ÐÁP ỨNG MIỄN DỊCH QUA
TRUNG GIAN TẾ BÀO
(Kỳ 9)
2.2. Vai trò bảo vệ của đáp ứng quá mẫn muộn
Ðáp ứng quá mẫn muộn đóng một vai trò quan trọng trong đề kháng chống
lại các vi khuẩn ký sinh trong tế bào và nấm. Người ta đã biết một số tác nhân gây
bệnh khác nhau ký sinh nội bào như Mycobacterium tuberculosis, Listeria,
Brucella, Candida và Pneumocystis carinii gây ra đáp ứng quá mẫn muộn. Sự tập
trung của các đại thực bào hoạt hoá cùng với sự giải phóng tại chỗ các enzym của
lysosome sẽ dẫn đến phá huỷ một cách nhanh chóng các tác nhân gây bệnh trú ngụ
bên trong tế bào (hình 13-13). Về phương diện này thì đáp ứng này là không đặc
hiệu, tuy nhiên thường thì lại dẫn đến tổn thương một cách rõ rệt các mô khoẻ
mạnh. Nhìn chung đây là cái giá mà cơ thể phải trả để loại bỏ cho được các tác
nhân gây bệnh là vi khuẩn, nấm trú ngụ bên trong tế bào. Tầm quan trọng của đáp
ứng quá mẫn muộn trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh khác
nhau trong tế bào được minh hoạ trong bệnh AIDS. Trong bệnh này do bị thiếu
hụt các tế bào TCD4+ một cách nghiêm trọng nên bệnh nhân bị mất đáp ứng quá
mẫn muộn và vì vậy bệnh nhân AIDS thường bị nguy cơ đe doạ tính mạng bởi
nhiễm các vi khuẩn, nấm, ấu trùng ký sinh nội bào, trong khi các cá thể có đáp ứng
quá mẫn muộn bình thường không xẩy ra nguy cơ này. Ðáp ứng miễn dịch trong
bệnh AIDS sẽ được trình bầy chi tiết trong 1 chương riêng.
Một ví dụ khác về tầm quan trọng của đáp ứng quá mẫn muộn trong cơ chế
đề kháng của túc chủ đó là trường hợp nhiễm Leishmania major, một loại ấu trùng
nằm trong tế bào gây bệnh Leishmania, bệnh này thường là nguyên nhân gây tử
vong ở các nước thuộc thế giới thứ ba. Người ta đã xây dựng được mô hình bệnh
này trên chuột nhắt. Các dòng chuột thuần chủng khác nhau khi bị nhiễm cùng
một loại L. major cho thấy những điểm khác nhau về di truyền và mức độ nhậy
cảm với tác nhân gây bệnh. Ví dụ dòng chuột CBA xuất hiện các tổn thương nhỏ
tại vị trí tiêm chủng và tiến triển có thể tự giới hạn được nhiễm khuẩn tạo cho
động vật khả năng miễn dịch đối với nhiễm trùng tiếp theo. Việc phân tích đáp
ứng miễn dịch ở những chuột nhắt này cho thấy các tế bào TCD4+ là các tế bào
phản ứng quá mẫn muộn trong đó 80 - 90% số tế bào này là các đại thực bào.
Có thể xác định được đáp ứng quá mẫn muộn trên in vitro bởi sự có mặt
của các cytokine mà mức độ hoạt động của các cytokine này cho các dấu hiệu chỉ
điểm cường độ của đáp ứng. Ví dụ như sự sản xuất yếu tố MIF bởi các lympho
bào của động vật đã mẫn cảm cho thấy có liên quan chặt chẽ với khả năng tạo ra
được đáp ứng quá mẫn muộn của động vật ấy. Như đã được đề cập, người ta cho
rằng yếu tố MIF là do các tế bào TDTH hoạt hoá chế tiết ra. Vì thế khảo sát sự sản
xuất yếu tố MIF bằng cách nuôi cấy các lympho bào đã tiếp xúc với kháng nguyên
có thể dùng làm thử nghiệm in vitro để đánh giá đáp ứng quá mẫn muộn (hình 13-
14). Trong thử nghiệm này, đầu tiên các lympho bào được nuôi cùng với kháng
nguyên và các tế bào trình diện kháng nguyên tương ứng. Sau đó lấy nước nổi
nuôi cấy cùng với các đại thực bào cho vào các ống mao quản bằng thuỷ tinh. Ðặt
ống mao quản này trên một mặt phẳng nằm ngang ngập trong môi trường nuôi
cấy. Nếu như có yếu tố MIF thì các đại thực bào sẽ ở nguyên trong ống còn nếu
không có yếu tố MIF thì các đại thực bào sẽ di chuyển ra khỏi ống vào bề mặt nằm
ngang đó. Bằng cách theo dõi sự di chuyển của đại thực bào chúng ta có thể xác
định được là yếu tố MIF có được tạo ra trong nuôi cấy lympho bào in vitro hay
không.
2.4. Ðáp ứng quá mẫn muộn bệnh lý
Trong một số trường hợp đáp ứng quá mẫn muộn chống lại tác nhân gây
bệnh bên trong tế bào có thể gây ra những tổn thương mô trầm trọng và đáp ứng
này tự nó là nguyên nhân gây bệnh và đây mới thực sự là trạng thái quá mẫn.
Nhiều tổn thương mô ở phổi trong bệnh lao là do tập trung các đại thực bào hoạt
hoá và các enzym trong lysosome của chúng gây phá huỷ nhu mô phổi bình
thường. Các phản ứng quá mẫn muộn cũng có thể phát triển chống lại các kháng
nguyên không tương ứng như nhựa cây sơn và các chất gây kích ứng da do tiếp
xúc. Các trường hợp thực sự là quá mẫn như vậy trong đó tổn thương mô vượt xa
các tác dụng có lợi sẽ được nói đến trong chương quá mẫn.