Bài thảo luận "Phân tích SWOT ngành du lịch Việt Nam" potx - Pdf 16

Học viện ngân hàng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Lớp nhe-cd25 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÀI THẢO LUẬN:
MÔN: Tài trợ dự án.

Nhóm thực hiện: nhóm 5^^
Giảng viên:Đào Thị Thanh Tú
MỤC LỤC
Mục lục 2
1
Giới thiệu chung…………………………………………………………………………………4
I, Điểm mạnh của du lịch việt nam……………………………………………………….…….5
1, Vị trí địa lý thuận lợi………………………………………………………… ……5
2. An ninh chính trị ổn định…………………………………………………… … 7
3. Tiềm năng tài nguyên du lịch đa dạng………………………………………….….8
4.Tiềm năng con người ,cơ sở vật chât ,đường lối……………………………………9
II) Điểm yếu ,khó khăn ,tồn tại ………………………………………………………… ……9
1, cơ sở hạ tầng vật chất ………………………………………………………………9
2, Hoạt động Marketing, quảng cáo và xúc tiến du lịch thiếu tính chuyên nghiệp và
đầu tư chưa cao………………………………………………………………………10
3, Chưa khai thác, bảo tồn đúng mức………………………………………………11
4, Thiếu nhân lực lành nghề……………………………………………………….13
III/Cơ hội:( Oportunities)…………………………………………………………….…….14.
1, Nền kinh tế quốc gia hội nhập toàn cầu……………………………………… 14
2. Nhu cầu du lịch giải trí sinh thái ngay càng cao…………………………….…16
3. Tình hình an ninh xã hội của các nước có hoạt động du lịch mạnh diễn biến phức
tạp và bất ổn……………………………………………………………………….……….27
4.Việt Nam được các tổ chức về du lịch có uy tín đánh giá là một trong những điểm
đến lý tưởng nhất……………………………………………………………………… …29
5. Quan điểm phát triển về ngành du lịch ………………………………………35
IV/Thách thức(Threats ) ……………………………………………………………… 37

Năm 2009, ngành du lịch đã mang về cho đất nước khoảng 4 tỷ USD. Đây đang là một trong 5
4
ngành có nguồn thu ngoại tệ lớn nhất của nước ta. Hàng năm ngành này đóng góp khoảng 6,5%
vào GDP của cả nước và đã phần không nhỏ vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc
làm cho các đối tượng lao động khác nhau ở khắp các vùng .
Như vậy với vai trò to lớn không phải bàn cãi của mình, nghành du lịch trong nhiều năm qua
đã được Đàng và Nhà nước coi trọng đươcj thẻ hiện băngd các chính sách và văn bản pháp luật
khuyến khích và chỉ dẫn nghành du lịch đi đúng đường theo còn đường đi phát triển của đất
nước đang hướng đến. Đó là luật du lịch 2005,CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG của ngành
Du lịch Thực hiện chương trình hành động của chính phủ sau khi
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
giai đoạn 2007 - 2012
(Ban hành kèm theo Quyết định số 564/QĐ-BVHTTDL ngày 21/9/2007)
Do nước ta là nước xuất phát chậm hơn rất nhiều các nền du lịch phát triển trong khu vực và
trên thế giới và do nghành du lịch liên quan đến nhiều nghành như giao thông vận tải, thương
mại, cơ sở hạ tầng Nên nghành nước ta đã đạt được các thành tưu và cũng bộ lộ mhững hạn
chế. Nên bài sau đây sẽ cố gắng làm rõ mặt mạnh để có thể phát huy và mặt yếu để tìm giải
pháp khắc phục. trong mối tương quan với cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài để làm
sao nghành du lịch đạt được những mục tiêu đề ra.
I, Điểm mạnh của du lịch việt nam
1, Vị trí địa lý thuận lợi.
Như mọi người đã biết Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển
Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung
Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông với 3260 km
bờ biển. . Khí hậu nhiệt đới gió mùa, cây cối quanh năm xanh tươi Một đặc điểm nổi bật nữa của
Việt Nam là nhiều đồi núi, chiếm ¾ diện tích, cũng là quốc gia có nhiều đảo nhỏ và phân bố rải
rác, có hai khu vực đảo tập trung nhất là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Có hai quần đảo rộng
lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó nghành du lịch trong nhiều năm qua tập chung khai thác
vào tiềm năng rừng biển và vị trí địa lý mà thiên nhiên ban tặng cho việt nam. Như du lịch biển,
du lịch sinh thái có những bước phát triển.

bao quanh biển Đông, nơi có nhiều hàng qua lại nhất thế giới. Đài Loan, với cảng Cao Hùng, và
Trung Quốc, với những cảng Hồng Kông và Thượng Hải, là những điểm đến và đi của những
tuyến tàu biển nối liền với cảng Singapore. Con đường hàng hải đi qua biển Ðông là một trong
những hải lộ bận rộn nhất thế giới. Theo một tính toán, một phần ba vận chuyển thương mại thế
giới đi qua vùng biển này. nhờ vị trí chiến lược của việt nam có một vị trí chiến lược trên tuyến
hàng hải nối các cảng biển nhộn nhịp nhất thế giới singapore, honkong, đài loan. Nên việt nam
trở thành điểm dưng chân lý tưởng để các con tàu du lịch, hàng hoá có thể cập bến để có thể bốc
thêm hàng ở việt nam. Dưng lại cho du khách nghỉ ngơi tham quan sau một chuyến hành trình
dài để tiếp tục đi tiếp đến các điểm du lịch nổi tiếng như honkong, singapore.
Đây là một lợi thế của Việt Nam vì Malaysia quá gần Singapore còn Philippines và Indonesia
là những quần đảo không có hậu phương. Như vậy ta đã thấy vị trí của việt nam là một điểm
mạnh của nghành du lịch nó giúp việt nam có thê thu hút thêm luợng khach từ các tour du lịch
kết nối giữa các địa điểm nổi tiếng trong khu vực.
Về đường hàng không Nhìn bản đồ Đông Nam Á thì thấy rằng, trừ Jakarta, thủ đô Indonesia,
tất cả thủ đô các nước ASEAN đều cách Tp.HCM non hai giờ máy bay. Đài Bắc và Dakka, thủ
đô Bangladesh, cũng chỉ cách Hà Nội có hơn hai giờ bay. Miền Nam Trung Quốc, vùng có kinh
6
tế phát triển mạnh nhất của nước này, ở trọn trong tầm hai giờ bay từ Hà Nội. Ba cảng trong số
những cảng lớn nhất thế giới, Singapore, Hồng Kông và Cao Hùng, cách Hà Nội hay Tp.HCM
non hai giờ bay.
Nói một cách khác, Việt Nam nằm ngay giữa vùng kinh tế sôi động nhất thế giới. Vị trí trung
tâm này đã là một trong số những nguyên nhân của bốn chục năm chiến tranh mà Việt Nam đã
phải chịu đựng. Bây giờ, với hòa bình được lập lại, vị trí đó có thể được dùng vào mục đích phát
triển kinh tế. Trong đó có du lịch.
2. An ninh chính trị ổn định
Có một điều người dân việt nam luôn tự hào với bạn bè thế giới là đất nước việt nam thanh bình
con người việt nam thân thiện. và điều này cũng được thế giới công nhận qua chỉ số hoà bình
toàn cầu do tổ chức International Monetary Fund. Bình chọn việt nam đứng thứ 39 trên 144
được bình chọn . đây đúng là một điều đáng tự hào với việt nam. Trong khi các chỉ số khác của
việt nam không mấy sáng sủa

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
- Di tích lịch sử:khu di tích Đền Hùng,đền Cổ loa ,khu di tích Hoa Lư,phố cổ Hội An ,tháp
chàm khơ me,thành cổ Quảng Trị,khu di tích làng Sen, khu di tích Điện Biên Phủ,Khu di tích
ATK,địa đạo Vĩnh Mốc ,địa đạo Củ Chi…
- Việt nam con được biết tới là quốc gia đa văn hóa ,đất nước của những lễ hội .Hằng năm trên
cả nước có tới hàng nghìn lễ hội lớn nhỏ .Một số lễ hội lớn như:lễ hội đền Hùng ,LH Chùa
Hương,hội Lim,hội Gióng ,lễ hội Đua Voi…
- Hiện nay cả nước có 1450 làng nghề ,các làng nghề có sức thu hút khách du lịch .Một số làng
nghề nổi tiếng :Gốm Bát Tràng ,tranh Đô Hồ ,chiếu Cói Nga Sơn,đúc đồng Ngũ Xá,đồ gỗ Đồng
Kị,gốm Đông Triều ,lụa Vạn Phúc….
- Không chỉ có các di sản vật thể ma VN còn có những di sản phi vật thể như :quan họ Bắc
Ninh,nhã nhạc cung đình Huế,ca trù ,cồng chiêng Tây Nguyên…
- Việt nam còn thu hút khách du lịch bởi những món ăn truyền thống độc đáo như phở ,bánh
đậu xanh Hải Dương,rượu sán Lùng ,thắng cố (sapa _lào cai)…
- Cả nước có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương quản lý 79. Hai
bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và Bảo tàng lịch sử Việt
Nam hiện đang đề xuất thêm Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
- Cả nước hiện có 21 khu du lịch quốc gia tính đến năm 2008, là những trọng điểm để đầu tư
thúc đẩy phát triển du lịch.
4)Tiềm năng con người ,cơ sở vật chât ,đường lối.
8
- Trong thời gian qua nguồn lao động du lịch của nước ta đã tăng lên về số lượng và từng
bước được cải thiện về chất lượng,bước đầu đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành du lịch.
Tính đến năm 2005 số lao động trong ngành du lịch là 704.000 người chiếm 1,5% lao động cả
nước.
- Cơ sở hạ tầng được nhà nước quan tâm đầu tư ,cải thiện hệ thống cơ sở vật chất phục vụ du
lịch. Tới năm 2005 nhà nước đã đầu tư 2146 tỉ đồng để nâng cấp ,xây dựng cơ sơ hạ tầng phát
triển du lịch. Do đó CSHTDL đã và đang từng bước được cải thiện.
- Đánh giá được vai trò quan trọng của ngành du lịch ,Đảng và nhà nước đã có những chính
sách cụ thể nhằm khuyến khích đầu tư phát triển du lịch,coi du lịch là một ngành kinh tế mũi

khoản kinh phí đó là quá eo hẹp. Điều đó lý giải vì sao hoạt động xúc tiến du lịch của Việt Nam
ở nước ngoài thiếu tính chuyên nghiệp và luôn gặp khó khăn.
Theo ông Phương, thay vì tổ chức các hoạt động xúc tiến liên tục tại một số thị trường trọng
điểm, ngành du lịch mới thực hiện được 1 sự kiện/năm (hoặc tại hội chợ, hoặc tại road show -
quảng bá điểm đến). Với hình thức xúc tiến như vậy, du lịch Việt Nam không tạo được tiếng
vang với giới truyền thông và các hãng lữ hành ở nước ngoài. Trong khi đó, các nước trong khu
vực thường dành cho xúc tiến du lịch khoảng vài chục triệu USD/năm. Một số nước như Thái
Lan, Malaixia, Inđônêxia đã chi ít nhất 1 triệu USD cho một lần tham gia hội chợ ITB Berlin
(Đức).
Ông Lã Quốc Khánh, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL TP Hồ Chí Minh cũng thừa nhận, trong
khi ở nhiều nước trên thế giới có quỹ dự phòng du lịch thì Việt Nam lại không có. Do đó, khi
chương trình khuyến mãi kích cầu du lịch "Ấn tượng Việt Nam" trong năm 2009 được triển khai,
ngành du lịch chỉ đủ sức quảng bá ở trong nước chứ không thể khuếch trương ra nước ngoài.
Nếu được quảng bá rầm rộ, chắc chắn lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2009 sẽ
không dừng lại ở con số 3,8 triệu lượt người.
"Hơn 10 năm nay, việc đề nghị mở văn phòng xúc tiến du lịch tại nước ngoài đã được
đưa ra bàn luận. Thậm chí Tổng cục Du lịch (TCDL) đã tuyên bố sẽ thí điểm tại 5 thị trường
trọng điểm trong năm 2010 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả", ông Lã Quốc Khánh, Phó Giám
đốc Sở VH,TT&DL TP Hồ Chí Minh bức xúc.
Trong khi đó, việc quảng bá, xúc tiến du lịch tại nước ngoài hiện đang theo kiểu "mạnh ai
nấy làm". Đại diện Công ty Lữ hành Hanoitourist cho biết, tại tất cả hội chợ, triển lãm ở nước
ngoài, mỗi quốc gia tham dự đều có một gian hàng với các sản phẩm tương đồng. Chẳng hạn như
Trung Quốc, khi tham dự một hội chợ họ chỉ tổ chức duy nhất gian hàng giới thiệu với du khách
tất cả điểm đến, khách sạn và công ty lữ hành của đất nước mình. Còn gian hàng của Việt Nam
lại trong tình trạng "cát cứ", mỗi DN được chia một sạp để tự phát card, các ấn phẩm và giới
thiệu sản phẩm của riêng mình. Điều này cho thấy, công tác xúc tiến du lịch của Việt Nam tại
nước ngoài thiếu tính chuyên nghiệp.
Theo ông Trần Chiến Thắng, nguyên Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL, hằng năm, ngành du lịch
đã phải bỏ ra khoản chi phí không nhỏ để tổ chức các hội chợ, roadshow (chương trình xúc tiến
điểm đến) ở nước ngoài. Tuy nhiên, khi sự kiện kết thúc cũng là lúc ban tổ chức "thở phào" vì

ngày càng suy kiệt.
- Đảm bảo an toàn cho khách du lịch còn thiếu triệt để, chưa đồng bộ, một số giải pháp có
tính tình thế. An toàn của du khách ở nhiều khu, điểm và tuyến du lịch vẫn là vấn đề lớn cần giải
quyết. Vẫn còn không ít hiện tượng cướp giật, đeo bám, chèo kéo khách, vi phạm các quy định
về vận chuyển khách, vi phạm các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm…
- Khai thác TNDL chưa gắn liền với việc bảo vệ và phục hồi .ý thức của khách du lịch ,của
người kinh doanh du lịch còn chưa cao.Việc phá hoại TNDL như vứt rác bừa bãi làm mất vệ
sinh, ảnh hưởng tới cảnh quan của các TNDL còn khá phổ biến tại các khu du lịch.
11
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan tâm sự rằng, khi nghĩ về du lịch ông thấy buồn, các sản
phẩm du lịch của ta - những thứ mà thiên nhiên đã phải mất hàng triệu năm kiến tạo đang xuống
cấp nghiêm trọng. Hang Pác Bó đẹp là thế, bỗng một ngày, một bãi bê tông hiện lên rộng mênh
mông, tan nát hết cả cảnh quan. Điểm mặt các bãi biển từ Trà Cổ tới Đồ Sơn, môi trường cảnh
quan, bị các loại công trình kiến trúc lấn át. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan có thói quen đến
thăm chùa Trấn Quốc những lúc rảnh rỗi, nhưng giờ ông bảo, không muốn đến nữa vì sợ cái màu
vàng mới tinh của chùa và lạ lẫm trước cái cổng mới được xây dựng.
Nhiều năm trước đây, Nhà nước đã từng quyết định giữ lại khu di tích danh thắng Yên Tử,
không cho triển khai dự án khai thác than trong khu vực di sản quan trọng này, nhưng lại cũng
phải chấp nhận điều chỉnh thu nhỏ lại khu vực đệm và khu vực bảo vệ các di tích Tràng Kênh -
Bạch Đằng (Hải Phòng), phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) để nhường bớt một số
núi đá cho các dự án xây dựng nhà máy sản xuất xi măng khai thác đá nguyên liệu Nhiều đại
biểu tham dự hội thảo phải kêu trời khi tình trạng xâm hại tài nguyên môi trường du lịch ở một
số nơi đã ở mức báo động. Tình trạng phá rừng, ngăn suối, chặt cây làm thủy điện ở một số vùng
du lịch đã phá vỡ nghiêm trọng cảnh quan, môi trường tài nguyên du lịch quý giá của đất nước.
Để xảy ra tình trạng này nguyên nhân chính là tư duy “tiểu nông” vẫn tồn tại trong ngành du
lịch. Ngành du lịch mới chỉ quan tâm đầu tư vào hạ tầng dịch vụ, những cái thu được tiền ngay
mà chưa quy hoạch được vào việc khai thác những tiềm năng to lớn của những giá trị lịch sử.
Nhiều giá trị lịch sử đã bị bỏ qua, ví như nơi từng diễn ra trận Bạch Đằng giang nổi tiếng trong
lịch sử nhà Trần đã không được nghiên cứu đến nơi đến chốn để đưa vào phục vụ du lịch là một
sự lãng phí lớn.

nếu không giải được bài toán nhân lực thì du lịch Việt Nam sẽ khó mà phát triển.
Trình độ chuyên môn, cung cách phục vụ chưa tốt
Nguồn lao đông tuy đông đảo nhưng còn yếu kém về trình độ chuyên môn ,số lao động có
trình độ chuyên môn chiếm 58,3% số lao động.Chưa đáp ứng kịp thời về phát triển du lịch .Đặc
biệt ,phẩm chất người lao động du lịch còn thiếu tác phong công nghiệp ,tính kỉ luật ,tính hợp tác
còn thấp …
Việc quy hoạch khai thác tài nguyên du lịch ở nước ta còn chưa tương xứng với tiềm năng
“ Người ta nói VN có rừng vàng biển bạc mà không biết khai thác hết. Đó là điểm yếu của
mình”
Đó là do Sự quản lí của nhà nước còn chưa đúng mức ,tình trạng chồng chéo quyền hạn ,trách
nhiệm trong quản lí du lịch.
III/Cơ hội:( Oportunities)
1, Nền kinh tế quốc gia hội nhập toàn cầu.
1.1.Du lịch với sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam
13
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam tăng trưởng tương đối ổn định với tốc độ trung bình ở
mức tương đối cao (khoảng 20%), thị phần du lịch của Việt Nam trong khu vực đã tăng từ 5%
năm 1995 lên trên 8% năm 2005, thu nhập từ ngành du lịch tăng lên nhiều lần. Đây là một thành
công lớn góp phần giúp du lịch trở thành một trong những ngành có đóng góp lớn vào GDP.
Giai đoạn 1990-2000 có thể khẳng định là giai đoạn bứt phá trong tăng trưởng khách và thu
nhập. Khách quốc tế tăng trên 9 lần, từ 250 nghìn lượt (năm 1990) lên 2,05 triệu lượt (năm
2000); khách nội địa tăng 11 lần, từ 1 triệu lượt lên 11 triệu lượt; thu nhập du lịch tăng gần 13
lần từ 1.350 tỷ đồng lên 17.400 tỷ đồng. 5 năm gần đây (2001-2005), tuy phải đối mặt với rất
nhiều khó khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhưng do áp dụng các
biện pháp táo bạo tháo gỡ kịp thời, nên lượng khách và thu nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục
tăng trưởng 2 con số. Khách quốc tế năm 2001 đạt 2,33 triệu lượt, năm 2005 đạt gần 3,47 triệu
lượt; khách nội địa năm 2001 đạt 11,7 triệu lượt; năm 2005 đạt 16,1 triệu lượt; người Việt Nam
đi du lịch nước ngoài năm 2005 ước khoảng 900 nghìn lượt. Du lịch phát triển đã góp phần tăng
tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ (riêng GDP du lịch hiện chiếm khoảng 4% GDP cả nước, theo
cách tính của UNWTO thì con số này khoảng 10%). Du lịch là một trong ít ngành kinh tế ở nước

châu á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội du lịch Châu Á - Thái Bình Dương (PATA) và
Hiệp hội du lịch Đông Nam á (ASEANTA), Liên minh châu Âu (EU). Chuẩn bị điều kiện để hội
nhập ở mức cao với du lịch thế giới khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO).
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu
du lịch, các dự án tạo sản phẩm du lịch đặc thù, chất lượng cao. Thu hút và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn ODA cho phát triển nguồn nhân lực, công nghệ và bảo vệ môi trường du lịch.
(nguồn: />1.2.Thành tựu đạt được của ngành du lịch về quan hệ hợp tác quốc tế hiện nay:
Với nỗ lực mở rộng hợp tác quốc tế, du lịch Việt Nam đã ký 42 hiệp định hợp tác du lịch song
phương với các nước là thị trường du lịch trọng điểm và trung tâm giao lưu quốc tế, tăng cường
hợp tác du lịch với các nước khác; ký hiệp định hợp tác du lịch đa phương 10 nước ASEAN;
thiết lập và tăng cường hợp tác du lịch với các nước khác; tham gia chủ động hơn trong hợp tác
du lịch Tiểu vùng Mêkông mở rộng, hợp tác Hành lang Đông - Tây, hợp tác sông Mêkông - sông
Hằng, hợp tác ASEAN, APEC, ASEM, hợp tác trong Hiệp hội du lịch Châu Á - Thái Bình
Dương (PATA), trong Tổ chức Du lịch thế giới (WTO)…; có quan hệ bạn hàng với 1.000 hãng
15
của 60 nước và vùng lãnh thổ. Nhờ thế đã tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn
khách, đẩy mạnh xúc tiến du lịch và hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động gắn kết hoạt động du lịch
Việt Nam với du lịch khu vực và thế giới. Một số chính phủ và tổ chức quốc tế như
Luxembourg, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Hà Lan, Cu Ba, cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp, EU,
WTO… viện trợ không hoàn lại gần 40 triệu USD về đào tạo nhân lực và hỗ trợ kỹ thuật cho du
lịch Việt Nam; thu hút 9,126 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài (chiếm 7%
tổng số vốn FDI cả nước, không tính số dự án đầu tư vào văn phòng và căn hộ cho thuê). Ngành
Du lịch đã thực hiện chủ trương dựa vào lợi thế so sánh (như văn hóa, ẩm thực, nguyên liệu, lao
động…) đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức liên doanh hoặc đầu tư 100% vốn, chủ yếu là kinh
doanh ăn uống, và gần đây là kinh doanh lưu trú ở các nước láng giềng, Pháp, Đức và Hoa Kỳ.
Việc đón tiếp trên 4 triệu khách du lịch quốc tế mỗi năm trong những năm gần đây và
đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá du lịch ở nước ngoài đã đóng góp tích cực vào việc tuyên
truyền về đất nước, con người và du lịch Việt Nam, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của cộng
đồng quốc tế đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, tăng cường ngoại giao nhân dân, thực hiện

đa dạng về yếu tố sinh thái vốn có của đất nước. Chiều dài của tuyến du lịch khá thuận tiện về
đường bộ, những năm gần đây nhiều đường xá đã được nâng cấp hoàn chỉnh như đường quốc lộ
mới, đường 32 v.v Về mặt lưu trú của du khách cũng có các khách sạn với tiện nghi hiện đại.
Nhiều tổ chức lữ hành , phục vụ thông tin liên lạc, quảng bá v.v các Sở Du lịch, các công ty
kinh doanh du lịch về các làng bản, nhân dân địa phương trên tuyến điểm du lịch đã có kinh
nghiệm tốt đảm bảo niềm tin gây cảm tình đối với du khách. Tuyến du lịch có thể tổ chức dài từ
4-5 ngày đối với toàn tuyến, tuy nhiên có thể tuỳ theo yêu cầu của du khách mà có thể phân
thành mộttuyến nhất định. Điều đáng mừng là những năm gần đây nhiều tỉnh, thành trong cả
nước đã hưởng ứng tích cực loại hình du lịch sinh thái. Loại hình du lịch này bước đầu đã được
chú ý đầu tư để thu hút nhiều khách tham quan, đồng thời hình thành và phát huy chất lượng
phục vụ của các tuor du lịch làm cho du khách thấy thoải mái, chủ động.
Sở Du lịch tỉnh Hà Tây đã mở thêm các tour du lịch sinh thái vườn lồng ghép các tour du
lịch làng nghề như vuờn sinh thái ở Chương Mỹ, ở Thường Tín, khu du lịch sinh thái Song
Phương, trang trại sinh thái Vân Canh ở Hoài Đức, vườn có Ngọc Nhị ở Ba Vì v.v Ở Khánh
Hoà củng mở các tour du lịch mới đưa du khách đến khu vực Đầm Môn , bãi tắm Xuân Đừng ở
vịnh Văn Phong v.v các du khách boi thuyền trên vịnh, thăm một số bãi biển trên vịnh, thăm
làng nghề Hà Đằng từ nhiều năm còn cách biệt với đất liền, thưởng ngoạn Dốc Lết, tắm suối
nước nóng Tháp Bà v.v Huyện Sa Pa nằm sâu trong rìa Tây Nam , là huyện từ khi ra đời được
coi là vùng khí hậu ôn đới đặc biệt của Việt Nam. đây là điểm du lịch sinh thái rất hấp dẫn đối
với khách du lịch trong và ngoài nước.
Trong vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ cần phải kể đến tiểu vùng(hoặc khu vực)
du lịch Cần Thơ có các yếu tố sinh thái đặc trưng mà các tỉnhtrong vùng này khó hội đủ. Tình
này là vùng đất màu mỡ của đồng bằng sôngCửu Long, nên ngày từ thời còn thuộc Pháp người
dân Nam Bộ đã mệnh danh Cần Thơ là Tây Đô. Ở đây chính quyền thực dân đã bố trí đầy đủ
quyền lực để củng cố địa vị độc tôn của họ về mặt chính trị-hành chính; còn về kinh tế xã hội
cũng sớm phát triển. Là tâm điểm thu hút nhà buôn, nhà đầu tư, nhà khoa học, nhà văn hoá do
các yếu tố sinh thái đa dạng của Cần Thơ vốn sẵn ưu thế về địa lý, giao thông, về thương mại, cả
về du lịch nữa. Riêng về địa lý tự nhiên ở đây là hàng trăm dòng kênh, dòng rạch trên hàng ngàn
km chằng chịt bồi đắp phù sa màu mỡ của sông Hậu cho các cánh động, đảm bảo năng suất cây
lúa của miền Nam. Các khu vườn cây trái theo mùa vụ trĩu quả, đậm đà hương vị riêng biệt như

Ở điểm này có các công trình như Đền Vua Hùng, cổng Thần Tiên, Cầu Kiệu, cung Kỳ
Lân, Giếng Mỵ nương v.v là những cảnh quan nghệ thuật gọi cho du khách về truyền thống
hào hùng của dân tộc Việt Nam. Gần đấy có khu vui chơi giải trí cùng với hệ thống cáp treo từ
trên cao nhìn xuống công trình Long - Lân - Quy - Phụng nên khu Suối Tiên được người đương
thời gọi là vùng đất tứ linh.
Trong năm 2002 công trình biển Tiên Đồng bao bọc cả dãy núi gọi là Giả Sơn cùng
những di tích văn hoá sinh thái là nui Lạc Long Quân đối diện với nuiÂu Lạc v.v Phía bên
trong các dãy Giả Sơn có những hang động mô phỏng các hang động như Phong Nha, Nam thiên
đệ nhất Động v.v Khi du khách leo đến bậc đá cuối cùng ở núi Lạc Long Quân là nhìn thấy
cảnh quan bát ngát của thành phố Hồ Chí Minh.
Ở làng du lịch sinh Xi-Va tại Mũi Né, Phan Thiết do công ty du lịch Than Niên thành phố
Hồ Chí Minh và công ty lương thực tỉnh Bình Thuận đã đầu tưtrên diện tích ở bãi Mũi Né sát
biển dưới các hàng phi lao thoáng mát cùng gió biển gồm các nhà nghỉ bằng bê tông kết hợp các
loại vật liệu dân tộc như gỗ, mây, tre, dừa, trang trí phù điêu bằng thạch cao, bằng gạch men theo
phong cách cổ truyền bộ tộc Chăm-Pa. Trong các tháng đầu năm 2003 này các nhà quản lý làng
nghỉ mát Xi-Va lần lượt tổ chức các chuyến đi cho du khách dạo chơi bằng ca-nô, đánh bắt hải
sản, tham quan tìm hiểu các hòn đảo gần kề. Thăm quan tìm hiểu các hòn đảo gần kề, thăm làng
thổ cẩm, làng gốm Chăm. Các tiết mục múa Chăm có trình diễn các nhạc cụ Chăm làm cho du
khách có dịp thuận tiện tìm hiểu thưởng thức các nét văn hoá đặc sắc của bộ tộc Chăm v.v
Huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hoà cũng đang triển khai các dự án phát triển loại
hình du lịch sinh thái như dự án khu du lịch sinh thái Bãi Dài, dự án khu du lịch sinh thái thuộc
công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch- địa ốc Hồng Hà, khu du lịch Cam Ranh thế kỷ XXI. Tại
18
vịnh Văn Phong du khách thường bơi thuyền thăm các bãi biển gần như nguyên sơ, thăm làng
Hà Đằng từ nhiều năm vẫn còn cách biệt với đất liền, thưởng ngoạn dốc Lết, tắm suối nước nóng
Tháp Bà
Cùng với các hang động như đã liệt kê điển hình ở một số nơi trong hệ sinh thái rừng-
núi-hang động của Việt Nam có trên 400 suối nước nóng Kim Bôi ở tỉnh Hoà Bình, suối nước
nóng Hội Vân ở tỉnh Bình Định v.v Đồng thời không ít vùng còn có nhiều thác nước mát nổi
tiếng như thác Mơ nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang cách thị xã Tuyên Quang 100 km

2.3:Những cô hội cho ngành du lịch:
2.3.1: Cơ hội cho du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên
Việt Nam nằm trong vùng châu Á, nơi mà tổ chức du lịch thế giới và nhiều
nhà chuyên môn du lịch có tên tuổi đã khẳng dịnh và dự báo rằng sẽ là nơi thu
hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất cà cũng có nhiều người đủ điều kiện đi du
19
lịch nhất (500 triệu người) ở thế kỷ 21.
Từ những, phân tích, đánh giá dự báo đó cho ta một kết luận nguồn khách
du lịch sinh thái quốc tế gắn với thị trường du lịch Việt nam là khách quan và là
một tiềm năng.
Hiện nay, số khách du lịch trong nước đã tăng lên tới 8,5 triệu lượt khách. Trong đó có
bao nhiêu khách thuộc đối tượng du lịch sinh thái? Chưa có số liệu tin cậy bởi khái niệm du lịch
sinh thái chưa được quan tâm dẫn đến trong thống kê du lịch chưa được thể hiện. Căn cứ vào số
khách đến với các vùng thiên nhiên với động cơ hưởng thụ vào sản phẩm thiên nhiên như: các
vườn quốc gia và bảo tồn thiên nhiên , vãn cảnh sông nước , hành trình xuyên Việt, thám không
vùng vịnh hay đến các khu tự nhiên Hạ Long, TamCốc – Bích Động … thì tỷ lệ cũng không nhỏ
có thể chiếm tới 30 – 40% tổng số khách hàng năm.
Tuy nhiên với khái niệm đầy đủ về du lịch sinh thái vế thứ hai là ý thức , trách nhiệm với
việc bảo tồn phát triển du lịch sinh thái thì chưa có những tư duy, giáo dục tốt về vấn dề này. Với
tốc độ đô thị hoá như hiện nay chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao và cải thiện…
Chắc chắn nhu cầu đi du lịch sinh thái sẽ tăng lên đáng kể, không còn giới hạn ở con số 4 – 5
triệu người/năm mà có thể lên đến hàng chục triệu người mỗi năm trong các năm tới đây.
Xét về tiềm năng du lịch sinh thái của nước ta với vị trí nằm tiếp giáp với biển Đông với
chiều dài trên 3200km bờ biển có nhiều, vịnh đảo và những quần thể núi đá vôi, sông, hồ, thác
nước, hang động, suối nước nóng, và 3/4 diện tích núi rừng với độ dốc cao …đã tạo cho Việt
nam rất phong phú và đa dạng về khí hậu và địa hình địa mạo nên rất giàu về tiềm năng sinh thái
cũng như sự đa dạng sinh thái .
Theo đánh giá của quốc tế, nước ta đứng thứ 16 về sự phong phú, tính đa dạng sinh học, đại
diện cho vùng Đông nam Á về sự độc đáo và giàu có về thành phần loài. Mặc dù bị tổn thất về
diện tích do nhiều nguyên nhân trong hai thập kỷ qua, nhưng hệ thực vật vẫn còn khá phong phú

(Vườn Quốc gia Tràm chim)
Không chỉ phong phú trên phương diện hệ sinh thái, thiên nhiên còn ban cho Việt nam sự đa
dạng sinh học cao về các loài đặc hữu, có khoảng 1200 loài là loài đặc hữu trong tổng số 12000
loài thực vật ở Việt nam(theo ước tính).
Trong số 15.575 loài động vật có 172 loài đặc hữu trong số đó có 14 loài là thú. Đặc biệt sự
kiện gây chú ý nhất trong giới bảo tồn thế giới là phát hiện 3 loài thú lớn ở Việt nam: Sao
la(1992), Mang lớn(1994), Mang Trường Sơn(1997). Khoảng 58% số loài thực vật và 73% số
loài động vật quý hiếm, đặc hữu của Việt nam tập trung trong các khu bảo tồn thiên nhiên. Tuy
nhiên các loài thú lớn của Việt nam khó tiếp cận hơn các loài của Châu phi, và đôi khi sự tiếp
cận là không thể chấp nhận được vì các loài vật này bản thân chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng
cần được bảo vệ và chúng sống trong các hệ sinh thái tương đối mong manh. Tình trạng này có
thể được khắc phục nếu có quy hoạch thích hợp. Chẳng hạn như khoanh vùng bảo vệ, xây dựng
chòi quan sát từ xa có thể xem được một số con tê giác còn sống sót tại vườn quốc gia Cát Tiên
mà đầu tháng5/1999 các nhà nghiên cứu đã chụp được những bức ảnh đầu tiên bằng máy ảnhtự
22
động. Khi có các nguồn tài chính có thể xây dựng các khu nuôi thú bán hoang dã. Hiện tại ở
Vườn quốc gia Cúc phương đã xây dựng được một khu nuôi các loài linh trưởng rộng khoảng 2
ha. Du khách có thể tham quan và ngắm nhìn một số loài khỉ vượn vào lúc cho ăn. Vườn quốc
gia Ba vì cũng đang xây dựng khu nuôi thú và chim bán hoang dã ở khu vực có độ cao 400 mét
so với mực nước biển.
Sự đặc hữu về động thực vật là một hấp dẫn đối với du lịch sinh thái mang tính chất nghiên
cứu khoa học. Những nhà khoa học có thể đến đây để tìm hiểu những loài động thực vật chỉ có ở
Việt nam. Sự phong phú về hệ sinh thái ở Việt nam sở dĩ có được là nhờ sự đa dạng về địa hình
của đất nước. Sự đa dạng về địa hình kết hợp với sự phong phú về hệ sinh thái đã cho ra đời
những sản phẩm, địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Hấp dẫn nhất phải kể đến rừng mưa nhiệt
đới Vườn quốc gia Cúc phương, Cát bà, Ba bể, Bạch mã và khu bảo tồn thiên nhiên Phong nha –
Kẻ bàng, Hoàng liên sơn .
Phong nha-Kẻ bang.
Nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên phân bố dọc theo 3260 km bờ biển với hệ
động thực vật còn khá phong phú và nhiều bãi tắm lý tưởng như Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn,

Biển và thềm lục địa có vai trò quan trọng phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm chủ quyền, an ninh
quốc gia. Vì vậy, phát huy lợi thế một quốc gia có biển, kết hợp vói phát triển kinh tế với an ninh
- quốc phòng đã trở thành chiến lược lâu dài của đất nước ta.
Phát triển du lịch biển góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngànhkinh tế khác: Du lịch
biển là ngành kinh tế có tính liên ngành, vì vậy, sự phát triển của du lịch biển sẽ kéo theo sự phát
triển của nhiều ngành trong mối quan hệ tương hỗ. Đồng thời, tạo cơ hội phát triển mới, làm tăng
nguồn thu cho quốc gia và cải thiện cán cân thanh toán, góp phần đẩy mạnh phát triển nền kinh
tế biển, đa dạng hóa nền kinh tế cho suốt dọcvùng duyên hải và hải đảo của 29 tỉnh, thành phố, là
cửa mở có sức lôi kéo và thúc đẩy các vùng khác phát triển. Thu hút đầu tư cả trong và ngoài
nước. Phát triển du lịch biển tăng cơ hội tạo việc làm, hiện nay trên thế giới có157 quốc gia có
biển và ở các mức đọ khác nhau, vấn đề việc làm cho người dân vùng ven biển là một khó khăn
không nhỏ ở nước ta hiện nay. Bởi nếu số người chưa có việc làm quá lớn ở khu vực địa lý chính
trị có tính nhạy cảm cao này sẽ dẫm đến những vấn đề xã hội, hình htành nhân tố không ổn định
đối với sự phát triển kinh tế nói chung và an ninh quốc phòng. Vì thế, giải quyết việc làm cho
người dân vùng ven biển là một việc rất quan trọng đối với chính phủ. Du lịch nói chung và du
lịch biển nói riêng là ngành kinh tế tổng hợp có tính xã hội hoá cao, có khả năng tạo nhiều công
ăn việc làm cho xã hội trong quá trình phát triển. Vì vậy, việc phát triển du lịch biển có ý nghia
khá quan trọng trong việc giải quyết vấn đề nói trên, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi số lao
động cần bố trí việc làm ở vùng ven biển nước ta đã lên đến khoảng 10 triẹu người (chiếm
khoảng 84% dân số trong đọ tuổi lao động ở 29 tỉnh, thành ven biển).
25

Trích đoạn Ảnh hưởng của các thị trường du lịch trong khu vực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status