LỜI MỞ ĐẦU
Tài sản cố định là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong quá trình sản
xuất kinh doanh của các tổ chức và cá nhân, với tỷ trọng … trong cơ cấu tài sản tại
doanh nghiệp. Chúng tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh với vai trò là yếu tố
cấu thành không thể thiếu trong giá trị sản phẩm, dịch vụ được tạo ra. Vì vậy, việc quản
lý TSCĐ luôn giữ vai trò hết sức quan trọng và rất chi tiết, cụ thể. Trên thực tế, DN nào
quản lý có hiệu quả TSCĐ, DN đó đã thành công một nửa.
Chính vì vậy, nhiệm vụ của kế toán TSCĐ là phải luôn hạch toán chính xác các
nghiệp vụ tăng giảm, khấu hao TSCĐ; để có thể theo dõi phù hợp cả về mặt định lượng
và cả về các thông tin phục vụ cho việc quản lý và bảo toàn.
Xuất phát từ những nhận định trên, trong quá trình thực tập tại Công ty Toyota Việt
Nam, em đặc biệt quan tâm đến công tác kế toán tài sản cố định và đi sâu nghiên cứu
về đề tài: Kế toán TSCĐ và vai trò của công tác kế toán TSCĐ nhằm tăng cường
quản lý TSCĐ tại Công ty Toyota Việt Nam, dựa trên tình hình kế toán TSCĐ thực
tế tại công ty.
Là một doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô, nên tổng giá trị TSCĐ ở Công ty Toyota
Việt Nam là rất lớn, không chỉ là giá trị tuyệt đối mà còn lớn về giá trị tương đối so với
tổng giá trị Tài Sản. Mặt khác, các loại TSCĐ lại rất phong phú về chủng loại, sử dụng
ở nhiều phòng ban, phân xưởng khác nhau; điều kiện sản xuất phức tạp và có nhiều
trường hợp có sự gắn kết hai hay nhiều loại tài sản với nhau trong sản xuất. Chính vì
vậy, công tác quản lý TSCĐ tại công ty là rất khó khăn phức tạp, đòi hỏi kế toán TSCĐ
phải luôn phối hợp chặt chẽ với các phòng ban, phân xưởng sản xuất; và có một hệ
thống chặt chẽ về thủ tục quản lý và sổ sách chứng từ để có thể hạch toán chính xác,
kịp thời, đúng bản chất các biến động về TSCĐ, góp phần cung cấp những thông tin
hữu ích nhằm tăng hiệu quả quản lý TSCĐ.
Sau đây là những nghiên cứu chi tiết của em về vấn đề này tại Công ty Toyota Việt
Nam.1
PHẦN I: ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ CÔNG TY TOYOTA VÀ
2
Minh và Hà Nội; đồng thời khai trương Tổng kho phụ tùng và Nhà máy chính tại
Mê Linh. Cũng trong thời gian này, Công ty cho ra mắt dòng xe Corolla, Hiace
và Camry đời mới.
Trong năm 1999, Toyota Việt Nam đã đầu tư xây dựng một hệ thống bảo vệ môi trường với các
thiết bị xử lý nước hoàn chỉnh, sử dụng các công nghệ tiên tiến để lọc nước thải một
cách hiệu quả trước khi xả ra ngoài. Nhờ đó, công ty đã được nhận chứng chỉ
ISO14001 về môi trường. Cũng trong năm này, TMV đã tung ra thị trường một loại xe
mới: Zace.
Tháng 9 năm 2000, Công ty đã mở rộng trung tâm đào tạo với xưởng sửa chữa
thân vỏ và sơn. Ngoài ra, nhân kỷ niệm 5 năm thành lập, công ty lại cho ra mắt 2
mẫu xe mới: Land-cruiser và Camry V6 Grande.
Từ năm 2000 trở đi, hầu như năm nào công ty cũng nghiên cứu tung ra ít nhất một mẫu xe đời mới. Thị
trường tiêu thụ xe liên tục được mở rộng. Thị phần của Toyota ở Việt Nam liên tục tăng và luôn giữ vị trí
dẫn đầu tại Việt Nam. Đến năm 2005, Các sản phẩm của Toyota chiếm 34.7% trên thị trường xe ô tô Việt
Nam, đạt doanh số xe bán là 5602 xe trong 6 tháng đầu năm, đạt thành tích bán 50000 xe kể từ khi bắt
đầu hoạt động.
Đến năm 2006, trong khi phân nửa các hãng ôtô trong nước giảm sút doanh số so
với năm 2005 thì Toyota Việt Nam vẫn đạt được con số tăng trưởng đến 25%, từ
11.813 xe bán ra trong năm 2005 lên con số kỷ lục 14.784 xe bán ra trong năm 2006,
nâng tổng doanh số kể từ khi thành lập lên 72.000 xe.
Tháng 1 năm 2006, Toyota đã tạo ra một bước đột phá mới bằng việc tung ra thị trường dòng xe
Innova mới, là một trong 5 loại xe thuộc Dự án xe đa dụng toàn cầu (IMV). Ngay khi vừa mới ra mắt, xe
Innova đã đạt kỷ lục bán 1000 chiếc trong một tháng, và kỷ lục 10000 chiếc trong tổng số 14784 xe được
tung ra trong năm 2006 đó.
Không chỉ có những bước đi tích cực trong hoạt động mở rộng thị phần, công ty cũng đã có nhiều nỗ
lực trong quá trình nội địa hoá sản xuất tại Việt Nam; đối với xe Innova, tỷ lệ này lên tới 45%. Hơn 10 năm
xây dựng và phát triển, TMV đã tích cực phát triển mạng lưới các nhà cung cấp phụ tùng trong nước của
Công ty Toyota Việt Nam (TMV) là công ty sản xuất lắp ráp và kinh doanh các loại
ôtô nhãn hiệu Toyota như COROLLA, HIACE, CAMRY, VIOS, INNOVA và cung
cấp dịch vụ sau bán hàng như sửa chữa, bảo dưỡng và cung cấp phụ tùng chính hiệu
Toyota rộng khắp trên lãnh thổ Việt Nam.
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hoạt động kinh doanh của công ty:
4
a. Sản phẩm chính_ô tô:
Tính đến năm 2007, Toyota Việt Nam đã lần lượt tung ra thị trường 7 loại xe mang
thương hiệu Toyota, trong đó công ty đã ngừng sản xuất xe Zace từ năm 2006, thay vào
đó là xe Innova.
Các sản phẩm của Toyota được phân cấp thị trường theo thu nhập, sở thích, lứa tuổi,
đối tượng hoặc để phục vụ cho các mục đích khác nhau như kinh doanh, thương mại,
hay phục vụ cho gia đình. Cụ thể như xe Innova là dòng xe đa dụng, có thể dùng trong
các doanh nghiệp để phục vụ cho công tác, kinh doanh hoặc có thể dùng cho nhu cầu
gia đình, với giá cả phải chăng, có thể chập nhận được đối với những đối tượng khách
hàng thu nhập không cao (xấp xỉ 28000-29000$). Hay xe Vios cũng dùng cho đối
tượng có thu nhập thấp (xấp xỉ 25 000$). Hoặc xe Camry_với kiểu dáng thiết kế sang
trọng, hiện đại và mạnh mẽ, với những tiện nghi công nghệ hàng đầu được coi là dòng
xe sedan hạng trung cao cấp, dành cho đối tượng có thu nhập cao, muốn khẳng định
đẳng cấp của bản thân (với mức giá từ 52000$ đến 65000$). Xe Hiace thì lại được sản
xuất với mục đích chuyên dùng cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Khác
với những dòng xe trên, xe Land Cruise lại chú trọng tính năng vận chuyển, dành cho
những người đứng đầu luôn đánh giá cao sức mạnh khả năng của bản thân và mọi
phương tiện có trong tay. Cuối cùng, Xe Corolla lại là loại xe kiểu dáng thể thao, dành
cho giới trẻ.
b. Dịch vụ sau bán hàng và cung cấp phụ tùng, phụ kiện chính hiệu:
Bên cạnh việc cung cấp ô tô, TMV còn cung cấp các dịch vụ sau bán hàng như sửa
kinh doanh thương mại của Toyota Việt Nam: công ty nhập phụ tùng từ các nhà sản
xuất trong nước, đặc biệt là các khu chế xuất, sau đó xuất khẩu các phụ tùng này sang
các công ty khác thuộc hệ thống Toyota đang sản xuất dòng xe đa dụng. Thị trường
xuất khẩu chủ yếu là 8 nước đang sản xuất xe đa dụng toàn cầu của Toyota gồm Thái
Lan, Indonesia, Philippin, Malaysia, Ấn Độ, Argentina, Nam Phi và Venezuêla. Trong
năm 2007, công ty còn dự kiến xuất khẩu sang Pakistan và Đài Loan. Theo kết quả
thống kê năm 2006, tổng giá trị xuất khẩu của Toyota đạt xấp xỉ 20 triệu USD, nâng
tổng giá trị xuất khẩu lên đến 45 triệu USD trong vòng 2 năm rưỡi. Sự kiện này đã góp
phần nâng cao vị thế của nền công nghiệp ô tô Việt Nam trên thị trường thế giới. Ta có
thể nhìn thấy sự phát triển đó thông qua biểu đồ:
Biểu đồ 1.1:6
1 .2.1.2.Phương pháp Sản Xuất :
Giống như tất cả các công ty thuộc Tập đoàn Toyota, Toyota Việt Nam đảm bảo các
tiêu chuẩn chất lượng cao nhất cho tất cả các sản phẩm do mình sản xuất và bán ra. Với
lịch sử trên 30 năm, "Hệ thống Sản xuất Toyota" là một hệ thống quản lý sản xuất do
Toyota tạo ra đã được nhiều công ty áp dụng ở các nước khác nhau trên toàn thế giới
nhằm tối ưu hóa năng suất và chất lượng.
Những đặc trưng của "Hệ thống sản xuất Toyota" gồm:
JIT (Just In Time - đúng lúc / kịp thời)
JIT là hệ thống nhằm giảm tối thiểu tính không hiệu quả với việc cung cấp chính xác
những chi tiết cần thiết cho mỗi công đoạn sản xuất.
JIDOKA
JIDOKA là một hệ thống sản xuất tự điều chỉnh nhằm duy trì chất lượng cao bằng cách
yêu cầu mỗi người công nhân là một giám sát viên trong khi thực hiện những nhiệm vụ
lắp ráp của họ.
KAIZEN
KAIZEN là triết lý "Cải tiến không ngừng" nhằm khuyến khích tất cả mọi thành viên
và vỏ thân xe rồi đưa sang xưởng Hàn, cùng những linh kiện lắp ráp khác để hàn các
chi tiết với nhau, tạo thành hình dáng khung thân xe; sau đó là Sơn các chi tiết, ở công Nguyên
vật liệu
chính (linh
kiện lắp
ráp)
DẬP
HÀN SƠN
LẮP
RÁP
HOÀN
CHỈNH
XE
Thép
Nguyên
Vật Liệu
Chính
(Sơn)
Các linh kiện,
phù tùng khác
(gồm linh kiện
nội địa hóa…)
8
đoạn này cũng nhập nguyên vật liệu chính là hàng sơn, cuối cùng chúng được đưa sang
bộ phận lắp ráp để lắp ráp thành chiếc xe hoàn chỉnh. Cuối cùng là công đoạn kiểm tra
chất lượng xe và chạy thử. Trước khi xe được xuất đem đi tiêu thụ sẽ được sơn lại và
kiểm tra chất lượng lại một lần nữa.
HOÀN
CHỈNH
XE
9
Như vậy, có thể khẳng định rằng, chính nhờ việc sử dụng những công nghệ tiên tiến
trong hoạt động sản xuất và bảo vệ môi trường đã giúp công ty khẳng định được vị trí
của mình như hiện nay.
1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty:
Công ty Toyota Việt Nam có trụ sở chính tại Phúc Yên, Vĩnh Phúc. Và 2 chi nhánh
là Toyota Kim Liên – Hà Nội và trong thành phố Hồ Chí Minh; ngoài ra công ty còn có
một kho phụ tùng tại Bình Dương. Các chi nhánh và kho này chỉ tiến hành các hoạt
động xúc tiến thương mại, lưu trữ hàng hóa và bán phụ tùng chính hãng, còn tất cả các
hoạt động khác là ở trụ sở chính. Toyota có một mạng lưới các nhà phân phối khắp cả
nước (16 Đại Lý); tuy nhiên, các nhà phân phối này là các pháp nhân độc lập, hoạt
động theo hình thức mua đứt, bán đoạn.
Toyota có hệ thống quản lý theo chức năng: một Tổng Giám Đốc là ông
N.Murakami (Nhật Bản) và một phó Tổng Giám Đốc là ông Quản Thắng (đến từ
VEAM); dưới đó có 3 Giám Đốc quản lý 5 bộ phận khác nhau của công ty.
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ mô tả bộ máy quản lý:
1.3.1. Bộ phận Sản Xuất:
Hoạt động chủ yếu của Toyota Việt Nam là sản xuất lắp ráp ô tô. Vì vậy, bộ phận
sản xuất là bộ phận có số lượng phòng ban lớn nhất và số nhân sự lớn nhất trong Công
Ty.Tổng Giám Đốc
Phó Tổng Giám
Đốc
Giám Đốc
Sản Xuất
• Dự án: đây là bộ phận đặc biệt,
chuyên thực hiện các dự án, nghiên cứu các mẫu xe mới; hoặc
nghiên cứu các ý tưởng cải tiến trong sản xuất (Kaizen); hoặc
nghiên cứu hệ thống sản xuất đặc trưng của Toyota.
- Phòng Hành Chính_Sản Xuất: có chức năng quản lý các hoạt động nhằm cải
thiện năng lực sản xuất của công nhân viên: đảm bảo sức khoẻ, an toàn và hoạt
động giáo dục đào tạo (dạy Tiếng Nhật, lái xe ô tô, tay nghề, các kỹ năng văn
phòng…).Tài chính Hành Chính
Kiểm toán
nội bộ
Sản Xuất Marketing
11
1.3.2. Bô phận Marketing:
Gồm 3 trưởng phòng, lãnh đạo ba lĩnh vực hoạt động khác nhau của phòng
Marketing: Dịch vụ sau bán hàng, Quảng cáo và Quản lý bán hàng.
Trong hoạt động Dịch vụ sau bán hàng gồm có các phòng:
- Tiếp thị sau bán hàng: gồm các nhóm tư vấn cho khách hàng, chăm sóc khách
hàng, tiếp xúc với khách hàng.
- Dịch vụ sửa chữa, tư vấn kỹ thuật, bảo hành và đào tạo kỹ thuật viên
- Quản lý bán hàng:
• Hoạt động quảng cáo.
• Các hoạt động nghiên cứu thị trường, nghiên cứư sản phẩm mới…
• Quản lý hoạt động bán hàng, lập kế hoạch bán hàng, định giá sản phẩm
- Hoạt động vận chuyển hàng hoá đem bán và các hoạt động hỗ trợ khác cho công
tác bán hàng.
Quản lý các hoạt động bán hàng bao gồm các công việc lập kế hoạch bán hàng,
nghiên cứu thị trường, nghiên cứu sản phẩm mới, định giá sản phẩm và (chi nhánh Hà
1.3.3.3. Kiểm toán nội bộ: có chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kế toán
của công ty, đảm bảo sự tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán.
1.4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và công tác kế toán:
1.4.1. Đặc điểm tổ chức Bộ máy kế toán:
Bộ máy kế toán của công ty là một phòng trong bộ phận Tài Chính của công ty, là
khu vực nòng cốt của bộ phận Tài Chính và có mối quan hệ mật thiết với các phòng các
trong bộ phận Tài Chính.
Bộ máy kế toán được tổ chức theo mô hình tập trung. Công ty có 2 chi nhánh và một
kho, nhưng ở các bộ phận này chỉ có kế toán tiền mặt. Để có thể quản lý như vậy được
là nhờ phần lớn các nghiệp vụ thanh toán đều được thực hiện qua Ngân Hàng, kể cả
việc thanh toán lương cho nhân viên. Thậm chí việc lưu trữ chứng từ cũng thực hiện ở
trụ sở chính, các chi nhánh và kho chỉ tiến hành hoạt động kinh doanh.
Các kế toán viên trong Phòng Kế toán được bố trí làm việc theo từng phần hành.
Trong mỗi phần hành, các công việc được phân công cụ thể cho từng người. Kết quả
làm việc luôn được kiểm tra lại 2 lần theo một chu trình chặt chẽ trước khi chúng được
phản ánh vào Sổ Nhật ký chung, Sổ Cái vào thời điểm cuối kỳ nhằm đảm bảo sẽ không
xảy ra bất cứ sai sót nào trong công tác hạch toán kế toán sau khi đã khoá sổ.13
1.4.2. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán:
Công tác kế toán được tổ chức theo một quy trình chặt chẽ, nhằm xây dựng một hệ
thống kiểm soát nội bộ vững mạnh, đảm bảo tính chính xác, đáng tin cậy trong các
thông tin kế toán.
Công ty áp dụng hệ thống sổ kế toán Nhật Ký chung, ứng dụng trên phần mềm trọn
gói Oracle, bao gồm 7 phần hành (Module) (xem sơ đồ trang sau):
- Module Tiền mặt
- Module Mua hàng
- Module phải trả
- Module Phải thu
Kế toán
tiền mặt
và
TGNH
Kế toán
tính
giá
thành
Trưởng Phòng Tài Chính
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
14
1.4.3. Các chính sách kế toán chung tại Toyota Việt Nam:
(dựa trên Thông tư số 2989 TC/CĐKT về chế độ kế toán tại công ty Toyota Việt Nam,
ngày 28 tháng 3 năm 2002, và các tài liệu bổ sung):
- Công ty thực hiện công tác kế toán theo Hệ thống Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt
Nam (ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, ngày 20 tháng 3 năm 2006), và Chứng từ Gốc
Nhập Dữ liệu
Module Phải trả
Module Phải thu
Tất cả các giao dịch liên
quan đến việc mua và
bán hàng, thu và chi tiền.
Sổ tiền mặt và TGNH
Module Mua
Hàng
Sơ đồ 1.5: Trình tự ghi sổ kế toán Công ty ô tô Toyota Việt Nam
Thực hiện trên ứng dụng Oracle
quản lý sử dụng và trích khấu hao TSCĐ (ban hành theo Quyết định số 206/2003/QĐ-
BTC. Mọi loại tài sản được xác định thời gian sử dụng và đăng ký khấu hao ngay từ khi
thành lập công ty.Module Phải trả
Module Phải thu
Tất cả các giao dịch liên
quan đến việc mua và
bán hàng, thu và chi tiền.
NHẬT KÝ CHUNG
CHUYỂN MODULE SỔ CÁI
Sổ Cái
Bảng Cân Đối số
phát sinh
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Sổ chi tiêt
Module Vật Liệu
Module TSCĐ
Giao dịch phát sinh hàng ngày, thường xuyên hoặc định kỳ kế toán
Đối chiếu
Giao dịch nội bộ giữa các Module
16
- Hoá đơn bán hàng phải sử dụng mẫu in sẵn do Bộ tài chính phát hành; mẫu hoá đơn
bán hàng tự in, phải đăng ký với Tổng cục Thuế và phải được Tổng cục Thuế chấp
thuận trước khi sử dụng.
1.4.4. Phần mềm kế toán sử dụng:
Công ty sử dụng phần mềm Oracle để vận hành hệ thống kế toán. Phần mềm Oracle
được xây dựng không chỉ phục vụ cho hoạt động kế toán mà cả hoạt động quản lý kế
toán và quản lý ngân sách.
sinh ở phòng ban nào, khu vực nào hoặc liên quan đến loại sản phẩm nào, nằm trong dự
án nào… (nếu có).
Thứ 3, trong Oracle, mỗi thao tác nghiệp vụ trong quy trình sản xuất kinh doanh đều
được ghi nhận bằng một bút toán hạch toán trên hệ thống. Cùng với quy trình nghiệp vụ
được chia thành nhiều công đoạn khác nhau, các nghiệp vụ kế toán cũng được chia
thành nhiều cặp bút toán khác nhau. Ví dụ, trong quy trình mua hàng, có bút toán nhận
hàng tương ứng với việc nhận hàng hoá vào kho; bút toán ghi nhận công nợ phải trả
tương ứng với việc chấp nhận chứng từ mua hàng; bút toán thanh toán tương ứng với
việc chấp nhận thanh toán...
Để quản lý các cặp bút toán liên quan trong cùng một nghiệp vụ như vậy, công ty có
sử dụng các tài khoản liên kết trong từng cặp bút toán và các quy tắc hạch toán ngầm
định để đảm bảo các cặp bút toán này thống nhất với nhau. Mặc dù đây là một điểm
khác biệt so với chế độ kế toán Việt Nam, nhưng trên góc độ kinh tế thì sự vận động
của tài sản và nguồn vốn trong các nghiệp vụ trên vẫn không có gì thay đổi, không làm
ảnh hưởng đến các báo cáo tài chính của công ty, và có thể dựa vào số dư của các tài
khoản này để kiểm tra quy trình tác nghiệp đã được thực hiện đầy đủ chưa.
Thứ 4, Oracle là một hệ thống phản ánh trung thực nhất các hoạt động kinh tế phát
sinh trong một tổ chức kinh tế, nó không cho phép người dùng xóa bất kỳ một bút toán
nào đã hạch toán vào hệ thống . Tất cả những gì mà người sử dụng có thể làm là thực
hiện bút toán đảo. Chính vì đặc điểm này, người sử dụng có thể cảm thấy ái ngại vì
mọi sai sót của họ đều bị kiểm soát. Tuy nhiên, cũng nhờ đặc điểm này, số liệu kế toán
do hệ thống cung cấp luôn có độ tin cậy cao đối với các cổ đông cũng như các đối tác
bên ngoài công ty. 0000. 00000000. 000. 0000. 01. 000000
Mã các
phòng
ban
Số Tài
Với cách quản lý theo lô như vậy, cộng với những quy định thống nhất trong khi
hạch toán, và việc phải xác định chính xác các thành phần của mã Tài khoản giúp kế
toán viên dễ dàng tìm kiếm, bổ sung các nghiệp vụ có liên quan; đồng thời tạo sự liên
kết chặt chẽ giữa các kế toán, giúp các kế toán cấp cao có thể kiểm tra, chỉnh sửa và
phê chuẩn được dễ dàng. Ngoài ra, phương thức hạch toán như vậy còn có tác dụng rất
lớn trong công tác hạch toán chi phí, giá thành vào thời điểm cuối kỳ, cũng như trong
công tác kế toán quản trị-giúp quản lý được các khoản chi phí phát sinh ở bộ phận nào,
vì sao, có phù hợp với lợi ích mà những khoản chi đó mang lại không…
Như vậy, việc sử dụng phần mềm Oracle đã góp phần quan trọng trong công tác hạch
toán kế toán tại công ty. Nó làm tăng tốc độ và hiệu quả làm việc của các kế toán viên,
đồng thời giảm đáng kể các sai sót xảy ra trong quá trình hạch toán một số lượng lớn
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Chính vì đặc điểm hạch toán KT đồng thời với thao tác nghiệp vụ nên hệ thống số liệu
KT trong Oracle luôn phản ánh kịp thời và trung thực các hoạt động sản xuất kinh
doanh ở từng khâu trên hệ thống.
Như vậy, trên hệ thống Oracle, Kế toán không những là nơi ghi nhận và cung cấp
thông tin, mà còn giữ vai trò kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các số
liệu mà hệ thống phản ánh.
1.4.5. Hệ thống sổ sách:19
- Sổ Tổng Hợp: Sổ Nhật ký Chung, Sổ nhật ký đặc biệt, Sổ Cái các Tài Khoản
- Sổ, thẻ Kế Toán Chi tiết: Sổ TSCĐ, Thẻ TSCĐ, Kho;
Sổ Chi Tiết Vật tư, Sản Phẩm;
Sổ Chi Phí sản xuất;
Bảng Tổng hợp giá thành sản phẩm, dịch vụ;
Sổ chi tiết Tạm ứng, Tiền mặt, TGNH,
Sổ chi tiết Thanh toán với Nhà cung cấp, Thanh toán với Khách Hàng
Sổ chi tiết thanh toán với nội bộ, thanh toán với Nhà Nước
ngoại trừ hoạt động chính là sản xuất ô tô. Các hoạt động này cũng cần sử dụng một số
TSCĐ tuy nhiên chúng được diễn ra hầu hết ở các chi nhánh và đôi khi có sự thay đổi
mục đích sử dụng TSCĐ do có sự chuyển giao tài sản giữa những mảng kinh doanh
khác nhau của công ty, vậy nên công tác kế toán TSCĐ cũng gặp thêm khó khăn.
1.5.2. Ảnh hưởng của đặc điểm tổ chức quản lý:
Hầu hết các TSCĐ của công ty là mua từ những công ty nằm trong hệ thống Tập
Đoàn Toyota. Tuy nhiên, công ty Toyota Việt Nam là một pháp nhân hoàn toàn độc lập
với những công ty khác của Tập Đoàn Toyota Nhật Bản, vì vậy việc hạch toán các
nghiệp vụ tăng TSCĐ hoàn toàn được ghi nhận như đối với các đối tác bên ngoài.
Theo sơ đồ, bộ máy quản lý của công ty chia làm 3 mảng chính: Sản xuất,
Marketing, Hành chính-Tài Chính-Kiểm soát nội bộ. Trong mỗi bộ phận lại có nhiều
phòng ban, làm các nhiệm vụ khác nhau. Quy mô công ty lớn nên các hoạt động phát
sinh nhiều không chỉ về số lượng mà còn rất đa dạng; do đó dẫn đến hệ thống phòng
ban khá phức tạp. Vậy nên ngoài hệ thống tài khoản kế toán, bộ máy kế toán của công
ty còn sử dụng một hệ thống mã số theo phòng ban, mỗi khi định khoản, kế toán viên
đồng thời cũng phải xác định và phản ánh nơi phát sinh nghiệp vụ đó vào hệ thống để
dễ dàng theo dõi, quản lý các khoản chi phí phát sinh. Đối với phần hành TSCĐ nói
riêng, kế toán riêng phải có những thông tin liên quan đến TSCĐ không chỉ giá trị của
chúng, thời gian sử dụng, mà còn phải biết cụ thể nơi sử dụng, mục đích sử dụng và cập
nhật liên tục những thay đổi phát sinh trong quá trình sử dụng tài sản, để có thể phản
ánh một cách chính xác bản chất của khoản chi phí khấu hao phát sinh hàng kỳ. Và hệ
thống Mã phòng ban chính là để hỗ trợ kế toán hạch toán chính xác các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh và tăng hiệu quả trong công tác tính khấu hao hàng kỳ.
Là một công ty có quy mô lớn, số lượng TSCĐ nhiều nên để công tác kế toán TSC
được thực hiện một cách hiệu quả, chính xác nhất, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa kế
toán TSCĐ, phòng mua hàng, nơi đặt mua và nơi sử dụng TSCĐ. Kế toán TSCĐ luôn
phải biết rõ một TSCĐ mua như thế nào, ai đặt mua và dùng để làm gì, có dùng để
ghép với một TS nào khác không…Có như vậy mới đảm bảo việc hạch toán được
chính xác, đúng bản chất của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
sẽ là nhiệm vụ của Kế toán phần hành TSCĐ.
Ngoài ra, hệ thống Oracle có cấu trúc hệ thống tài khoản rất linh hoạt với
nhiều chiều thông tin, chúng đáp ứng được mọi yêu cầu về phân tích và quản lý tài
chính của một doanh nghiệp, nhất là với quy mô lớn như Công ty Toyota Việt Nam. 22
Nhờ hệ thống này mà việc quản lý doanh thu và chi phí theo từng phòng ban sẽ thực
hiện đơn giản bằng cách thêm thông tin về phòng ban vào hệ thống tài khoản. Cuối kỳ,
ta chỉ cần sử dụng các báo cáo về số dư tài khoản để xem tất cả các số liệu KT phát
sinh ở một phòng ban bất kỳ. Để làm được điều đó, các kế toán khi hạch toán phải đảm
bảo định khoản chính xác phòng ban phát sinh chi phí. Đối với kế toán TSCĐ nói riêng,
điều này lại càng quan trọng bởi chi phí khấu hao hàng kỳ bao giờ cũng lớn, vì vậy kế
toán TSCĐ phải luôn nắm được tình hình sử dụng thực tế của các TSCĐ.
PHẦN II: THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TSCĐ TẠI
CÔNG TY TOYOTA VIỆT NAM:
2.1. Đặc điểm TSCĐ và chính sách quản lý TSCĐ:
2.1.1. Đặc điểm TSCĐ tại công ty Toyota Việt Nam:
Ta có Bảng tổng kết tình hình tài sản cố định tại công ty vào cuối tháng 3 năm 2007
như sau:
Bảng 2.1: Bảng tổng kết tình hình TSCĐ (30/3/2007)
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán thử ngày 30/3/2007)
(Tổng Tài Sản: khoảng 2000 tỷ VND)
Loại TSCĐ NG TSCĐ/Tổng TS GTCL/Tổng TSCĐ GTCL/Tổng TS
Nhà cửa 4.65 % 5.89 % 2.18 %
Vật kiến trúc 2.53 % 3.46 % 1.28 %
Máy móc và Thiết bị 12.91 % 9.09 % 3.37 %
Ôtô và Xe cộ 1.31 % 1.66 % 0.62 %
Thiết bị, dụng cụ quản lý 8.26 % 11.83 % 4.38 %
Quyền sử dụng đất 4.76 % 9.13 % 3.38 %
kỳ.
Như vậy, các TSCĐ của Công ty Toyota có đặc điểm là giá trị và số lượng đều lớn
nên công tác kế toán TSCĐ gặp rất nhiều khó khăn, cần có những phương pháp quản lý
tài sản hợp lý, cùng sự theo dõi chặt chẽ hệ thống TSCĐ trên sổ sách cũng như trên
thực tế.
2.1.2. Phân loại TSCĐ:
Nguyên tắc phân loại TSCĐ tại công ty Toyota Việt Nam là căn cứ vào tính chất của
TSCĐ. Các TSCĐ được phân làm hai loại:
- Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh
- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh, quốc phòng (hay có
nguồn hình thành từ quỹ phúc lợi).
Các TSCĐ thuộc loại thứ 2, doanh nghiệp chỉ theo dõi, quản lý nhưng không trích
khấu hao hàng kỳ. Đối với những TSCĐ thuộc loại 1, công ty phân ra làm 6 loại:24
1. Nhà cửa (TK 2112100) là nơi để diễn ra các hoạt động sản xuất kinh doanh của
người và thiết bị, hoặc để làm kho.
2. Vật kiến trúc (TK 2112200) bao gồm đường xá, vỉa hè, bục thang máy…
3. Máy móc và thiết bị (TK 2113000): bao gồm máy cưa, máy nghiền, máy hàn,
máy biến thế hàn, súng bắn điện để hàn, thiết bị điều khiển…
4. Xe cộ (TK 2114000): bao gồm xe hơi, xe tải, xe bus đưa đón nhân viên và các
loại xe khác.
5. Công cụ và thiết bị quản lý (TK 2115000): bao gồm kính hiển vi, các thiết bị
kiểm tra và đo lường, cẩu, đồ gá lắp, máy tính và các đồ dùng văn phòng khác...;
được chia làm 3 loại nhỏ:
- Thiết bị công nghệ: máy tính, máy tính xách tay, máy chủ nội bộ, bộ định tuyến,
khoá chuyển đổi và các thiết bị thông tin khác.
- Công cụ cho sản xuất: gồm các công cụ trực tiếp và gián tiếp
- Công cụ văn phòng: các loại công cụ, thiết bị còn lại.