Lời tác giả
Kính tha các đồng chí trong Hội đồng Khoa học!
Kính tha các đồng chí và các bạn đồng nghiệp!
Là một giáo viên đã có 16 năm cống hiến cho sự nghiệp trồng ngời, tôi
luôn luôn tâm huyết với nghề mà mình đã chọn. Trong quá trình dạy học, tôi
luôn tích cực tìm tòi, học hỏi để trau dồi cho mình những kinh nghiệm của
nghề dạy học. Không chỉ đúc rút, trau dồi những kinh nghiệm cho riêng bản
thân mình mà tôi còn muốn trao đổi những kinh nghiệm đó cùng đồng nghiệp.
Trong những năm học trớc, tôi đã có một số đề tài sáng kiến kinh nghiệm
đạt đợc giải B, giải C cấp tỉnh. Đó là các đề tài: Dạy Tập làm văn cho học sinh
lớp 5 theo phơng pháp tổng hợp kiến thức, Rèn kỹ năng nói và viết câu đúng
ngữ pháp cho học sinh lớp 5, Rèn kỹ năng đọc đúng và diễn cảm cho học
sinh lớp 5.
Năm học 2007- 2008 này, với đề tài Một số biện pháp giúp học sinh lớp
3 khắc phục những sai lầm khi giải bài toán có lời văn, tôi có mong muốn
giúp các em học sinh khắc phục những sai lầm, hạn chế khi giải bài toán có lời
văn để nâng cao kỹ năng giải toán có lời văn nói riêng và nâng cao chất lợng
môn toán nói chung.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là những biện pháp của cá nhân tôi nên chắc chắn
sẽ còn nhiều khiếm khuyết. Tôi rất mong muốn sẽ nhận đợc nhiều ý kiến đóng
góp, xây dựng của các đồng chí để đề tài Một số biện pháp giúp học sinh lớp
3 khắc phục những sai lầm khi giải bài toán có lời văn của tôi đợc hoàn
thiện hơn và đợc áp dụng rộng rãi trong quá trình dạy học.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí!
Tòng Bạt, ngày 30 tháng 5 năm 2008
Tác giả:
Nội dungcủa đề tài
Tên đề tài:
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 khắc phục những sai lầm khi giải
bài toán có lời văn
Lý do chọn đề tài:
- Sĩ số lớp tơng đối đông, một số em lu ban, một số em mới chuyển từ lớp khác đến.
- Phần lớn các em đều là con nông dân, điều kiện gia đình còn nhiều khó khăn nên
sự quan tâm của phụ huynh đối với việc học tập của các em còn nhiều hạn chế.
2
Quá trình thực hiện đề tài
A-Tình trạng thực tế và số liệu điều tra tr ớc khi thực hiện đề tài:
Qua việc trực tiếp giảng dạy các em, tôi nhận thấy kỹ năng giải toán có lời văn bằng
hai phép tính của nhiều em còn hạn chế. Các em gặp phải một số sai lầm nh:
-Thực hiện thiếu phép tính.
-Câu trả lời cha đúng .
-Ghi danh số sai, ghi đáp số sai
Để nắm đợc cụ thể về thực trạng của các em trong lớp về kỹ năng giải bài toán có lời
văn bằng hai phép tính, tôi tiến hành cho các em làm bài kiểm tra khảo sát. Với thời gian
40 phút, các em phải trình bày bài làm gồm 4 bài:
-Bài 1: Thực hiện phép tính (2 điểm)
-Bài 2: Tìm x (2 điểm)
-Bài 3 và bài 4 là hai bài toán có lời văn giải bài toán bằng hai phép tính. Kết quả thu
đợc nh sau:
Điểm
Kết quả 1-2 3-4 5-6 7-8 9-10
Số lợng 0 10 10 6 7
% 0 30,3 30,3 18,1 21,3
Trong đó, đa số các em đều làm tốt bài 1 và bài 2. Số các em đạt điểm 3, 4, 5, 6 là do
các em làm sai ở hai bài toán có lời văn.
B - Các biện pháp thực hiện:
1/ Phát hiện, phân loại những sai lầm mà học sinh hay mắc.
2/ Hớng dẫn học sinh khắc phục những sai lầm khi phân tích đè toán và nhận dạng
bài toán.
3/ Hớng dẫn học sinh khắc phục những sai lầm khi thực hiện các bớc giải bài toán.
4/ Tổ chức thành lập Câu lạc bộ Toán học.
dạng bài toán.
Với mỗi bài toán, tôi thờng yêu cầu học sinh đọc đề toán ít nhất là 3 lần
và sau khi đọc đề toán cần phải xác định đợc : Đề toán cho biết những gì? Đề
toán yêu cầu ta phải tìm cái gì?. Thời gian đầu, tôi trực tiếp hỏi học sinh những
câu hỏi đó. Khi học sinh trả lời trớc lớp, tôi luyện cho các em cách trả lời
những câu hỏi này không phải là đọc lại đề bài một cách máy móc mà phải
thực sự hiểu những số liệu mà đề bài đã cho cũng nh những cái mà đề toán yêu
cầu phải tìm.
Ví dụ: Bài 1 Tiết 50: Giải bài toán bằng hai phép tính
Anh có 15 tấm bu ảnh, em có ít hơn anh 7 tấm bu ảnh. Hỏi cả hai anh em
có bao nhiêu tấm bu ảnh?
Sau khi học sinh đọc kỹ đề bài, tôi hỏi:
-Bài toán cho chúng ta biết những gì?
4
Cả lớp đều giơ tay. Một học sinh đợc gọi đã trả lời:
Bài toán cho biết: anh có 15 tấm bu ảnh, em có ít hơn anh 7 tấm bu ảnh.
Tôi hỏi lại: Vậy bài toán cho biết số bu ảnh của anh là bao nhiêu? thì
số học sinh giơ tay giảm đi một nửa.
Điều đó cho thấy rằng khi đợc cô giáo hỏi Bài toán cho biết những gì?
thì các em chỉ đọc lại đề một cách máy móc chứ cha hiểu thật chính xác những
số liệu mà đề toán đã cho. Do vậy, tôi nhắc các em khi đọc đề toán cần nắm
chắc, hiểu rõ những số liệu mà đề toán đã cho. Anh có 15 tấm bu ảnh chính
là đề bài đã cho biết: số bu ảnh của anh là 15 tấm.
Cũng nh vậy, khi tôi hỏi Bài toán yêu cầu ta tìm cái gì? thì học sinh đều
trả lời là Hỏi cả hai anh em có bao nhiêu bu ảnh?. Giáo viên phải giải thích
cho các em: nh vậy là bài toán yêu cầu tìm số bu ảnh của cả hai anh em.
Với cách hớng dẫn kỹ càng nh vậy, các em đã dần dần nắm vững cách
phân tích các đề toán. Sau khi đọc mỗi đề toán, tôi cho các em hỏi - đáp theo
cặp để phân tích đề toán. Từ đó thay bằng việcgiáo viên hỏi học sinh trả lời,
tôi có thể mời một cặp học sinh hỏi - đáp trớc lớp để phân tích đề toán.
4 gói kẹo và 1 gói bánh nặng: ? gam.
Với những bài toán có thể tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng (phần lớn các
bài toán ở lớp 3 đều có thể tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng). Tôi luôn yêu cầu
các em phải chia tỷ lệ chính xác (cách thuận tiện và dễ dàng nhất là sử dụng
những ô ly trong vở để chia tỷ lệ); điền đầy đủ những chữ và số liệu cần thiết
sao cho chỉ cần nhìn vào sơ đồ là có thể đọc lại đợc đề toán.
Ví dụ: Bài tập 3- Tiết 58: Luyện tập
Thu hoạch ở thửa ruộng thứ nhất 127kg cà chua, ở thửa ruộng thứ hai đợc
nhiều gấp 3 lần số cà chua ở thửa ruộng thứ nhất. Hỏi thu hoạch ở cả hai thửa
ruộng đợc bao nhiêu ki- lô -gam cà chua?
Giáo viên phải hớng dẫn để học sinh tóm tắt đợc nh sau:
127 kg
Thửa ruộng thứ nhất: ? kg
Thửa ruộng thứ hai: cà chua
Từ việc phân tích kỹ đề toán, tóm tắt đợc đề toán, giáo viên giúp các em
xác định dạng toán để tìm ra cách giải vì mỗi dạng toán có cách giải khác nhau.
Trong thực tế, các em cũng rất hay nhầm lẫn giữa các dạng toán nh: Bài
toán có liên quan đến gấp lên một số lần và bài toán có liên quan đến giảm đi
một số lần; bài toán có liên quan đến rút về đơn vị dạng bài tìm giá trị của
nhiều phần và dạng bài tìm số phần Với những dạng toán dễ nhầm lẫn này tr-
ớc khi thực hiện bài giải học sinh phải nêu đợc tên dạng toán và các bớc giải
dạng toán đó.
6
Nói tóm lại, nhờ có những biện pháp hớng dẫn học sinh phân tích đề toán
và nhận dạng bài toán tôi đã giúp các em khắc phục đợc những sai lầm khi tìm
hớng giải cho từng bài toán cụ thể.
3/ H ớng dẫn học sinh khắc phục những sai lầm khi thực hiện các b ớc giải
bài toán:
Trong quá trình thực hiện bài giải, các em cũng mắc không ít những sai lầm.
Sai lầm mà các em thờng hay mắc nhất là câu trả lời sai.
bảng cộng, trừ, nhân, chia hoặc cha nắm vững kỹ thuật tính toán. Đối với các
em này, cùng với việc hớng dẫn các em nắm vững cách phân tích đề và lập kế
hoạch giải bài toán, tôi còn yêu cầu các em học thuộc lại các bảng cộng, trừ,
nhân, chia và nắm vững lại kỹ thuật tính toán.
Bên cạnh việc ghi câu trả lời sai, tính toán sai, một số em còn ghi sai danh
số sau mỗi phép tính.
Ví dụ: Bài tập 4 Tiết 103: Luyện tập
Một kho có 4720kg muối, lần đầu chuyển đi 2000kg muối, lần sau
chuyển đi 1700kg muối. Hỏi trong kho còn lại bao nhiêu ki- lô- gam muối?
Một số học sinh đã trình bày bài giải nh sau:
Cả hai lần chuyển đi số muối là:
2000 + 1700 =3700 (muối)
Số muối còn lại trong kho là:
4720 - 3700 = 1020 (muối)
Đáp số: 1020 muối.
Nh vậy, rõ ràng các em không xác định đợc danh số phải ghi sau mỗi
phép tính trên là gì. Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần yêu cầu học
sinh bám chắc vào các câu hỏi tổng hợp khi lập kế hoạch giải toán. Yêu cầu các
em phải xác định đợc: Phép tính thứ nhất ta tính số ki- lô- gam muối chuyển
đi ở cả hai lần, phép tính thứ hai ta tính số ki- lô- gam muối còn lại. Nh vậy,
danh số phải ghi sau mỗi phép tính là kg.
Bài tập 4- Tiết 126: Luyện tập
Mẹ mua một hộp sữa hết 6700 đồng và một gói kẹo hết 2300 đồng. Mẹ đa
cô bán hàng 10.000 đồng. Hỏi cô bán hàng phải trả lại mẹ bao nhiêu tiền?
Một số học sinh trình bày nh sau:
Mẹ mua sữa và kẹo hết số tiền là:
6700 + 2300 = 9000 (tiền)
Cô bán hàng phải trả lại mẹ số tiền là:
10.000 9000 = 1000 (tiền)
Đáp số: 1000 tiền
trong nhóm có nhiệm vụ su tầm một đề toán (bài toán có lời văn) có phạm vi
kiến thức là những nội dung mà các em đã đợc học (Có thể su tầm ở báo Nhi
đồng, Tạp chí Toán tuổi thơ hay ở những sách toán nâng cao của lớp 3). Nhóm
trởng sẽ tập hợp và dới sự cố vấn củacô giáo, sẽ lựa chọn một đề toán hay nhất
để đố nhóm bạn. Nhng trớc khi đố nhóm bạn, cả nhóm phải đợc thông qua đề
toán đó, tự mỗi em phải trình bày cách giải bài toán đó để nộp cho nhóm trởng.
Dới sự cố vấn của cô giáo, nhóm trởng sẽ chọn ra những bài làm đúng và có
trách nhiệm phổ biến các cách làm đúng để các bạn trong nhóm cùng nắm đợc.
9
Từ việc lựa chọn đề toán đến việc phổ biến cách giải bài toán đó đều đợc bí mật
trong mỗi nhóm.
Đến ngày sinh hoạt, mỗi nhóm sẽ đố nhóm bạn đề toán của nhóm mình
và nhận đề toán mà nhóm bạn đố. Sau đó cả nhóm sẽ thảo luận để tìm ra cách
giải bài toán đợc nhóm bạn đố và cử một bạn đại diện cho nhóm trình bày cách
giải trớc lớp. Giáo viên sẽ làm trọng tài để chữa bài và chấm điểm bài làm của
các nhóm. Buổi sinh hoạt cuối cùng, giáo viên cộng điểm, tổng kết và trích quỹ
lớp để thởng cho nhóm đợc tổng số điểm cao hơn.
Với cách tổ chức nh vậy, các em đã su tầm đợc rất nhiều đề toán hay. Câu
lạc bộ đã sinh hoạt đợc 16 buổi, số bài toán đợc giải là 32 bài. Tôi đã có điều
kiện để giúp các em tiếp cận với nhiều bài toán hay, với nhiều cách giải phong
phú, góp phần nâng cao kỹ năng giải toán có lời văn cho đại bộ phận học sinh
trong lớp.
Kết quả thực hiện có so sánh đối chứng
Sau một thời gian áp dụng đề tài Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 khắc
phục những sai lầm khi giải bài toán có lời văn, tôi nhận thấy học sinh trong
lớp đã có tiến bộ. Kết quả bài kiểm tra cuối kỳ I môn toán đạt đợc nh sau:
Điểm
Kết quả 1-2 3-4 5-6 7-8 9-10
Sốlợng 0 6 8 10 9
% 18,2 24,2 30,3 27,3