KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG NHỰA VIỆT NAM - Pdf 16

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ
THỊ TRƯỜNG NHỰA
VIỆT NAM
MỤC LỤC
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG NHỰA VIỆT NAM 1
MỤC LỤC 2
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG NHỰA VIỆT NAM
1.1 Nhiều cơ hội mở ra cho ngành Nhựa Việt Nam :
Trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là động
lực to lớn thúc đẩy tăng trường kinh tế. Hội nhập kinh tế toàn cầu sẽ mở ra
nhiều cơ hội kinh doanh mới, đồng thời cũng có nhiều thách thức, nhưng đã
ra “biển lớn” thì doanh nghiệp phải chấp nhận luật chơi. Đó là lý do các
doanh nghiệp nhựa đã không ngừng đầu tư, đổi mới công nghệ để thích ứng
và tìm kiếm cơ hội mới từ các hội thảo, hội chợ trong nước và quốc tế.
1.2 Hướng tới thị trường thế giới :
Hiện tại, Việt Nam có khoảng 1.400 doanh nghiệp (DN) nhựa. Riêng tại
TP.HCM, đã thu hút hơn 80% DN ngành Nhựa của cả nước. Giá trị hàng
hóa xuất khẩu mỗi năm của Ngành đạt gần 400 triệu USD, với các sản phẩm
thế mạnh là bao bì, sản phẩm nhựa tiêu dùng, nhựa xây dựng và sản phẩm
nhựa kỹ thuật cao.
Ba nước xuất khẩu sản phẩm nhựa lớn nhất vào Mỹ là Trung Quốc, Thái
Lan, Malaysia đang bị áp dụng thuế chống bán phá giá với tỷ lệ khá cao từ
34,84% - 129,86%. Do giá nhập khẩu quá cao, nguồn cung cấp hàng bị co
hẹp, các nhà nhập khẩu Mỹ đang tìm kiếm các nhà cung cấp thay thế khác.
Đây chính là cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất nhựa Việt Nam.
Tại thị trường trong nước, sản phẩm nhựa do các DN Việt Nam sản xuất
đã có mặt trong hầu hết các ngành Công nghiệp, Nông nghiệp, Giao thông
vận tải, Thủy sản, Xây dựng, Điện-điện tử. Những sản phẩm đòi hỏi chất
lượng cao như ống dẫn dầu, đồ nhựa cho ôtô và máy vi tính cũng đã được
các DN nhựa Tiền Phong, Phương Đông, Tân Tiến, Bình Minh sản xuất
thành công.

hoạch và tổ chức các buổi hội thảo và các lớp học chuyên về ngành Nhựa
Nằm trong khuôn khổ của chương trình thúc đẩy ngành Nhựa phát triển
bền vững, VPA đã có những hỗ trợ xúc tiến thương mại trong và ngoài nước
để tạo cơ hội cho các DN nhựa Việt Nam tiếp nhận với những công nghệ
mới, xu hướng sản xuất, thiết bị và các sản phẩm mới nhất được tung ra thị
trường bởi các tập đoàn sản xuất nhựa, cao su hàng đầu của thế giới. Đồng
thời, đó cũng là cơ hội để các DN nhựa Việt Nam mở rộng kinh doanh xuất
khẩu trực tiếp sản phẩm nhựa sang các nước.
Trong thời gian qua, nhiều buổi hội thảo chuyên đề đã diễn ra tại
TP.HCM, tiêu biểu là hội thảo “Ngành Nhựa Malaysia-Việt Nam” do Hiệp
hội Nhựa Malaysia, Hiệp hội Nhựa Việt Nam, Cục Đầu tư nước ngoài Việt
Nam (Bộ Kế hoạch & Đầu tư), Cục Xúc tiến Đầu tư Malaysia tổ chức trong
tháng 7/2007. Sau buổi hội thảo này, nhiều công ty đã tìm được các đối tác
làm ăn.
Ngoài các cuộc hội thảo, thông qua các hội chợ trong nước và quốc tế
cũng là cơ hội để các DN Việt Nam tiếp cận được với công nghệ mới, từ đó
họ sẽ có một sự “lột xác” nhanh chóng như lời khẳng định của ông Jan
Noether, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Đức tại TP.HCM.
Thành công tại “Hội chợ ngành công nghiệp Nhựa và Cao su - Interplas
2007” diễn ra tại Trung tâm Triển lãm Quốc tế BITEC, Bangkok, Thái Lan
trong tháng 6/2007 là tiền đề để các DN Nhựa Việt Nam mạnh dạn tham gia
các hội chợ quốc tế khác trong khu vực và thế giới.
Sắp tới đây, VPA sẽ tổ chức cho doanh nghiệp nhựa Việt Nam tham gia
hội chợ quốc tế lớn nhất về ngành Nhựa – Cao su, được tổ chức 3 năm một
lần ở Đức, bắt đầu từ ngày 24 - 31/10/2007. Ông Hồ Đức Lam, Phó Chủ tịch
VPA cho biết “Các DN Việt Nam tham gia vào hội chợ 2007 chuyên ngành
về lĩnh vực công nghiệp nhựa, tổ chức ở Duesseldorf (Đức), được Chính phủ
hỗ trợ 100% chi phí vé máy bay khi tham dự. Đến đây các doanh nghiệp sẽ
có một tầm nhìn toàn cảnh về ngành nhựa quốc tế”.
1.3 Khó khăn

thách thức sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO); do đó, chưa quan tâm nghiên cứu nhu cầu phát triển của ngành
trong tương lai để đầu tư đón đầu vào các sản phẩm mang tính hội nhập cao,
đảm bảo khả năng cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường trong nước và
ngoài nước.
Sản phẩm làm từ nhựa ngày càng đa dạng, người tiêu dùng ngày càng có
nhu cầu sử dụng các sản phẩm đẹp, chất lượng cao. Hiện tại, trên thị trường
ngày càng có nhiều sản phẩm nhựa nhập khẩu (chủ yếu từ Thái Lan, Trung
Quốc) với mẫu mã đẹp, chất lượng cao được nhiều khách hàng chú ý.
Khó khăn về vốn:
Trong những năm qua, việc sử dụng vốn đầu tư của các doanh nghiệp
nhựa còn một số hạn chế: các dự án đầu tư mới chủ yếu là đầu tư mở rộng
và đầu tư chiều sâu, nhưng quy mô đầu tư nhỏ, vốn không lớn, nên hiệu quả
chưa cao, chi phí quản lý chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi phí đầu tư. Nhìn
từ góc độ toàn ngành, việc đầu tư thường trùng lặp, dẫn đến cạnh tranh sản
phẩm trên thị trường rất gay gắt, làm giảm hiệu quả đầu tư.
Nhà nước đã có nhiều biện pháp tích cực hỗ trợ cho ngành Nhựa phát
triển, nhưng đồng thời, DN cũng phải có sự hợp tác chặt chẽ thì mới mong
đạt được hiệu quả như mong muốn. Hy vọng với sự phấn đấu lâu dài đó,
ngành Nhựa Việt Nam sẽ vững bước trên đường hội nhập.
1.4 Một số giải pháp chủ yếu để ngành Nhựa Việt Nam tiếp tục phát
triển với tốc độ cao, phù hợp với xu thế hội nhập:
• Thứ nhất, tập trung nguồn vốn đầu tư cho các lĩnh vực theo chiến lược
phát triển ngành Nhựa giai đoạn 2006 - 2010.
Với mục tiêu để ngành Nhựa trở thành một ngành mũi nhọn, cần phải tập
trung đầu tư vào các lĩnh vực như: sản xuất nguyên liệu, chú trọng sản xuất
các loại nguyên liệu mà trong nước có nhu cầu lớn và Việt Nam có lợi thế.
Đẩy mạnh đầu tư vào các dự án sản xuất khuôn mẫu, trục in, thiết bị, phụ
tùng có nhu cầu cao, chất lượng tốt, phục vụ cho việc sản xuất hàng nhựa
cao cấp và các sản phẩm nhựa xuất khẩu. Đối với việc đầu tư sản xuất sản

Đến năm 1986, Nhà máy chạy những mét ống UNICEF đầu tiên, làm tiền
đề cho việc chuyển thành Công ty chuyên sản xuất ống nhựa sau này.
Ngày 08 tháng 02 năm 1990 Bộ Công nghiệp nhẹ ra Quyết định số
86/CNn-TCLĐ về việc thành lập “Xí nghiệp Khoa học Sản xuất Nhựa Bình
Minh” trên cơ sở thành lập lại “Nhà máy Công tư Hợp doanh Nhựa Bình
Minh”. Xí nghiệp là đơn vị thành viên trực thuộc Liên hiệp Sản xuất – Xuất
Nhập khẩu nhựa – Bộ Công nghiệp nhẹ (tiền thân của Tổng Công ty Nhựa
Việt Nam – VINAPLAST) với nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu ứng dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào ngành gia công chất dẻo, tổ chức
sản xuất thực nghiệm các loại sản phẩm mới.
Ngày 24 tháng 03 năm 1994 Ủy Ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh ra quyết
định số 842/QĐ-UB-CN về việc quốc hữu hoá Xí nghiệp Khoa học Sản xuất
Nhựa Bình Minh và chuyển đổi thành Doanh nghiệp Nhà nước.
Ngày 03 tháng 11 năm 1994 Bộ Công nghiệp nhẹ ra Quyết định số
1434/CNn-TCLĐ về việc thành lập Doanh nghiệp Nhà nước là “Công ty
Nhựa Bình Minh”, trực thuộc Tổng Công ty Nhựa Việt Nam với ngành nghề
kinh doanh là sản xuất các sản phẩm chính là ống nhựa, bình phun thuốc trừ
sâu, dụng cụ y tế, các sản phẩm nhựa kỹ thuật. Đến giai đoạn này Nhựa Bình
Minh đã được thị trường biết đến như một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh
vực ống nhựa tại thị trường Việt Nam.
Ngày 04/12/2003 Bộ Công nghiệp ra Quyết định số 209/2003/QĐ-BCN về
việc chuyển Công ty Nhựa Bình Minh thành Công ty Cổ phần Nhựa Bình
Minh.
Ngày 26/12/2003 Công ty tiến hành Đại hội cổ đông lần đầu tiên thành lập
Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh và đến ngày 02/01/2004 “Công ty Cổ
phần Nhựa Bình Minh” đã chính thức đăng ký kinh doanh và đi vào hoạt
động dưới hình thức Công ty cổ phần .
Ngày 11/07/2006 Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh chính thức niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh đã trở thành một trong những doanh

ổn định, không có xung đột đảng phái, chính trị. Do đó Việt Nam được đánh
giá là điểm đến an toàn cho các nhà đầu tư .
- Các chính sách thuế:
Để bảo hộ cho các doanh nghiệp trong nước trước sức cạnh tranh mạnh mẽ
từ nước ngoài khi VN gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO,nhà nước
đã tiến hành nhiều biện pháp ưu đãi về thuế quan và hạn nghạch, cụ thể mức
thuế suất được áp dụng đối với nguyên vật liệu là 0%.
Thế nhưng cũng phải thừa nhận một điều rằng chính sách thuế của chúng
ta vẫn còn rất nhiều bất cập, đó là
Việc tăng thuế thu nhập của DN FDI từ 25% lên 28% bắt đầu từ 1/1/2004
và cách khấu trừ thuế thu nhập phức tạp cùng 1 số chi phí hợp lý về tiếp thị,
quảng cáo, khuyến mại bị hạn chế ở mức từ 7% - 10%. VN là QG duy nhất
trong khu vực không cho khấu trừ toàn bộ các chi phí tiếp thị, quảng cáo,
khuyến mãi đồng thời còn không tính nhiều loại chi phí hợp lý khác, điều đó
đã đẩy mức thuế thu nhập lên tới 40%, cao hơn nhiều so với các nước trong
khu vực:
Quốc gia Trung
quốc
Inđônêxi
a
Philippin Malaysia Singapo
Thuế suất 33% 30% 32% 29% 22%

Thủ tục hoàn thuế thu nhập cho tái đầu tư quá phức tạp gây khó khăn cho
nhà đầu tư và hạn chế tái đầu tư.
Cách đánh thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp lũy tiến đã làm cho
VN trở thành quốc gia có mức thuế sát phạt nhất trong khu vực (từ 10% -
65%), trong khi đó :
Quốc gia Trung Quốc Indonexia Malayxia Singapore
Thuế suất 5% - 45% 5% - 35% 1% - 29% 5% - 22%

của chúng ta là 12% đạt mức lạm phát phi mã, điều đó đã đẩy giá của các
hàng hóa lên cao, làm mức sống của người dân giảm di một cách tương đối.
Để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người lao động thì buộc các doanh
nghiệp phải tăng lương cho công nhân, diều này làm tăng chi phí sảnơ xuất.
Trên thế giới, nền kinh tế Mỹ đi vào khủng hoảng nên đồng USD giảm giá
so với các đồng tiền khác.Việt Nam cũng không nằm trong ngoại lệ, tỷ giá
VND/USD Điều này sẽ có hai tác động. Thứ nhất, do các hợp đồng nhập
khẩu của chúng ta chủ yếu đã được ký trước và đều được thanh toán bằng
USD nên khi tỷ giá giảm như vậy chúng ta sẽ được hưởng chênh lệch giá.
Thứ hai, xét về dài hạn các nhà cung cấp nguyên liệu cho ngành nhựa nói
chung và cho Bình Minh nói riêng đều từ các quốc gia có nền kinh tế phát
triển(OPEC) nên đồng tiền của họ mạnh hơn so với VND, và do đó sau này
họ sẽ yêu cầu chúng ta thanh toán bằng đồng tiền của họ.
Thêm vào đó do hiện tượng thiếu tiền đồng nên các NHTM Việt Nam đua
nhau tăng lãi suất để thu hút vốn và hạn chế, thắt chặt cho vay. Ngoài ra, để
kiềm chế lạm phát NHTW đã tăng dự trữ bắt buộc điều này sẽ làm tăng chi
phí huy động. Như chúng ta dã biết:
Ls cho vay = Ls huy động+ phần bù rủi ro+ %cf hđ+LNdự kiến
Như vậy là chi phí của DN sẽ tăng lên rất nhanh làm cho giá thành tăng
lên. Nhưng DN không thể tăng giá bán cùng với tốc độ tăng giá thành được
bởi như vậy sẽ làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường và khó có thể được
người tiêu dùng chấp nhận.
c, Yếu tố văn hóa – xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế chất lượng cuộc sống của người dân không
ngừng được tăng lên, trình độ nhận thức, học vấn ngày càng được cải thiện,
khuynh hướng tiêu dùng cũng đã thay đổi. Nếu trước kia quan niệm sống là
ăn no mặc ấm thì nay phải là ăn ngon mặc đẹp. Do đó các DN cần phải
nghiên cứu kỹ thị trường để có thể sản xuất được những sản phẩm có chất
lượng cao, mẫu mã đẹp. Ngoài ra DN cũng phải có kế hoạch PR phù hợp.
d, Yếu tố công nghệ

Hầu hết các nguyên liệu nhựa có nguồn gốc từ dầu mỏ và phần lớn (55%-
65%) có xuất xứ từ các nước sản xuất dầu mỏ hàng đầu thế giới như
Iran, Iraq, Kuwait, Ả Rập nên công ty cũng nhập nguyên liệu từ những
nước này. Trong khi đó tình hình kinh tế - chính trị ở các nước này luôn biến
động .Thêm vào đó giá dầu thế giới thời gian gần đây có rất nhiều biến động
và đã có lúc tăng đến mức kỷ lục hơn 100USD/ thùng(đặc biệt là nó càng
ngày càng có xu hướng tăng lên cao:150- 200$/thùng). Thêm nữa là tình
hinh chính trị ở các nước khu vực Trung Đông này luôn biến động bất
thường. Do đó việc dự báo được xu hướng biến động của nó là khó khăn vô
cùng. Vì vậy công ty chịu ảnh hưởng nhiều từ các nhà cung cấp. Điều này là
không có lợi cho công ty, và hoạt động kinh doanh của mình.
Ngoài ra,nguyên liệu cơ bản được nhập khẩu từ nước ngoài chiếm đến75%
giá vốn trong các mặt hang của Bình Minh.Nên sự biến động của nó sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến giá cả hàng hoá, lợi nhuận, khả năng thanh toán… của
công ty.
( Trong năm 2007 vừa qua công ty đã có kế hoạch mua tăng thêm nguyên
liệu đầu vào làm tăng hang tồn kho trong công ty, do đó làm nhu cầu VLĐ
tăng cao hơn mức tăng của lợi nhuận- điều này không phải là không tốt vì nó
có khả năng làm tăng lợi nhuận trong tương lai).
Ngoài ra công ty nên thực hiện thêm nhiều biện pháp nữa như: thay đổi
khoa học công nghệ hiện đại hơn làm tiết kiệm nguyên liệu,nâng cao năng
suất lao động; tận dụng triệt để các nhựa phế liệu => tăng hiệu quả, giảm chi
phí=> tăng lợi nhuận.
b, Đối thủ cạnh tranh trong ngành
Hiện nay nước ta đang trên đà phát triển nhanh, cùng với sự phát triển của
đất nước thì nhựa Bình Minh cũng đạt được khá nhiều thành tựu:hệ thống
nhà xưởng gần 60000m2, hệ thống trang thiết bị được xây dụng theo công
nghệ tiên tiến nhất của Đức, Ý, Áo, Canada. Do đó nó giúp cho nhựa Bình
Minh không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn phục vụ thị trường
nước ngoài.

nghiệp là 14.5%.
Hơn nữa, do chính sách của chính phủ: trên cơ sở ngành nhựa cao su đã
tăng trưởng vững chắc, phát huy tính năng động, sang tạo trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành nhựa mà chính phủ có sự ưu tiên nhất
định. Đây là điều kiện thuận lợi cho ngành nhựa tăng lợi nhuận lớn hơn
trong sự phát triển của đất nước.
Thêm nữa là ngành nhựa có một thị trường tiêu thụ lớn (cả trong nước và
nước ngoài); có chu kỳ kinh doanh ngắn, thu hồi vốn nhanh => phù hợp với
doanh nghiệp mới ra nhập thị trường, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Đây là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mới ra nhập vào thị
trường nhựa. Hoặc các doanh nghiệp muốn chuyển đổi ngành kinh doanh
sang ngành nhựa => tăng cạnh tranh tiềm năng cho công ty nhựa Bình Minh.
d, Sản phẩm thay thế
Nhu cầu của con người là vô tận, họ luôn mong muốn ngày càng cao. Các
sản phẩm từ nhựa có rất nhiều loại khác nhau:
chịu được loại hoá chất
khả năng chống rỉ sét
khả năng giảm tiếng ồn
khối lượng nhẹ, dễ vận chuyển
tính kinh tế cao hơn so với sắt thép
Tuy nhiên đó không phải là tất cả vì hiện nay có rất nhiều thong tin nói
rằng: nhiều sản phẩm nhựa khó phân huỷ làm gây ô nhiễm môi trường. Đo
đó người dân đã có xu hướng giảm dùng đồ nhựa. Nhưng do tính tiện ích
của nó nên những đồ nhựa vẫn được sử dụng phổ biến.
Do trong ngành nhựa vốn có sự cạnh tranh mạnh, nên các sản phẩm của
nhựa Bình Minh có thể bị thay thế bằng các sản phẩm cùng loại khác của
các công ty khác ưu việt hơn. Để tự tồn tại thì nhựa Bình Minh đã tự cải
tiến mình thong qua việc cung cấp các sản phẩm mới:
Ống HDPE có độ uốn dẻo cao, nó cho phép ống có thể di chuyển do động
đất hay trượt mà không bị gãy , vỡ ở đầu mối hàn.

mẫu mã, chất lượng sản phẩm. Đây là điều kiện để nâng cao giá bán của sản
phẩm => tăng lợi nhận.
thực hiện đa dạng hoá nhiều sản phẩm(chất lượng, chủng loại, giá
thành…) để cung ứng được cho nhiều đối tượng khách hang khác nhau =>
tăng lợi nhuận.
Thường xuyên nghiên cứu để tìm ra nhiều loại sản phẩm mới, thay đổi nó
phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng.
(Nhựa Bình Minh đã có được chứng nhận “hang VN chất lượng cao theo
tiêu chuẩn ISO, ASTM…, cúp vàng thương hiệu Việt …).
(2) Chiến lược giá cả
xây dựng chiến lược giá cả phù hợp: đảm bảo có lợi nhuận cao cho công ty
về lâu dài.
Không nên để ở giá quá thấp. Nêus để giá quá thấp thì có thể sẽ không
khẳng định được thương hiệu và chất lượng của mình.
(3) Chiến lược phân phối
tăng cường mở rộng kênh phân phối: xây dựng hệ thống các cơ sở, đại lý
của công ty, các chi nhánh của công ty trên phạm rộng lớn để giảm được chi
phí vận chuyển, còn có thể tận dụng được thế mạnh, ưu điểm của từng nơi.
tạo dựng nhiều mối quan hệ thân thiết với các nhà phân phôi lớn để bán
được nhiều hang hoá và nhanh =>thu hồi vốn nhanh.
(4)
Chiến lược xúc tiến hỗn hợp
thực hiện nhiều hình thức khuyến mãi nhân dịp các ngày lễ, tết.
tăng cường hoạt động quảng cáo đối với các sản phẩm mới đưa ra thị
trường.
có thể liên kết với các ngân hàng để thực hiện bán hàng chịu cho khách
hàng => tăng khả năng cạnh tranh của công ty=> tăng lợi nhuận. Điều này
có thể giải thích là tại sao trong năm 2007 công ty lại tăng 52.014% so với
năm 2006.
Nhưng đây mới chỉ là một số ít các chiến lược để công ty có thể mở rộng

- Giá cả sản phẩm cạnh
tranh
- Rào cản thâm nhập thị
trường
- Áp lực cạnh tranh
CA IS
- Thị phần
- chiến lược sản phẩm
- chu kỳ sống SP
- bí quyết công nghệ
- long trung thành của
khách hàng
- sự kiểm soát đối với
nhà cung cấp và nhà
phân phối
- mức tăng trưởng tiềm
tàng
- lợi nhuận tiềm năng
- mức độ sử dụng
nguồn lực
- quy mô vốn
- sự dễ dàng thâm nhập
vào thi trường
-Năng suất lao động
Dưới đây là những đánh giá cụ thể hơn về tình hình quản trị công ty.
Đánh giá về công nghệ, thiết bị công ty.
Nhưa Bình Minh đã trải qua những thời kỳ khó khăn nhất để trở thành một
Bình Minh vững mạnh như hôm nay.
Trước 1987,Bình Minh chủ yếu khai thác những thiết bị hiện có sẵn, hầu
như không có đổi mới.Do đó sản lượng chỉ đạt 380 tr tấn, doanh số là 143

Phương diện kinh tế: công ty nằm ở TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương.
Đây đều là những khu công nghiệp,nơi trung tâm. Do đó chi phí mằt bằng
thuê sẽ đắt hơn khu vực khác. Song đổi lại thì nó lại có phương tiện đi lại
thuận lợi.
Chính trị: nước ta là một nước có tình hình kinh tế chính trị ổn định hơn
nhiều các nước khác trên thế giới. Điều này tạo an toàn trong hoạt động kinh
doanh của công ty. Tuy nhiên nó cũng mang lại cơ hội cho các nhà đầu tư
nước ngoài =>tăng khả năng cạnh tranh đối với công ty.
Thêm nữa, nước ta cũng đang thực hiện nhiều cải cách về đường lối chính
sách => tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.
Xã hội:
trình độ học vấn của người dân ngày càng cao,trình độ tay nghề của người
lao động cũng được cải thiện hơn. Tuy nhiên so với các nước khác thì vẫn
thấp. Vì vậy công ty vấn phải tiến hành đào tạo để nâng cao trình độ người
lao động =>tăng trưởng lâu dài cho công ty.
Thu nhập người dân thấp => phải có chiến lược giá cả phù hợp.
Cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu => phải có kế hoạch giúp đỡ người
lao động trong công tác bảo hiểm.
tiềm năng nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ nhận thức ngày càng cao =>
cơ hội tiềm tàng cho công ty.
Tổ chức quản lý:
Đây là công ty cổ phần với cơ cấu vốn như sau: sở hữu nhà nước là
39.47%, nước ngoài 48,17%, khác là 12.36%.
Cơ cấu tổ chức theo phòng ban chức năng
quy mô công ty có vị thế tốt trong ngành nhựa của mình.
Quản trị nhân lực
chính sách nhân sự:Sau khi cổ phần hoá công ty quết định không tuyển
dụng thêm nhân sự.Thay vì việc tăng nhân sự thì công ty quyết định tăng
hiệu quả tổ chức và sử dụng lao động.
Công ty thực hiện bằng cách có chính sách đãi ngộ hợp lý, khen thưởng

Chi phí HĐTC 509 858 -319 -40.67
Trong đó :lãi vay 298 851 -554 -65
Lợi nhuận HĐTC 7,611 613 6,988 1,141.59
Chi phí bán hàng 19,644 11,567 8,077 69.83
Chi phí quản lý
DN
19,527 19,479 48 0.24
Lợi nhuận thuần từ
HĐSXKD
110,415 98,312 12,103 12.31
Thu nhập khác 893 465 428 92.04
Chi phí khác 37 1 36 3600
Lợi nhuận khác 855 464 391 84.26
Lợi nhuận trước
thuế
111,271 98,777 12,494 12.64
Thuế TNDN 15,261 13,828 1,433 10.36
Lơi nhuận sau thuế 96,099 84,948 11,061 13.02

Nhận xét:
So với năm 06 doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng
176574 tương đương với 35,07% đây là xu hướng tốt ,tuy nhiên ta thấy hàng
bán bị trả lại tăng 36 18,46% nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ nên vẫn có thể chấp nhận được,tuy nhiên để tăng doanh thu
thuần thì việc cải thiện chất lượng sản phẩm luôn là vấn đề đáng được quan
tâm đặc biệt trong môi trường mà tính cạnh tranh ngày càng cao
Doanh thu thuần năm 2007 tăng là do giá nguyên vật liệu đầu vào tăng
trên 16% nên doanh nghiệp phải tăng giá bán 9% ,giá bán tăng nhưng số
lượng sản phẩm tiêu thụ vẫn bảo đảm Id=Iq*Ig
Id=1,3507

100 100
Gía vốn hàng bán 79.13 74.43 5.3
LN gộp 20.87 25.57 -4.7
Chi phí BH 2.88 2.29 0.59
Chi phí QLDN 2.87 3.86 -0.99
DT hoạt động KD 100 100
Chi phí HĐKD 83.95 80.53 3.42
LN thuần từ HĐKD 16.05 19.447 -3.42
TỔNG THU NHẬP 100 100
DTT về BH và ccdv 98.69 99.62 -093
DT từ HĐTC 1.18 0.29 0.89
Thu nhập khác 0.13 0.09 0.04
Tổng thu nhập 100 100
Tổng chi phí 83.85 80.45 3.45
Tổng lợi nhuận trước
thuế
16.15 19.55 -3.4
Nhận xét:
Trong năm 2007 cứ 100 đồng DTT về bán hàng và ccdv thì phải bỏ ra tới
79 đồng giá vốn hàng bán tưng 4.69 so với năm 2006, điều này có nguyên
nhân chủ yếu là do trong năm 2007 giá nguyên liệu đầu vào tăng do giá xăng
dầu trên thị trường thế giới biến động mạnh đã tác động không nhỏ tới việt
nam. Đây là thực trạng chung của các doanh nghiệp việt nam. Để hạn chế
ảnh hưởng này doanh nghiệp cần dự báo xu hướng biến động về giá cả
nguyên vật liệu để có biện pháp dự phòng tránh bị động trong hoạt động sản
xuất kd đồng thời có biện pháp sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu bằng cách
đổi mới công nghệ…
Trong năm 2007 cứ 100 đồng doanh thu thì chi phí cho việc bán hàng là
2.88 trong khi con số này năm 2006 là 2.29 . Điều này có thể là do chính
sách mở rộng thị trường tăng chi phí cho hoạt động quảng cáo, hội chợ, mở

DOL phản ánh mức độ nhạy cảm của hoạt động kinh doanh đối vói sự
biến động của khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Cứ 1% khối lượng sẩn phẩm
tiêu thụ tăng hoặc giảm thì lợi nhuận tăng hoặc giảm bao nhiêu %
DOL=10.27/35.07=0.293
Khi tăng 1% doanh thu thì tỷ lệ lợi nhuận tăng thêm là 0.293%, tỷ lệ này
thấp chứng tỏ độ nhạy cảm của lợi nhuận với doanh thu thấp , độ an toàn cao
nhưng khả năng tăng lợi nhuận khó
Rủi ro tài chính là sự biến động hoặc không chắc chắn về thu nhập trên
một cổ phiếu của công ty và rủi ro không trả được nợ của công ty tăng lên
khi công ty sử dụng đòn bẩy tài chính.
% thay đổi tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
DFL =
% thay đổi EBIT
= 0.105
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay tăng lên 1% thì tỉ suất sinh lời của vốn chủ
sở hữu tăng lên 0.105%. Với tỉ lệ đòn bẩy tài chính thấp như thế này chứng
tỏ công ty đã chủ yếu sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu để tài trợ các khoản
đầu tư.Doanh nghiệp cần xem xét tới việc tăng vốn vay,vì chi phí sử dụng
vốn tự có là cao nhất
4.2 Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp :
4.2.1Đánh giá khái quát tình hình tài chính qua các cân bằng tài chính
trên bảng CĐKT :
a, Vốn lưu động thường xuyên
Vốn lưu động thường xuyên là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn
với tài sản dài hạn. Hay nó là phần nguồn vốn dài hạn dùng vào việc tài trợ
cho tài sản ngắn hạn.
Từ bảng cân đối kế toán ta có các số liệu sau:
đơn vị: 1,000,000 đ
(làm tròn số liệu)
Năm 2006 năm 2007

nguồn vốn dài hạn.
Điều này là do ảnh hưởng của một số nhân tố sau:
Đơn vị: 1,000,000 đ
Chỉ tiêu 2007 2006
Độ lệch
Tuyệt
đối(trđ)
Tương
đối(%)
TSDH
148,73
9
62,095 86,644 139.535
I- TSCĐ
148,70
9
62,065 86,644 139.602
1- TSCĐ hữu hình: 80,186 44,736 35,450 79.243
.nguyên giá
240,79
8
183,05
9
57,739 31.541
.hao mòn luỹ kế
-
160,612
-
138,323
-

6
139,33
4
1,072 0.769
thặng dư vốn cổ phần
104,02
1
104,02
1
0 -
quỹ đầu tư phát triển
102,40
4
82,455 19,949 24.194
quỹ dự phòng tài chính 12,889 8,889 4,000 44.999
lợi nhuân sau thuế chưa
phân phối
54,290 32,399 21,891 67.567
3- Nguồn kinh phí và quỹ
khác
7,576 8,490 -914 (10.766)
Nguồn vốn lưu động
thường xuyên
273,37
1
313,83
1
-40460 (12.892)
Qua bảng trên ta thấy rằng: trong năm 2007 VLĐTX giảm là do tốc độ
tăng của TSDH nhanh hơn tốc độ tăng của NVDH: TSDH tăng 193.535%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status