Trang 2
PHÒNG GIÁO DỤC DALAT
TRƯỜNG THCS PHAN CHU TRINH
THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG
ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH
TRONG HỌC TẬP BỘ MÔN HÓA
HỌC
L
Trường THCS Phan Chu Trinh , Dalat 2007
GIẢI PHÁP HỮU ÍCH
TRƯỜNG THCS PHAN CHU TRINH
THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG
ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH
TRONG HỌC TẬP BỘ MÔN HÓA HỌC
Lê thò Ngọc Thủy
dalat tháng 01/ 2007
Trang 3
GIẢI PHÁP HỮU ÍCH
Dàn ý
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
I. Cơ sở thực tiễn và lý luận
2. Các giải pháp
3. Tiết minh họa
nhằm khơi dậy niềm say mê sáng tạo và khả năng khám phá thế giới xung
quanh .
Nhiệm vụ cơ bản của việc giảng dạy môn hóc học cũng như các môn
học khác trong nhà trường phổ thông là đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến
thức được truyền thụ, làm cho học sinh hiểu đúng bản chất của kiến thức ấy,
gắn được chúng với những điều đã tiếp thu từ trước và vận dụng vào thực
tiễn.
Năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo Dục – Đào tạo đã tiến hành thay sách
trong cả nước ở lớp 1 và lớp 6. Sự đổi mới chương trình sách giáo khoa bắt
buộc thay đổi cả phương pháp truyền thụ kiến thức của giáo viên lẫn phương
pháp học tập của học sinh. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian
tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.
Trang 5
Hóa học đóng vai trò rất quan trọng trong giáo dục cũng như trong sản
xuất. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của nhà trường và phát triển con người
toàn diện theo yêu cầu của xã hội. Trong những năm gần đây, giáo dục được
coi là ngành then chốt trong chiến lược đào tạo thế hệ trẻ góp phần làm cho
dân giàu, nước mạnh dân chủ và văn minh. Ta có thể khẳng đònh rằng môn
hóa học ở trường phổ thông nói chung và phương pháp hình thành kỹ năng
thiết kế một bài dạy hóa học vừa chú ý rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo hóa học
và phát huy được tính tích cực học tập của học sinh… Trong phương pháp dạy
học Hóa học ở trường THCS ở mọi lónh vực để thực hiện đúng kỷ năng tự
chiếm lónh tri thức. Học sinh phải trau dồi kiến thức và phải nắm vững
phương pháp, thuật ngữ Hóa học .
Do sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công
nghệ thông tin trên toàn thế giới chúng ta cần nhìn thẳng vào những vấn đề
tồn tại của ngành giáo dục làm thế nào đưa ngành giáo dục nước nhà tiến
nhanh và đuổi kòp với các nước trên thế giới.
bò cho học sinh những kiến thức mà còn phát huy ở các em tư duy sáng tạo,
hình thành ở học sinh kỹ năng, kỹ xảo: quan sát, nghiên cứu, chứng minh các
thí nghiệm hóa học, tự làm các thí nghiệm hóa học, tập dượt, làm quen
phương pháp nghiên cứu để có hiểu biết thực tế về đời sống con người, gần
gũi nhất là hiểu biết về chính bản thân mình .
Việc phát triển năng lực trí tuệ và khả năng tự học của học sinh trong
giờ học, học sinh không chỉ được trang bò kiến thức trong sách giáo khoa mà
còn hình thành phẩm chất của người lao động mới trong thời đại phát triển
của khoa học công nghệ .
1) Đối với giáo viên :
Thiết kế giáo án bao gồm các hoạt động của giáo viên và học sinh
theo những mục tiêu cụ thể của mỗi bài học hóa học mà học sinh cần
đạt được . Thiết kế hệ thống câu hỏi và bài tập để đònh hướng cho học
sinh hoạt động .
Tổ chức các hoạt động trên lớp để học sinh hoạt động cá nhân hoặc
theo nhóm như : nêu vấn đề cần tìm hiểu, tổ chức các hoạt động tìm
tòi, phát hiện tri thức và hình thành kỹ năng
Trang 7
Đònh hướng điều chỉnh các hoạt động của học sinh: chính xác hóa các
khái niệm hóa học, các kết luận về các hiện tượng, bản chất hóa học
mà học sinh tự tìm tòi được
Thiết kế và việc thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan,
hiện tượng thực tế, thí nghiệm… là nguồn để học sinh khai thác, tìm
kiếm, phát hiện những kiến thức, kỹ năng về hóa học .
Tạo điều kiện để học sinh được vận dụng nhiều hơn những tri thức của
mình để giải quyết một số vấn đề có liên quan tới hóa học trong đời
sống, sản xuất.
2) Đối với học sinh :
Tự phát hiện vấn đề hoặc nắm bắt vấn đề do giáo viên nêu ra
hướng dẫn .
Tăng cường hoạt động theo nhóm và học tập cá nhân .
Giảm trình bày lý thuyết, tăng thực hành vận dụng.
II. CÁC GIẢI PHÁP:
Với những thực trạng nêu trên tôi đã đưa ra những giải pháp cụ thể
trong việc thiết kế nội dung hoạt động học tập cho bộ môn hóa học nhằm
phát huy trí lực học sinh gồm các yêu cầu cụ thể sau :
- Lựa chọn phương pháp khi thảo luận .
- Sử dụng đồ dùng dạy học, mô hình, hình vẽ, sơ đồ, tin học ứng dụng
hiện đại .
- Dùng phiếu học tập, bài tập thảo luận .
- Cung cấp thông tin
- Chọn cách ghi bảng .
1) Lựa chọn phương pháp khi thảo luận :
* Phương pháp hoạt động nhóm :
Học tập hợp tác theo phương pháp này trong dạy học hóa học được
thực hiện khi :
+ Thỏa thuận để tìm ra lời giải, một nhận xét , một kết luận nào đó .
+ Cùng thực hiện một việc giáo viên giao cho
Để phát huy tính tích cưcï hợp tác theo nhóm, cần đảm bảo một số yêu cầu
sau đây :
Phân nhóm nhóm trưởng và thư ký: Nhóm trưởng có nhiệm vụ phân
công trách nhiệm và yêu cầu mỗi thành viên thực hiện đúng trách
nhiệm của mình. Thư ký có trách nhiệm ghi kết quả thảo luận, cử
đại diện thành viên của nhóm báo cáo kết quả của mình
Những bài học có kiến thức khó đòi hỏi khả năng tư duy cao và tập
trung, giáo viên nên cho thảo luận nhóm lớn (2 bàn ghép lại)
Nội dung kiến thức vừa phải không cần tập trung nhiều học sinh để
tư duy thì có thể cho thảo luận nhóm nhỏ (2 học sinh)
Chú ý: Khi thảo luận nhóm quy đònh về thời gian và đánh gía thảo luận
vòng 7 phút
Học sinh đọc đề bài
- Học sinh đứng tại chỗ nêu tóm tắt đề
bài :
Tóm tắt đề bài :
m
P =
3,1 g
V
2
O
= ?
m
5
2
OP
= ?
v = n.22,4
- HS thảo luận nhóm lớn , làm vào
bảng phụ.
- Nhóm trưởng điều hành
-Cử 1 thư ký ghi chép
- Cử1 bạn nhận xét kết quả của nhóm
khác
Số mol của Photpho là:
n
P
=
)(1.0
31
Trang 10
- các nhóm nộp bảng phụ
- Cho các nhóm nhận xét và bổ
sung .
GV sữa chữa sai ( nếu có)
n
)(05.0
4
21.0
52
mol
OP
=
×
=
Thể tích khí oxi cần dùng là :
V
2
O
= n x 22,4 = 0,125 x 22,4
= 2,8 (l)
- Khối lượng của chất tạo thành
m
52
OP
= 142 x 0,05
= 7,1 ( g)
• Phương pháp đàm thoại , nêu vấn đề để dạy học môn hóa học
tích cực Lựa chọn những kiến thức đang được nghiên cứu , có
kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận.
+ Vấn đáp Giải thích – minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ vẫn đề
nào đó, GV lần lượt nêu ra các câu hỏi kèm theo ví dụ minh họa để HS dễ
nhớ, dễ hiểu .
* Phương pháp trực quan - tìm tòi :
Trong dạy học hóa học học sinh nhận thức các hiện tượng hóa học
không chỉ bằng mất màu mà còn bằng các giác quan như: nghe, ngửi, sờ và
một số ít trường hợp nếm nữa. Đó chính là nguồn thông tin về sự vật và hiện
tượng đó làm cơ sở lónh hội trực tiếp nhờ các giác quan những kiến thức kỹ,
năng, kỹ xảo về các phương tiện được nghiên cứu đều gọi là các phương tiện
trực quan. Nó bao gồm :
+ Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên.
+ Thí nghiệm thực hành của học sinh .
Những PPDH trên đây thường được sử dụng đặc trưng cho môn hóa học
tuỳ theo loại kiến thức sẽ áp dụng PPDH cho thích hợp và phát huy tính tích
cực của HS.
Tóm lại, giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy –
học để dạy và học hoá học tích cựcï hơn. Sau đây là những nhận đònh cần
thiết về vấn đề này .
a) Dạy – Học không phải là một phương pháp mà là một quan điểm sư
phạm .
b) Tất cả các phương pháp đã biết đều có thể sử dụng theo hướng tích
cực hóa hoạt động của HS. Cần lựa chọn phối hợp các phương pháp
một các linh hoạt, sáng tạo phù hợp với nội dung hóa học để tạo
điều kiện cho học sinh tích cực, chủ động độc lập sáng tạo khám
phá, tìm tòi xây dựng kiến thức mới từ kinh nghiệm, kiến thức đã
biết dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên.
c) Các phương pháp đặc trưng của bộ môn hóa học phải được ưu tiên
sử dụng trong dạy học hóa học tích cực :
Trang 12
vấn đề cần phải quan tâm.Vì vậy khi sử dụng công nghệ thông tin cần đảm
bảo các yêu cầu sau:
Bảo đảm tính mục đích: sử dụng máy tính và các phần mềm hóa học là
phương tiện giúp giáo viên tổ chức và học sinh thực hiện các hoạt động hoá
học theo hướng: học sinh tích cực, chủ động xây dựng kiến thức và rèn luyện
kỹ năng hoá học
Trang 13
- Bảo đảm hiệu quả: không coi máy tính và phần mềm hóa học chỉ là
công cụ trình chiếu mà thực sự giúp học sinh tìm tòi, vận dụng kiến
thức.
- Đảm bảo tính thiết thực và phù hợp: chỉ sử dụng máy tính và phầm
mềm đa phương tiện phù hợp với nội dung, hình thức và phương pháp
cụ thể ở mỗi bài, chương. Không sử dụng tràn lan. Ví dụ một số thí
nghiệm hóa học có điều kiện giáo viên làm hoặc học sinh thực hiện
được thì không nên sử dụng hình ảnh thí nghiệm trong bài .
Việc sử dụng công nghệ thông tin chỉ khuyến khích các giáo viên ở
những trường có điều kiện thực hiện.
Bên cạnh sử dụng những phương tiện dạy học hóa học tích cực trên ,
trong quá trình soạn giáo án chúng tôi luôn cố gắng đầu tư cho hệ thống câu
hỏi: số lượng câu hỏi không cần nhiều nhưng phải chọn lọc để câu hỏi mang
tính tổng hợp trong quá trình tái hiện kiến thức cũ, gợi mở dẫn dắt đến kiến
thức mới từ thông tin trong sách giáo khoa, cố gắng hạn chế đến mức tối đa
những câu hỏi vụn vặt và những câu hỏi mà học sinh chỉ dựa vào sách giáo
khoa để trả lời .
3) Phiếu học tập, bài tập thảo luận trên lớp :
Đây là công việc rất quan trọng nhằm tạo ra hứng thú, say mê học tập
của học sinh nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng là phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh .
Bài tập hóa học không chỉ giúp HS củng cố, vận dụng, khắc sâu kiến
4. Trong phương trình hóa
học của phản ứng số nguyên
tử của mỗi nguyên tố….
d. Đã được cân bằng
4 ghép với …
e. Biến đổi chất này thành chất
khác .
Đáp án : 1 ghép với c , 2 ghép với a , 3 ghép với b, 4 ghép với d
Nếu nội dung lệnh đã rõ ràng cụ thể thì giáo viên nên sử dụng bảng
phụ để học sinh dễ dàng hơn trong báo cáo, trao đổi với nhau .
Đôi khi để kiểm tra học sinh thu nhận thông tin có sẵn, giáo viên cần
đưa ra dạng bài tập ngay trong bài bằng câu trắc nghiệm điền khuyết hoặc
chọn câu dúng nhất để có cơ sở nhận đònh việc lónh hội kiến thức của học
sinh.
Ví dụ: Tiết 27 : Bài 19 : CHUYỂN ĐỔI GIỮA KHỐI LƯNG ,
THỂ TÍCH VÀ LƯNG CHẤT .
Chọn biểu thúc sai trong các câu sau đây :
Giữa khối lượng của chất (m gam), lượng chất (n mol) và khối lượng mol phân
tử (m gam) có mối quan hệ :
a. m = n. M b. n =
M
m
c. M =
n
m
d. M =
m
n
4) Cung cấp thông tin :
Bên cạnh những giải pháp nêu trên thì việc cung cấp thông tin vào bài
- Học sinh biết được trong điều kiện bình thừơng về nhiệt độ và áp
suất , oxi là một chất khí không màu , không mùi ít tan trong nước và
nặng hơn không khí.
- Khí oxi là một đơn chất rất họat động dễ dàng tham gia phản ứng với
hóa học với nhiều kim loại và phi kim và nhiều hợp chất . Trong các
hợp chất hóa học , nguyên tố oxi chỉ có hóa trò II.
- Viết được phương trình hóa học của oxi với S, P , Cl …
2. Kỹ năng :
Trang 16
- Nhận biết oxi , sử dụng đền cồn và cách đốt một số chất trong oxi
- Viết phương trình hóa học của oxi với lưu hùynh, photpho, clo .
3. Thái độ :
- Giáo dục ý thức bảo vệ không khí trong lành, chống ô nhiễm không
khí.
- Giáo dục tính cẩn thận tỉ mỉ trong khi làm thí nghiệm .
II. PHƯƠNG PHÁP :
- Thí nghiệm biểu diễn, đàm thọai, nêu vấn đề, trực quan, hoạt động nhóm.
III. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC :
1) Giáo viên :
+ Dụng cụ: Đèn cồn, ống dẫn khí, lọ thủy tinh, thìa sắt, nút cao su
+ Hóa chất : KMnO
4
(hoặc KClO
3
và MnO
2
) , lọ oxi đã điều chế sẵn .
+ Nội dung phiếu học tập, đèn chiếu
2) Học sinh :
- GV cho HS mở lọ oxi ra
đưa lên mũi dùng tay phẩy
nhẹ nhận xét mùi của
khí .
+ 1 lít nước ở 20
0
C hòa tan
được 3ml lít khí oxi . Có
chất khí ( thí dụ amoniac)
tan được 700lít nước . Vậy
khí oxi là chất tan nhiều
hay tan ít trong nước?
- cho biết tỷ khối của oxi
đối với không khí
- khí oxi nặng hơn không
khí . Vậy muốn thu khí oxi
ta để ngữa ống nghiệm
hay úp ống nghiệm, ngoài
ra còn có cách thu khí oxi
qua nước .
- GV cung cấp thông tin ở
áp suất khí quyển oxi hóa
lỏng ở – 183
0
C oxi có màu
xanh nhạt.
- Qua những thông tin trên
hãy rút ra kết luận oxi có
những tính chất vật lý gì ?
Liên hêï : Hãy giải thích tại
không khí , hóa lỏng ở
– 183
0
C, có màu xanh
nhạt .
Trang 18
sao trong ao hồ nuôi cá,
người ta thường dùng nhiều
cánh quạt lớn chạy bằng
máy để khuấy đảo nước.
- Trong sản xuất người ta
chuyên chở và chứa oxi
bằng cách nào?
Chuyển ý : làm thế nào để
biết được tính chất hóa học
của oxi hoạt động 2
- Vì cá cũng hô hấp bằng
oxi, nhưng oxi có khả
năng hoà tan trong nước
rất ít nên người ta thường
dùng cánh quạt khuấy
vào nước để tăng khả
năng hoà tan oxi trong
nước .
- Bình nén
Hoạt động 2 : (25phút)
II. TÍNH CHẤT HÓA HỌC .
- Gọi HS đọc cách tiến
hành thí nghiệm SGK.
SGK
Gv hướng dẫn và theo dõi
giúp đỡ nhóm yếu
- So sánh sự cháy của P
đioxit (SO
2
)
- Hs đọc tên sản phẩm
-HS tiến hành thí nghiệm
- Hs đọc tên sản phẩm
-HS tiến hành thí nghiệm
- Gọi 1 HS lên bảng viết ,
nêu trạng thái chất tham
gia vàsản phẩm .
PTPƯ :
S
(r )
+ O
2 (k)
SO
2
(k)
SO
2
:lưu huỳnh đi oxit
(khí sunfurơ)
b)Với Photpho:
+ Thí nghiệm : SKG
+ Hiện tượng :Photpho
Liên hệ con dế mèn để
trong lọ chết vì thiếu oxi ,
khí oxi duy trì sự sống .
hoặc phải bơm hoặc sục khí
vào các bể nuôi cá( vì oxi
tan 1 phần trong nước ) để
cung cấp thêm oxi cho cá.
- Cho HS xem thí nghiệm
ảo
- GV cho HS báo cáo kết
quả quan sát và nhận xét
- Các hạt nóng chảy màu
nâu là sắt II, III oxit
(Fe
3
O
4
)
- HS viết phương trình phản
ứng .
GV sắt nóng chảy đến
nhiệt độ cần thiết để có thể
cháy được trong oxi . GV
Oxi tác dụng hầu hết với
kim loại trừ vàng và
Platinoxit
-
- HS làm theo nhóm
+ Đốt P ở ngoài không
khí quan sát
O
5 (k )
2) Tác dụng với kim
loại :
* Tác dụng với sắt :
+ Thí nghiệm : SGK
+Hiện tượng:
Sắt cháy mạnh , sáng
chói tạo thành chất
nóng chảy màu nâu là
oxit sắt từ (Fe
3
O
4
)
3Fe
(r)
+2O
2(k)
Fe
3
O
4(r )
(FeO.Fe
2
O
3
)
Trang 20
- Khí oxi là 1 đơn chất
phi kim rất hoạt động,
đặc biệt ở nhiệt độ cao,
dễ dàng tham gia phản
ứng với nhiều phi kim,
nhiều kim loại và hợp
chất. Trong các hợp chất
hóa học, nguyên tố oxi có
hóa trò II
- Thợ lặn, phi công, lái
máy bay, phi công vũ trụ,
bệnh nhân khó thở, công
nhân làm việc trong các
hầm mỏ sâu …
3) Tác dụng với hợp chất
CH
4 (k)
+ 3O
2 (k)
CO
2 (k)
+ 2H
2
O
(h).
HS học thuộc kết luận
SGK
Kiểm tra đánh giá : ( 7phút)
1. Tại sao oxi có vai trò rất quan trọng trong đời sống của chúng ta. Trong
thiên oxi co nhiều ở đâu? và chúng ta cần làm gì để có đủ oxi cho sự
8A
1
38 11 29.7 10 27 15 40.6 1 2.7
8A
2
39 10 26.3 12 31.6 4 10.5
8A
3
38 9 24.3 10 27 12 32.5 6 16.2
V. KẾT LUẬN
Trang 22
hiết kế bài dạy theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong chương
trình thay sách giáo khoa hóa học THCS đã tạo cho học sinh nhu cầu
nhận thức, ham muốn tìm hiểu, tự lực tham gia các hoạt động học
tập , có điều kiện tranh luận, bảo vệ ý kiến của mình .
T
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa các hoạt động
học tập của học sinh là một quá trình lâu dài. Việc phát triển các phương
pháp tích cực đòi hỏi giáo viên phải đổi mới mục tiêu bài học, đổi mới cách
soạn bài , đổi mới trong cách kiểm tra đánh giá học sinh .
Phương pháp dạy học tích cực đã khắc phục được tình trạng học sinh
chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động trước sự hướng dẫn của giáo viên,
tạo cho học sinh hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều
hơn để giải quyết những vấn đề đặt ra dựa trên kiến thức cũ, kinh nghiệm
sống, qua sự dẫn dắt của giáo viên tạo cho học sinh nhu cầu bức xúc để tự
giải đáp thắc mắc.
Phương pháp dạy học mới hiện nay đã thực sự kích thích hoạt động tư
duy của học sinh, hình thành ý thức ham muốn học tập, say mê quan sát,
nghiên cứu, có sự cố gắng trí tuệ để nắm kiến thức, từ đó khắc sâu hơn nội