì trẻ sẽ dễ dàng làm quen với cách tô và viết chữ
để chuẩn bị vào lớp 1. Ngoài ra việc cho trẻ làm quen với chữ viết còn phát triển
tư duy trực quan hành động, tư duy trực quan hình tượng và đặc biệt là phát triển
ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ. Khi trẻ làm quen với chữ viết, các cơ ngón tay, cơ bàn
tay của trẻ phải hoạt động nhiều hơn, qua đó cũng phát triển cơ thể trẻ.
Trên thực tế, việc dạy trẻ làm quen với chữ viết ở trường tôi còn bị hạn chế
do thiếu đồ dùng sáng tạo, do khả năng của giáo viên còn hạn chế nên chưa kích
thích được trẻ thích thú khi học. Chuyên đề Làm quen văn học - chữ viết đã được
Sở giáo dục và Đào tạo chỉ đạo thực hiện trong nhiều năm qua đã chỉ rõ được tầm
quan trọng của chữ viết với trẻ. Trên cơ sở thực tiễn của lớp và qua những kinh
nghiệm đã tích luỹ được trong các măm dạy trẻ mẫu giáo lớn, tôi đã mạnh dạn
chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy trẻ mẫu giáo lớn
làm quen với chữ viết” với mục đích đem đến cho trẻ những giờ làm quen với chữ
viết thật hấp dẫn và phong phú. Tôi mong rằng, những kinh nghiệm của tôi sẽ đạt
được kết quả cao trên trẻ và góp phần góp giáo viên thực hiện tốt chuyên đề cho
trẻ làm quen chữ viết.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Đặc điểm tình hình
Trường mầm non Mai Dịch đi vào hoạt động được 5 học kì. Trường có 10
lớp trong đó có 4 lớp Mẫu giáo lớn với số cháu 210 trẻ, Nhà trường luôn quan tâm
đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Bản thân tôi được phân công dạy lớp mẫu
giáo lớn số 9 với 54 trẻ. Trong quá trình thực hiện đề tài nàylớp, tôi đã gặp những
thuận lợi, khó khăn sau:
Dựa vào đặc điểm tình hình lớp, đặc điểm tâm lý nhận thức của lứa tuổi, tôi
mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy trẻ mẫu giáo lớn
làm quen chữ viết
2.1 Khảo sát kỹ năng nghe – nói - đọc - viết của trẻ
- Đây là bước đầu tiên nhằm xác định tình trạng của trẻ để giáo viên nắm
được kỹ năng nghe, nói, đọc viết của trẻ để từ đó có biện pháp thay đổi phù hợp
- Ngay từ đầu năm học, chúng tôi đã tiến hành khảo sát trẻ và thông qua các
bài tập để từ đó giáo viên đánh giá và có sự tác động đúng với từng trẻ.
- Công việc khảo sát trẻ, chúng tôi thường thực hiện vào tháng 10. Quá
trình khảo sát qua các hoạt động chung (kể chuyện, đọc thơ, hát, múa,…) và qua
các hoạt động hàng ngày (hoạt động góc, hoạt động chiều, …) để từ đó đánh giá
từng trẻ theo các kỹ năng.
+ Kĩ năng nghe: Trẻ nghe được các âm thanh, ngữ điệu, giọng nói khác
nhau. Độ to, nhỏ, nhanh, chậm của giọng nói, giọng đọc, các từ khái quát, từ trái
nghĩa. Nghe hiểu nội dung các câu đơn, câu ghép. Nghe hiểu thơ, ca dao, đồng dao,
tục ngũ phù hợp với trẻ. Nghe và làm theo từ 2 lời chỉ dẫn liên tiếp nhau trở lên…
+ Kỹ năng nói: Trẻ có nói lắp, nói ngọng không? Trẻ có nói đủ câu, nói có
mạch lạc không? Trẻ biết bày tỏ tình cảm, nhu cầu và kinh nghiệm của bản thẩn rõ
ràng, dễ hiểu bằng các câu đơn, câu ghép khác nhau. Biết trả lời các câu hỏi về
nguyên nhân, so sánh: Tại sao? Có gì giống nhau? Có gì khác nhau? Do đâu mà
có? Đặt các câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Làm gì? Sử dụng các từ biểu cảm, có
hình ảnh. Tự tin khi giao tiếp. Nói và thể hiện, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp
với yêu cầu, hoàn cảnh giao tiếp. Đọc thơ, ca dao, đồng dao. Kể lại sự việc một
cách mạch lạc, rõ ràng, diễn cảm. Kể lại truyện đã được nghe một cách rõ ràng,
diễn cảm. Kể chuyện sáng tạo theo đồ vật, theo tranh, theo chủ đề, theo kinh
nghiệm bản thân.
+ Kỹ năng đọc: trẻ có biết cách giở sách, có biết đọc từ trái sang phải, từ
trên xuống dưới? Có biết kể lại chuyện không? Có biết đọc thuộc bài thơ không?
Tư thế ngồi đọc ngay ngắn, đọc ngắt nghỉ sau các dấu; phân biệt phần mở đầu, kết
thúc của sách; đọc truyện qua các tranh vẽ; giữ gìn, bảo quản sách cẩn thận.
không nói lắp,
ngọng.…Bày tỏ tình
cảm, nhu cầu, kinh
nghiệm bản thân rõ ràng,
13/54
24,1%
15/54
27,8%
15/54
27,8
11/54
20,3%
dễ hiểu. Trả lời các câu
hỏi về nguyên nhân, so
sánh. Sử dụng các từ
biểu cảm, có hình ảnh.
Tự tin giao tiếp. Kể lại
sự việc 1 cách mạch lạc.
Đọc tho, ca dao…
Kỹ năng đọc: biết
cách giở sách, đọc từ trái
sang phải, từ trên xuống
dưới…”Đọc” sách qua
các tranh vẽ. Phân biệt
phần mở đầu, kết thúc
của sách.
11/54
20,3%
19/54
sau:
-Góc xây dựng: cho trẻ làm các con vật và ghi tên các con vật để khi
trẻ xây dựng, trẻ sẽ xếp được các nhóm con vật theo nhóm và giới thiệu các
sản phẩm do mình làm ra.
-Góc học tập:
+ Cho trẻ vẽ tranh dán theo các câu chuyện.
+ Cho trẻ in chữ và tô màu xếp theo chữ mẫu, tên các con vật v.v
+ Trang trí tranh to và cho trẻ kể chuyện theo tranh.
+ Làm lịch hàng ngày
Ví dụ: Ở chủ điểm Thế giới thực vật:
+ Tôi cho trẻ viết chữ, xếp chữ hoặc gài chữ theo mẫu dưới các hình
ảnh và chữ mẫu của cô về các loại quả, cây, rau, hoa…
+ Cho trẻ tô chữ còn thiếu trong từ, sau đó nối với với từ dưới các
hình ảnh có sẵn hoặc nối chữ cái theo yêu cầu có trong từ dưới hình ảnh có
sẵn với các chữ cái in đậm
- Góc thiên nhiên: Các loại cây, tôi đều gắn tên để cho trẻ có thể ghép chữ
xem đây là cây gì.
-Trên các mảng tường, tôi có thể trang trí nhiều hình ảnh phù hợp
với chủ điểm và mỗi hình ảnh đều gắn tên gọi.
2.3Dạy trẻ làm quen với chữ viết ở mọi lúc, mọi nơi.
Với mong muốn nhằm nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen chữ viết,
tôi luôn cố gắng tranh thủ các hoạt động trong ngày để cho trẻ làm quen chữ
viết một cách hợp lí:
+ Giờ đón, trả trẻ: có thể gắn ảnh có tên của trẻ, cho trẻ gắn thứ ngày
tháng…xem tranh ảnh, đọc đồng dao.
+ Giờ hoạt động chung: Với tất cả các môn học khác, nếu có thể tôi đều
lồng ghép thêm các chữ cái.
+ Giờ hoạt động góc: các góc chơi đều có môi trường chữ cho trẻ tự tìm
hiểu như làm các bài tập gắn, đính , viết và gài chữ theo mẫu v.v…
+ Giờ hoạt động ngoài trời: cho trẻ xếp sỏi, hột, hạt thành các chữ.
được chữ cái, cấu tạo chữ, cách tô chữ…
+ Biện pháp giải quyết: Với những trẻ hiếu động, tôi thường hay cho trẻ
tham gia vào các hoạt động tĩnh nhưng có giới hạn thời gian, giờ học chú ý đến trẻ
hơn, hay gọi trẻ phát biểu, dùng nhiều hình thức hấp dẫn thu hút sự chú ý của trẻ.
+ Kết quả thu được: Sau một thời gian tôi thấy trẻ ít nghịch đi và ham học
hơn, thích giúp đỡ bạn, thích tham gia vào các trò chơi học tập, nhớ được các chữ
cái, tô chữ đúng quy trình
2.5 Dạy trẻ làm quen với chữ viết bằng các trò chơi
Như chúng ta đã biết, trẻ mầm non “Học bằng chơi, chơi mà học”. Muốn
trẻ hiểu bài nhanh và nhớ lâu, nếu chúng được trực tiếp tham gia vào các hoạt
động. Tôi đã sưu tầm, sáng tác được một số trò chơi khi cho trẻ làm quen với chữ
viết để trẻ tăng hứng thú, cung cấp, củng cố kiến thức kĩ năng.
Ví dụ: Trò chơi giúp trẻ ghi nhớ các chữ đã học như:
+ Trò chơi: Đoán chữ:
Cách chơi: Trẻ nhắm mắt, cô lấy tay viết chữ lên tay trẻ. Cho trẻ đoán chữ
gì.
+ Trò chơi: Cho trẻ dùng các bộ phận trên cơ thể mình tạo chữ vừa học
+ Trò chơi: Xếp chữ (gài chữ, viết chữ) thành các từ theo mẫu:
Chuẩn bị: Cô có các bức tranh, dưới tranh có từ chỉ hình ảnh đó
Cách chơi: Trẻ xếp các chữ cái rời thành từ giống mẫu có sẵn.
Luật chơi: Trong thời gian 1 bản nhạc, trẻ nào xếp (gài, viết) nhanh nhất là
người chiến thắng.
+ Trò chơi: Gạch chân chữ cái đã học.
Chuẩn bị: Các hình ảnh và từ dưới tranh.
Cách chơi: Có 2 – 3 đội chơi, mỗi đỗi sẽ gạch chân dưới các chữ cái đã học
theo yêu cầu của cô trong từ dưới tranh.
Luật chơi: Trong thời gian 1 bản nhạc, đội nào gạch được nhiễu chữ cái
đúng theo yêu cầu của cô là đội chiến thắng.
+ Vẽhình ảnh có chữ đã học
Cách chơi: Cho trẻ tìm các chữ cái đã học có trong từ chỉ tên các loại rau,
- Giới thiệu các loại sách vở có tính giáo dục tới phụ huynh.
- Trao đổi một số nhược điểm của trẻ về cách phát âm, nhận mặt chữ, cách
tô, cầm bút, để vở…để phụ huynh nắm được. Sau khi sử dụng các biện pháp tuyên
truyền tới phụ huynh, phụ huynh đã hiểu bản chất, tác dụng của vấn đề dạy trẻ,
nắm bắt được phương pháp dạy trẻ. Từ đó phụ huynh luôn luôn kết hợp chặt chẽ
với giáo viên để dạy trẻ.
3. Kết quả chung
Với những biện pháp trên, sau học kỳ I tôi thấy trẻ lớp tôi tiến bộ rõ rệt, cụ
thể là:
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2
N
ội dung
T
ốt
K
há
T
B
Y
người
khác
nói.
Nghe,
làm
theo từ
2lời
chỉ dẫn
liên
tiếp
nhau
trở lên.
Nghe
hiểu
nội
dung
thơ,
truyện.
Biết
liên hệ
với bản
thân.
2
5,9%
3
7 %
2
9,6%
7
,5%
4
/54
7
0ràng,
đủ câu,
không
nói lắp,
ngọng.
Bày tỏ
tình
cảm,
nhu
cầu,
kinh
nghiệm
bản
thân rõ
ràng,
dễ
hiểu.
Trả lời
các câu
hỏi về
nguyên
nhân,
so
sánh.
từ trên
xuống
dưới. ”
Đọc”
sách
1
1/54
2
0,3%
1
9/54
3
5,1%
1
6/54
2
9,6%
8
/54
1
5%
2
4/54
4
4,5%
2
0/54
3
7%
1
vở, tô
chữ
đúng
quy
trình
9
/54
1
6,2%
1
7/54
3
2%
1
8/54
3
3,3%
1
0/54
1
8,5%
2
6/54
4
8,2%
2
1/54
3
8,9%
Nhìn những trẻ đang dần lớn lên trong vòng tay của mình, sự hồn nhiên,
ngây thơ, đáng yêu của chúng luôn là nguồn động viên để tìm tòi, sáng tạo trong
quá trình dạy học để cho trẻ hứng thú, thích học và một phần tích luỹ kiến thức
bước đầu về một cách đọc - viết chuẩn bị tâm thế vững chắc cho trẻ vào lớp 1.