bài thuyết trình về đề tài lạm phát - Pdf 16

I. Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của chính sách lạm phát mục tiêu

Như chúng ta đã biết, một CSTT truyền thống của mỗi quốc gia được đặt ra thông
thường để đạt được 4 mục tiêu chính: Tạo ra công ăn việc làm cho xã hội hay làm
giảm áp lực thất nghiệp; Đảm bảo sự tăng lên của GDP thực (tỷ lệ tăng trưởng có
được sau khi trừ đi tỷ lệ lạm phát); ổn định giá trị đối nội của đồng tiền hay đảm
bảo sức mua hàng hoá trong nước của nội tệ; ổn định giá trị đối ngoại của đồng
tiền hay là ổn định tỷ giá.

Mặc dù các mục tiêu này không phải không có những điểm thống nhất, ví dụ như
tăng trưởng cao thường đi kèm với tỷ lệ thất nghiệp thấp nhưng nói chung thì
chúng có những mâu thuẫn nội tại với nhau trong ngắn hạn như:

- Các cú sốc làm tổng cung giảm xuống khiến thất nghiệp gia tăng, NHTƯ buộc
phải điều chỉnh lượng cung tiền cho cân bằng với mức cầu tiền thực tế để cho lãi
suất giảm xuống và thúc đẩy đầu tư tạo công ăn việc làm, nhưng đồng thời việc
đó cũng làm cho mức giá cả chung của nền kinh tế tăng lên.

- Giảm tỷ lệ lạm phát nhằm ổn định giá trị đối nội của đồng tiền đồng nghĩa với
một CSTT thắt chặt khiến cho lãi suất trong nền kinh tế tăng lên, hiện tượng thoái
lui đầu tư xuất hiện làm tổng cầu của nền kinh tế giảm xuống. Thất nghiệp sẽ có
xu hướng tăng và tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm.

Qua việc xem xét các mục tiêu của CSTT và các mối quan hệ giữa chúng đưa
chúng ta đến một kết luận quan trọng rằng: NHTƯ không thể đạt được tất cả các
mục tiêu cùng một lúc trong ngắn hạn, mà buộc phải lựa chọn một mục tiêu chính
để tập trung trong khi tạm thời coi nhẹ các mục tiêu khác. Vậy vấn đề đặt ra cho
chúng ta tiếp theo sẽ là “mục tiêu nào nên được chọn làm mục tiêu chính cho
CSTT? vì sao? nó có tác động thế nào đến các biến số của nền kinh tế?”

Trước đây, thường có 2 xu hướng chính cho CSTT: tập trung vào mục tiêu tăng

và CSTT trở nên thất bại, lạm phát vẫn tăng mà kinh tế không tăng trưởng.
Những lý lẽ trên khiến cho các nhà hoạch định chính sách nhận ra rằng đã đến lúc
phải tìm kiếm một mục tiêu mang tính dài hạn hơn, tạo ra những tiền đề kinh tế vĩ
mô ổn định cho sự phát triển lâu dài. Cùng lúc đó, một điều rất dễ dàng nhận ra là
lạm phát luôn có những tác động tiêu cực nhất định đến nền kinh tế. Tất nhiên
cũng không thể phủ nhận một số tác động tích cực nhưng những tác động tiêu cực
có vẻ nổi lên rõ hơn: tạo nên sự bất ổn định trong môi trường kinh tế - xã hội, phát
tín hiệu sai lệch kích thích đầu tư quá mức vào khu vực tài chính, và gây ra các
chi phí lớn (chính là chi phí cơ hội của những khoản tiền không có lãi suất) Vì
vậy đối với bất kỳ quốc gia nào, trong thời gian nào thì việc kiểm soát lạm phát để
giữ giá cả ổn định cũng luôn thu hút được sự quan tâm chú ý.

Tuy nhiên ổn định giá cả lại không đơn giản là việc kiểm soát lạm phát. Theo
nghĩa hẹp đó là việc NHTƯ ngăn chặn cả tình trạng lạm phát lẫn thiểu phát của
nền kinh tế (vì thông qua kênh tài chính và các kênh khác, với cùng một chỉ số
tuyệt đối về lạm phát hay giảm phát như nhau, thì chi phí đối với nền kinh tế từ
giảm phát còn lớn hơn từ lạm phát). Trong khi đó hiểu theo nghĩa rộng hơn (mang
tính thị trường hơn) thì ổn định giá cả đạt được khi mà sự biến động của giá cả
(thể hiện qua tỷ lệ lạm phát) không gây ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư hay
tiêu dùng của các công ty hay chủ thể khác trên thị trường.

Tất nhiên khi giá cả được giữ ở mức ổn định thì nó có thể giúp hạn chế các ảnh
hưởng tiêu cực của cả lạm phát lẫn thiểu phát, nhưng bản thân ổn định giá cả cũng
mang trong mình những ích lợi riêng như:

- Cho phép sự thay đổi trong mức giá cả tương đối khi nó không còn bị ảnh hưởng
bởi sự dao động trong mức giá cả chúng, vì thế các quyết định đầu tư hay tiêu
dùng sẽ vẫn được đưa ra một cách chính xác và dễ dàng. Nghĩa là ổn định giá cả
hướng dẫn các nguồn lực tìm đến với khu vực mang lại lợi nhuận tốt, và nhờ đó
tăng tiềm năng sản xuất của nền kinh tế.

định và tỷ lệ thất nghiệp thấp.
2. Điều kiện để thực hiện chính sách LPMT
Thứ nhất, NHTƯ cần có một mức độc lập tương đối để thực thi CSTT, mặc dù
không có một NHTƯ nào có thể hoàn toàn độc lập khỏi sự ảnh hưởng của chính phủ.
NHTƯ cần phải, trong giới hạn cho phép, được tự do lựa chọn các công cụ để đạt được tỷ
lệ lạm phát mục tiêu. Để thực hiện yêu cầu này, quốc gia đó cần từ bỏ nguyên tắc ''ngân
sách chi phối'', cũng như các vấn đề thuộc chính sách tài khoá không được gây bất cứ ảnh
hưởng nào đến CSTT. Số thoát khỏi ngân sách chi phối ngụ ý rằng các khoản vay từ
NHTƯ của chính phủ phải ở mức thấp nhất (hoặc tốt nhất bằng 0) và các thị trường tài
chính trong nước có đủ độ sâu để ''nuốt chửng'' các đợt phát hành nợ của chính phủ.
Hơn nữa, sự thoát khỏi ngân sách chi phối cũng ngụ ý rằng chính phủ phải có cơ sở
nguồn thu rộng rãi và không phải đưa một cách có hệ thống vào nguồn thu từ in tiền. Nếu
chi phối về mặt tài khoá tồn tại thì chính sách thuế khoá sẽ gây áp lực đến lạm phát và
thổi bay hiệu quả của CSTT. Trên thực tế, điều này được thể hiện qua việc chính phủ
không muốn làm mếch lòng công chúng bằng việc yêu cầu NHTƯ, ví dụ, giảm lãi suất để
tăng thuế.
Thứ hai, NHTƯ phải có khả năng thực hiện lạm phát mục tiêu cũng như không có
trách nhiệm với các mục tiêu khác như: tiền lương, mức thất nghiệp hay tỷ giả. Ví dụ,
nếu một quốc gia duy trì chế độ tỷ giá cố định, trong điều kiện các luồng vốn dịch chuyển
mạnh như hiện nay thì không thề cùng một lúc thực hiện được lạm phát mục tiêu. Hơn
nữa là khi NHTƯ duy trì cùng lúc hai hay nhiều mục tiêu thì thị trường không hiểu trong
trường hợp xấu đi, mục tiêu nào sẽ được ưu tiên thực hiện. Ví dụ, khi xuất hiện mối đe
doạ đến tỷ giá, NHTƯ buộc phải lựa chọn: hoặc duy trì tỷ giá cố định, từ bỏ mục tiêu lạm
phát; hoặc bảo vệ chỉ tiêu lạm phát kế hoạch, hy sinh tỷ giá cố định. Tóm lại, ngồi ''trên
hai ghế" không bao giờ nhận được ''vương miện'' thành công.
3. Kĩ thuật xác định chỉ số mục tiêu

Về kỹ thuật việc xác định chỉ số mục tiêu (hay lạm phát mục tiêu - inflation
targeting) bao gồm các bước: 1. Lựa chọn loại chỉ số giá (dựa trên mức độ giá cả hoặc tỷ
lệ lạm phát); 2. Hình thành mục tiêu; 3. Tính toán xu hướng lạm phát năm sau; 4. Ưu việt

càng cao thì ở đó NHTƯ sẽ càng phải có trách nhiệm quản trị cơ chế lạm phát mục tiêu,
bao gồm: xây dựng chỉ tiêu; công bố và thực thi. Từ đây, ta có thể rút ra kết luận rằng:
chủ thể xây dựng, công bố và thực thi chỉ tiêu lạm phát phụ thuộc rất nhiều vào tính độc
lập của NHTƯ.
Trong tất cả các nước áp dụng lạm phát mục tiêu chỉ có Ngân hàng Reserve của Niu
Dilân và Ngân hàng của nước Anh công bố dự báo lạm phát năm tới, còn lại các nước
khác từ chối công bố nó. Do vậy, nguyên Thống đốc NHTƯ châu Âu, W.Duiserlberg đã
khuyến cáo rằng: công bố dự báo lạm phát không nên thay đổi và cần có sự giải thích của
Cơ quan thực thi. Xã hội cần có một dự báo duy nhất, dự báo phải được tổng hợp kỹ
lưỡng và phân tích toàn diện từ nhiều chỉ số, tránh đơn giản hóa. Công bố lạm phát dự
báo duy nhất sẽ giúp dư luận hiểu được sự mong muốn thục hiện của CSTT. Nếu không,
sẽ làm xã hội hiểu lầm về tính minh bạch của chính sách.
b. Xác định chỉ số 1ạm phát mục tiêu
Vấn đề xác định chỉ số lạm phát mục tiêu cũng có sự thay đổi giữa các nước. Những khác
nhau cơ bản liên quan đến 3 thông số chính của mục tiêu: tầm nhìn mục tiêu, chỉ số lạm
phát mục tiêu và tính linh hoạt của chỉ số lạm phát mục tiêu.
- Tầm nhìn mục tiêu. Tầm nhìn mục tiêu ngụ ý nói về quãng thời gian mà quốc gia có thể
đạt được và duy trì mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Hiện nay có hai phương pháp tính toán
được xem là tối ưu: phương án thứ nhất, lạm phát mục tiêu được xem như là một chính
sách giảm thiểu tối đa gây sốc cho nền kinh tế. Phụ thuộc vào từng hiện trạng của nền
kinh tế mà tầm nhìn mục tiêu thường dao động từ 24 đến 36 tháng. Phương án thứ hai,
lạm phát mục tiêu dựa trên quy luật kinh nghiệm. Phương pháp này phụ thuộc ở tầm nhìn
"sâu'' vào tương lai của NHTƯ cũng như các vấn đề thay đổi, của nền kinh tế mà như
quan tâm, hay nói cách khác là số lượng'' giai đoạn mà NHTƯ có thể dự báo về tình trạng
phát triển của nền kinh tế.
Ngoài ra, việc xác định tầm nhìn mục tiêu phụ thuộc rất nhiều tỷ lệ lạm phát tại thời điểm
bắt đầu thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu. Ví dụ như Canađa và Niu Dilân; bước thứ
nhất, họ bắt đầu sử dụng lạm phát mục tiêu như một liều thuốc chống lạm phát, độ dài
mục tiêu là 18 tháng. Bước tiếp theo, mục tiêu là tiếp tục đạt được mức lạm phát thấp hơn
với khoảng thời gian là 12 tháng đối với NiuDilân và trong 18 tháng đối với Canađa. Sau

về sự bất hợp lý đối với nền kinh tế khi tỷ lệ lạm phát âm và lợi ích của một tỷ lệ lạm
phát lớn hơn 0 và ở mức thấp. Mức lạm phát này (2-3%) nó sẽ giúp cho nền kinh tế có
khả năng thoát khỏi tình trạng suy thoái cũng như tạo sự thay đổi cần thiết vừa phải cho
hàng hoá) từ phương diện nâng cao chất lượng sản phẩm.
Một sự khác nhau cơ bản nữa giữa các nước trong việc xác định chỉ số lạm phát mục tiêu
là khoảng biên độ cho phép đối với lạm phát thực tế. Có một số quốc gia ấn định chỉ số
lạm phát mục tiêu là một chỉ số như tại Phần Lan, Ngân hàng Phần Lan cố gắng đạt được
giá trị của chỉ số mục tiêu là 2%, nhưng có quốc gia lại không chọn giá trị của mục tiêu
1à một chỉ số mà là một khoảng biên độ, như tại Niu Dilân (0-3%), Canađa (1-3%) và
Vương quốc Anh (1-4%). Tại Tây Ban Nha, chỉ số lạm phát mục tiêu lại được cố định ở
ranh giới cao nhất (mức trần) của lạm phát (<3%).
Như vậy, phương án lựa chọn biên độ phụ thuộc vào khả năng kiểm soát lạm phát của
NHTƯ và các quốc gia cần tìm ra cho mình một biên độ tối ưu: nếu biên độ hẹp - rất khó
duy trì; biên độ rộng - phản ánh năng lực yếu kém của NHTƯ.
4. So sánh CSMTLP của một số nước trên thế giới

Hơn một chục năm qua kể từ khi CSMTLP được biết đến, đã có rất nhiều
quốc gia áp dụng nó. Tuy có những điểm giống nhau vì cùng dựa trên
những lý thuyết cơ sở nhưng CSMTLP của mỗi nước lại mang những mầu
sắc khác nhau. Để có cái nhìn tương đồng cũng như cở sở so sánh về
CSMTLP của các nước này, chúng ta có thể nhìn vào bảng dưới đây với
những tiêu chí hết sức cơ bản tương ứng với một số vấn đề đã đặt ra ở
phần trên. (Xem bảng 1).
Bảng 1
Quốc gia New Zealand Canada EU
Thời điểm áp dụng CSMTLP 4/1990 26/2/1991 1/1/1999
Chỉ số lạm phát mục tiêu hiện nay 0% - 3% 1% - 3% nhỏ hơn và gần 2%
Tính độc lập của NHTƯ Tương đối Đối tượng của học thuyết “trách
nhiệm tay đôi” Tuyệt đối
Cơ quan công bố lạm phát mục tiêu Sự thoả thuận giữa BTC và chính phủ

NHTƯ không quyết định lựa chọn giá trị này ngay mà đặt mục tiêu là 3%
(biên độ 2% -4%) rồi sau đó giảm dần theo thời gian (3% cho đến hết năm
1992, 2.5% cho đến hết năm 1994, 2% cho 18 tháng tiếp theo). Đến
2/1998, NHTƯ Canada quyết định duy trì mục tiêu 2% đến hết năm 2001
vì thực tế đã chứng tỏ rằng đây là một khung dao động phù hợp, tạo ra
những thay đổi tích cực cho nền kinh tế. Có lẽ vì thế mà vào ngày
18/5/2000 mức 2% đã tiếp tục được quyết định sẽ kéo dài đến hết năm
2006.

Đi sau các nước khác cũng đồng nghĩa với việc rút ra được nhiều bài học
kinh nghiệm, ECB công bố mức 2% là hợp lý và cho một biên độ dao
đông nhỏ hơn và gần 2%. Họ cho rằng nếu mức lạm phát được ấn định
quá cao, chúng ta sẽ phải đối mặt với rủi ro là lạm phát dự tính sẽ tăng
theo hình trôn ốc (khởi đầu là dự tính lạm phát tăng làm cho tiền lương
tăng; tiền lương tăng dẫn đến tăng lạm phát, lạm phát tăng lại làm cho tiền
lương tăng ). Tuy nhiên, nếu xác định ở mức quá thấp thì lại phải đối mặt
với rủi ro thiểu phát nền kinh tế, trong đó mức giá cả chung giảm xuống.
Do vậy, mục tiêu lạm phát sau khi trừ đi sai số ngẫu nhiên vẫn phải đạt
mức trên 0% một chút để tránh nguy cơ thiểu phát vẫn có thể được coi là
ổn định giá cả. ECB đã xác định rằng sai số mà họ có thể mắc phải trong
quá trình thống kê đo lường có thể là 1,5% nên với việc xác định mục tiêu
nhỏ hơn và càng gần 2% càng tốt đã loại trừ cả nguy cơ thiểu phát lẫn bao
gồm những xu hướng tăng giá hợp lý.

Về tính độc lập của NHTƯ: Hoạt động của NHDT New Zealand mang
tính luật định cao được quy định trong các PTA (Policy Targets
Agreement – thoả ước mục tiêu chính sách) nhưng thực ra lại là tính độc
lập tương đối, điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là một mặt NHDT New
Zealand độc lập trong việc thực thi CSTT bằng các công cụ của nó, nhưng
mặt khác nó lại không độc lập trong việc hoạch định CSTT mà những mục

Về sự công khai minh bạch: Để thực hiện điều đó, ngoài việc thường
xuyên tổ chức các buổi hội thảo, những tham luận của các quan chức cao
cấp của NHTƯ và Chính phủ, những chuyến công tác của các Thống đốc,
các nước này đều rất chú ý cho ra các báo cáo một cách thường xuyên:
New Zealand phát hành bản “Tuyên bố CSTT” đều đặn hàng quý từ 3/90,
Canada nửa năm một lần cho ra “Báo cáo CSTT” từ 5/95 và các “Cập nhật
báo cáo CSTT” xen giữa. Trong khi đó ECB còn thường xuyên hơn đều
đặn hàng tháng đều cho ra “Báo cáo CSTT” của mình đến với các chủ thể
trong nền kinh tế. Những báo cáo này đều thường xuyên được cải biến sao
cho ngày càng trở nên sinh động dễ hiểu bằng hàng loạt các đồ thị, biểu
đồ, hình ảnh, sử dụng khá nhiều khoảng trống nhằm thu hút hơn và bạn
đọc có thể dễ dàng tiếp cận với những hoạt động của NHTƯ hơn.
Về dự báo lạm phát: Trong 3 nước được nghiên cứu thì chỉ có New
Zealand là có thực hiện công tác dự báo lạm phát từ những điều tra của
mình 6 tháng một lần thông qua chỉ số MCI (Monetary Conditions Index -
Chỉ số điều kiện tiền tệ) còn Canada và ECB đều không công bố mức lạm
phát dự tính.
Thành công của Ngân hàng Dự trữ New Zealand
Trước năm 1989, Ngân hàng Dự trữ New Zealand là một “đại lý” của Chính phủ và
được trao rất ít sự độc lập. NHTW này chỉ hoạt động với tư cách là cố vấn cho Chính phủ
New Zealand, vì vậy CSTT của nó như là một công cụ hoạt động theo ý muốn của Bộ Tài
chính.
Biểu đồ 2 minh họa điều này. Lịch sử cho thấy, New Zealand đã được xếp vào loại
những quốc gia có Điểm số độc lập của NHTW thấp nhất và tỷ lệ lạm phát của nó đứng
vào loại cao nhất trong thế giới các nước Công nghiệp. Suốt thập niên 70, mức độ lạm
phát của New Zealand luôn ở ngưỡng 2 con số, đôi lúc lên đến 18%. Đáp lại điều đó, để
ổn định giá cả, từ những năm 1989, Ngân hàng Dự trữ New Zealand đã có một sự chuyển
mình mạnh mẽ trong điều hành. Điều này thể hiện qua việc Quốc hội New Zealand đã
nhanh chóng sửa đổi các đạo luật có liên quan, xây dựng và hoàn thiện các đạo luật mới
trong đó khẳng định tiên quyết rằng “Chức năng chủ yếu của Ngân hàng Dự trữ New

của Ban lãnh đạo NHTW.
Biểu đồ 2 chỉ ra rằng Điểm số độc lập của Ngân hàng Dự trữ New Zealand đã có sự
tăng tốc mạnh mẽ, từ 25 điểm giai đoạn 1955-1988 lên đến 89 ở giai đoạn 1989-2000 và
được xem như là một bước ngoặt lớn. Có thể thấy rõ, trong thời kỳ thứ nhất Ngân hàng
Dự trữ New Zealand có số điểm thấp nhất trong số các quốc gia Công nghiệp được
nghiên cứu, tuy nhiên ở giai đoạn sau, nó bức phá lên tốp những NHTW có sự độc lập
cao nhất. Biểu đồ 2 cũng cho thấy, hầu hết những quốc gia Công nghiệp đang nghiên cứu
đều nằm ở nửa trên của tuyến 45 độ, ngụ ý rằng tính độc lập được xem như là một xu
hướng chung trong những khoảng thời gian càng tiến gần đến hiện tại.
Chúng ta cũng nhận thấy rằng tỷ lệ lạm phát của New Zealand đã giảm từ 7,6% (cao
hơn mức trung bình của các quốc gia Công nghiệp) trong giai đoạn thứ nhất xuống còn
2,7% (dưới mức trung bình) trong thời kỳ sau. Vậy thì một câu hỏi được đặt ra là bao
nhiêu sự thành công trong kết quả này có sự đóng góp của sự tăng lên trong mức độ độc
lập của NHTW New Zealand?
Biểu đồ 3 cho thấy trong thời kỳ thứ nhất đã có một mối quan hệ khắng khít giữa tính
độc lập của NHTW và mức lạm phát (trong nhóm các quốc gia nghiên cứu), hay nói cách
khác, khi NHTW của những nước này có quá ít tính độc lập thì mức lạm phát chung
thường rất cao và ngược lại. Giai đoạn thứ hai cho thấy mối quan hệ này đã trở nên kém
rõ ràng hơn, tuy nhiên biểu đồ 3 vẫn cho thấy có một mối quan hệ rất mật thiết giữa tính
độc lập và tỷ lệ lạm phát bình quân. Hơn nữa, sự tác động của tính độc lập của NHTW
vào mức lạm phát là xuyên suốt mọi thời gian, và kết quả này không chỉ đúng với New
Zealand mà còn phù hợp với các quốc gia còn lại.
Từ những kết quả ở biểu đồ 3, chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng sự giảm
xuống trong tỷ lệ lạm phát ở New Zealand (trung bình 4,2%) nhờ chủ yếu vào sự tăng lên
mạnh mẽ tính độc lập của Ngân hàng Dự trữ New Zealand. Và người ta tính toán rằng
nếu như New Zealand trong giai đoạn thứ nhất có Điểm số độc lập của NHTW cao như
ngày nay thì mức lạm phát sẽ chỉ là 3,4% thay vì 7,6% như đã tồn tại. Biểu đồ 3 cũng
khiến các nhà kinh tế đi đến một sự tổng kết rằng nếu có sự tăng lên trong tính độc lập
của NHTW thì mức lạm phát chung trên toàn thế giới sẽ giảm từ 5,6% xuống còn 3,8%.
Thực tế, tỷ lệ lạm phát bình quân trên toàn thế giới là 5,6% (giai đoạn 1955-1988) và

này có thể được thể hiện trên nhiều mặt:

- Mục tiêu được đặt trong một khung giá trị hơn là một con số cụ thể.
- Khung mục tiêu được đặt ra một cách từ từ tăng hoặc giảm theo thời gian để tránh gây
sốc cho nền kinh tế.
- Mỗi mục tiêu có thời gian thực hiện tương đối dài, trong thời gian đó, vẫn có thể chấp
nhận sự lệch ra khỏi mục tiêu một cách tạm thời.

Bốn là, “CSMTLP phải có sự công khai minh bạch và gắn liền với trách nhiệm cao của
NHTƯ” Điều này có tác dụng là khi mà các chủ thể khác trong nền kinh tế biết được
NHTƯ đang làm gì, CSTT đang ở đâu thì những sự dự tính của họ về các nhân tố có liên
quan đến lạm phát sẽ gần hơn với những gì mà NHTƯ mong muốn và tỷ lệ lạm phát
trong dài hạn sẽ rơi vào khung mục tiêu đã đặt ra. Các khía cạnh có thể đề cập đến:
- Bên cạnh các kênh thông tin chính thức phải chú ý quan tâm cả đến những kênh không
chính thức (các bài tham luận, phát biểu, phát hành báo chí, trang web )
- Gia tăng cam kết trách nhiệm của NHTƯ trong việc thực thi các mục tiêu đã đặt ra của
CSTT.

Năm là, “CSMTLP không được phép xung đột với các chính sách kinh tế vĩ mô khác”.
Ngoài CSTT, bất cứ quốc gia nào cũng còn phải thực hiện nhiều các chính sách kinh tế vĩ
mô khác. Việc đặt ra các chính sách chồng chéo và xung đột lẫn nhau tất sẽ gây ra những
khó khăn cho các cơ quan chủ quản trong việc thực thi các chính sách này. Vì vậy ngay
từ khi hoạch định chúng ta đã phải cố gắng làm sao cho các chính sách này không có
xung đột với nhau mới tạo ra những thuận tiện trong quá trình thực hiện sau này.

Sáu là, “dự báo lạm phát - nhân tố góp phần trong thành công của CSMTLP”. Tất nhiên
không phải bất cứ quốc gia nào cũng thực hiện dự báo lạm phát, và cũng không phải bắt
buộc phải dự báo lạm phát mới đem đến thành công cho CSMTLP, nhưng có thể dự báo
trước được những gì có thể xẩy ra cũng không phải là tồi. Nó sẽ góp phần giúp NHTƯ có
được cái nhìn tốt hơn và không bị bất ngờ trước những gì mà mình sẽ phải đối mặt và vì


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status