phân tích swot ngành du lịch việt nam - Pdf 74

Học viện ngân hàng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Lớp nhe-cd25 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÀI THẢO LUẬN:
MÔN: Tài trợ dự án.

Nhóm thực hiện: nhóm 5^^
Giảng viên:Đào Thị Thanh Tú
MỤC LỤC
Mục lục....................................................................................................................................2
1
Giới thiệu chung…………………………………………………………………………………4
I, Điểm mạnh của du lịch việt nam……………………………………………………….…….5
1, Vị trí địa lý thuận lợi…………………………………………………………..……5
2. An ninh chính trị ổn định……………………………………………………...…..7
3. Tiềm năng tài nguyên du lịch đa dạng………………………………………….….8
4.Tiềm năng con người ,cơ sở vật chât ,đường lối……………………………………9
II) Điểm yếu ,khó khăn ,tồn tại …………………………………………………………..……9
1, cơ sở hạ tầng vật chất ………………………………………………………………9
2, Hoạt động Marketing, quảng cáo và xúc tiến du lịch thiếu tính chuyên nghiệp và
đầu tư chưa cao………………………………………………………………………10
3, Chưa khai thác, bảo tồn đúng mức………………………………………………11
4, Thiếu nhân lực lành nghề……………………………………………………….13
III/Cơ hội:( Oportunities)…………………………………………………………….…….14.
1, Nền kinh tế quốc gia hội nhập toàn cầu………………………………………...14
2. Nhu cầu du lịch giải trí sinh thái ngay càng cao…………………………….…16
3. Tình hình an ninh xã hội của các nước có hoạt động du lịch mạnh diễn biến phức
tạp và bất ổn……………………………………………………………………….……….27
4.Việt Nam được các tổ chức về du lịch có uy tín đánh giá là một trong những điểm
đến lý tưởng nhất……………………………………………………………………… …29
5. Quan điểm phát triển về ngành du lịch ………………………………………35
IV/Thách thức(Threats ) ………………………………………………………………...37

Năm 2009, ngành du lịch đã mang về cho đất nước khoảng 4 tỷ USD. Đây đang là một trong 5
4
ngành có nguồn thu ngoại tệ lớn nhất của nước ta. Hàng năm ngành này đóng góp khoảng 6,5%
vào GDP của cả nước và đã phần không nhỏ vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc
làm cho các đối tượng lao động khác nhau ở khắp các vùng .
Như vậy với vai trò to lớn không phải bàn cãi của mình, nghành du lịch trong nhiều năm qua đã
được Đàng và Nhà nước coi trọng đươcj thẻ hiện băngd các chính sách và văn bản pháp luật
khuyến khích và chỉ dẫn nghành du lịch đi đúng đường theo còn đường đi phát triển của đất nước
đang hướng đến. Đó là luật du lịch 2005,CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG của ngành Du lịch
Thực hiện chương trình hành động của chính phủ sau khi
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
giai đoạn 2007 - 2012
(Ban hành kèm theo Quyết định số 564/QĐ-BVHTTDL ngày 21/9/2007)...
Do nước ta là nước xuất phát chậm hơn rất nhiều các nền du lịch phát triển trong khu vực và
trên thế giới và do nghành du lịch liên quan đến nhiều nghành như giao thông vận tải, thương mại,
cơ sở hạ tầng... Nên nghành nước ta đã đạt được các thành tưu và cũng bộ lộ mhững hạn chế. Nên
bài sau đây sẽ cố gắng làm rõ mặt mạnh để có thể phát huy và mặt yếu để tìm giải pháp khắc
phục. trong mối tương quan với cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài để làm sao nghành
du lịch đạt được những mục tiêu đề ra.
I, Điểm mạnh của du lịch việt nam
1, Vị trí địa lý thuận lợi.
Như mọi người đã biết Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái
Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở
phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông với 3260 km bờ biển. .
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, cây cối quanh năm xanh tươi Một đặc điểm nổi bật nữa của Việt Nam
là nhiều đồi núi, chiếm ¾ diện tích, cũng là quốc gia có nhiều đảo nhỏ và phân bố rải rác, có hai
khu vực đảo tập trung nhất là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Có hai quần đảo rộng lớn là Hoàng
Sa và Trường Sa. Do đó nghành du lịch trong nhiều năm qua tập chung khai thác vào tiềm năng
rừng biển và vị trí địa lý mà thiên nhiên ban tặng cho việt nam. Như du lịch biển, du lịch sinh thái
có những bước phát triển.

bao quanh biển Đông, nơi có nhiều hàng qua lại nhất thế giới. Đài Loan, với cảng Cao Hùng, và
Trung Quốc, với những cảng Hồng Kông và Thượng Hải, là những điểm đến và đi của những
tuyến tàu biển nối liền với cảng Singapore. Con đường hàng hải đi qua biển Ðông là một trong
những hải lộ bận rộn nhất thế giới. Theo một tính toán, một phần ba vận chuyển thương mại thế
giới đi qua vùng biển này. nhờ vị trí chiến lược của việt nam có một vị trí chiến lược trên tuyến
hàng hải nối các cảng biển nhộn nhịp nhất thế giới singapore, honkong, đài loan. Nên việt nam trở
thành điểm dưng chân lý tưởng để các con tàu du lịch, hàng hoá có thể cập bến để có thể bốc thêm
hàng ở việt nam. Dưng lại cho du khách nghỉ ngơi tham quan sau một chuyến hành trình dài để
tiếp tục đi tiếp đến các điểm du lịch nổi tiếng như honkong, singapore.
Đây là một lợi thế của Việt Nam vì Malaysia quá gần Singapore còn Philippines và Indonesia là
những quần đảo không có hậu phương. Như vậy ta đã thấy vị trí của việt nam là một điểm mạnh
của nghành du lịch nó giúp việt nam có thê thu hút thêm luợng khach từ các tour du lịch kết nối
giữa các địa điểm nổi tiếng trong khu vực.
Về đường hàng không Nhìn bản đồ Đông Nam Á thì thấy rằng, trừ Jakarta, thủ đô Indonesia,
tất cả thủ đô các nước ASEAN đều cách Tp.HCM non hai giờ máy bay. Đài Bắc và Dakka, thủ đô
Bangladesh, cũng chỉ cách Hà Nội có hơn hai giờ bay. Miền Nam Trung Quốc, vùng có kinh tế
6
phát triển mạnh nhất của nước này, ở trọn trong tầm hai giờ bay từ Hà Nội. Ba cảng trong số
những cảng lớn nhất thế giới, Singapore, Hồng Kông và Cao Hùng, cách Hà Nội hay Tp.HCM non
hai giờ bay.
Nói một cách khác, Việt Nam nằm ngay giữa vùng kinh tế sôi động nhất thế giới. Vị trí trung
tâm này đã là một trong số những nguyên nhân của bốn chục năm chiến tranh mà Việt Nam đã
phải chịu đựng. Bây giờ, với hòa bình được lập lại, vị trí đó có thể được dùng vào mục đích phát
triển kinh tế. Trong đó có du lịch.
2. An ninh chính trị ổn định
Có một điều người dân việt nam luôn tự hào với bạn bè thế giới là đất nước việt nam thanh bình
con người việt nam thân thiện. và điều này cũng được thế giới công nhận qua chỉ số hoà bình toàn
cầu do tổ chức International Monetary Fund. Bình chọn việt nam đứng thứ 39 trên 144 được bình
chọn . đây đúng là một điều đáng tự hào với việt nam. Trong khi các chỉ số khác của việt nam
không mấy sáng sủa

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
- Di tích lịch sử:khu di tích Đền Hùng,đền Cổ loa ,khu di tích Hoa Lư,phố cổ Hội An ,tháp chàm
khơ me,thành cổ Quảng Trị,khu di tích làng Sen, khu di tích Điện Biên Phủ,Khu di tích ATK,địa
đạo Vĩnh Mốc ,địa đạo Củ Chi…
- Việt nam con được biết tới là quốc gia đa văn hóa ,đất nước của những lễ hội .Hằng năm trên cả
nước có tới hàng nghìn lễ hội lớn nhỏ .Một số lễ hội lớn như:lễ hội đền Hùng ,LH Chùa
Hương,hội Lim,hội Gióng ,lễ hội Đua Voi…
- Hiện nay cả nước có 1450 làng nghề ,các làng nghề có sức thu hút khách du lịch .Một số làng
nghề nổi tiếng :Gốm Bát Tràng ,tranh Đô Hồ ,chiếu Cói Nga Sơn,đúc đồng Ngũ Xá,đồ gỗ Đồng
Kị,gốm Đông Triều ,lụa Vạn Phúc….
- Không chỉ có các di sản vật thể ma VN còn có những di sản phi vật thể như :quan họ Bắc
Ninh,nhã nhạc cung đình Huế,ca trù ,cồng chiêng Tây Nguyên…
- Việt nam còn thu hút khách du lịch bởi những món ăn truyền thống độc đáo như phở ,bánh đậu
xanh Hải Dương,rượu sán Lùng ,thắng cố (sapa _lào cai)…..
- Cả nước có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương quản lý 79. Hai
bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và Bảo tàng lịch sử Việt
Nam hiện đang đề xuất thêm Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
- Cả nước hiện có 21 khu du lịch quốc gia tính đến năm 2008, là những trọng điểm để đầu tư
thúc đẩy phát triển du lịch.
4)Tiềm năng con người ,cơ sở vật chât ,đường lối.
8
- Trong thời gian qua nguồn lao động du lịch của nước ta đã tăng lên về số lượng và từng bước
được cải thiện về chất lượng,bước đầu đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành du lịch. Tính
đến năm 2005 số lao động trong ngành du lịch là 704.000 người chiếm 1,5% lao động cả nước.
- Cơ sở hạ tầng được nhà nước quan tâm đầu tư ,cải thiện hệ thống cơ sở vật chất phục vụ du
lịch. Tới năm 2005 nhà nước đã đầu tư 2146 tỉ đồng để nâng cấp ,xây dựng cơ sơ hạ tầng phát
triển du lịch. Do đó CSHTDL đã và đang từng bước được cải thiện.
- Đánh giá được vai trò quan trọng của ngành du lịch ,Đảng và nhà nước đã có những chính
sách cụ thể nhằm khuyến khích đầu tư phát triển du lịch,coi du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn
của đất nước. Đặc biệt trong thời buổi kinh tế khủng hoảng như hiện nay thì những khuyến khích

nước ngoài thiếu tính chuyên nghiệp và luôn gặp khó khăn.
Theo ông Phương, thay vì tổ chức các hoạt động xúc tiến liên tục tại một số thị trường trọng
điểm, ngành du lịch mới thực hiện được 1 sự kiện/năm (hoặc tại hội chợ, hoặc tại road show -
quảng bá điểm đến). Với hình thức xúc tiến như vậy, du lịch Việt Nam không tạo được tiếng vang
với giới truyền thông và các hãng lữ hành ở nước ngoài. Trong khi đó, các nước trong khu vực
thường dành cho xúc tiến du lịch khoảng vài chục triệu USD/năm. Một số nước như Thái Lan,
Malaixia, Inđônêxia đã chi ít nhất 1 triệu USD cho một lần tham gia hội chợ ITB Berlin (Đức).
Ông Lã Quốc Khánh, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL TP Hồ Chí Minh cũng thừa nhận, trong
khi ở nhiều nước trên thế giới có quỹ dự phòng du lịch thì Việt Nam lại không có. Do đó, khi
chương trình khuyến mãi kích cầu du lịch "Ấn tượng Việt Nam" trong năm 2009 được triển khai,
ngành du lịch chỉ đủ sức quảng bá ở trong nước chứ không thể khuếch trương ra nước ngoài. Nếu
được quảng bá rầm rộ, chắc chắn lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2009 sẽ không
dừng lại ở con số 3,8 triệu lượt người.
"Hơn 10 năm nay, việc đề nghị mở văn phòng xúc tiến du lịch tại nước ngoài đã được đưa
ra bàn luận. Thậm chí Tổng cục Du lịch (TCDL) đã tuyên bố sẽ thí điểm tại 5 thị trường trọng
điểm trong năm 2010 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả", ông Lã Quốc Khánh, Phó Giám đốc Sở
VH,TT&DL TP Hồ Chí Minh bức xúc.
Trong khi đó, việc quảng bá, xúc tiến du lịch tại nước ngoài hiện đang theo kiểu "mạnh ai nấy
làm". Đại diện Công ty Lữ hành Hanoitourist cho biết, tại tất cả hội chợ, triển lãm ở nước ngoài,
mỗi quốc gia tham dự đều có một gian hàng với các sản phẩm tương đồng. Chẳng hạn như Trung
Quốc, khi tham dự một hội chợ họ chỉ tổ chức duy nhất gian hàng giới thiệu với du khách tất cả
điểm đến, khách sạn và công ty lữ hành của đất nước mình. Còn gian hàng của Việt Nam lại trong
tình trạng "cát cứ", mỗi DN được chia một sạp để tự phát card, các ấn phẩm và giới thiệu sản
phẩm của riêng mình. Điều này cho thấy, công tác xúc tiến du lịch của Việt Nam tại nước ngoài
thiếu tính chuyên nghiệp.
Theo ông Trần Chiến Thắng, nguyên Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL, hằng năm, ngành du lịch đã
phải bỏ ra khoản chi phí không nhỏ để tổ chức các hội chợ, roadshow (chương trình xúc tiến điểm
đến) ở nước ngoài. Tuy nhiên, khi sự kiện kết thúc cũng là lúc ban tổ chức "thở phào" vì coi như
đã hoàn thành nhiệm vụ, còn không có đơn vị nào đứng ra đảm nhận vai trò tiếp tục là cầu nối để
giữ mối quan hệ với các đối tác. Điều đó khiến cho mọi thông tin về tiềm năng du lịch Việt Nam

Vẫn còn không ít hiện tượng cướp giật, đeo bám, chèo kéo khách, vi phạm các quy định về vận
chuyển khách, vi phạm các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm…
- Khai thác TNDL chưa gắn liền với việc bảo vệ và phục hồi .ý thức của khách du lịch ,của
người kinh doanh du lịch còn chưa cao.Việc phá hoại TNDL như vứt rác bừa bãi làm mất vệ sinh,
ảnh hưởng tới cảnh quan của các TNDL còn khá phổ biến tại các khu du lịch.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan tâm sự rằng, khi nghĩ về du lịch ông thấy buồn, các sản
phẩm du lịch của ta - những thứ mà thiên nhiên đã phải mất hàng triệu năm kiến tạo đang xuống
cấp nghiêm trọng. Hang Pác Bó đẹp là thế, bỗng một ngày, một bãi bê tông hiện lên rộng mênh
11
mông, tan nát hết cả cảnh quan. Điểm mặt các bãi biển từ Trà Cổ tới Đồ Sơn, môi trường cảnh
quan, bị các loại công trình kiến trúc lấn át. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan có thói quen đến
thăm chùa Trấn Quốc những lúc rảnh rỗi, nhưng giờ ông bảo, không muốn đến nữa vì sợ cái màu
vàng mới tinh của chùa và lạ lẫm trước cái cổng mới được xây dựng.
Nhiều năm trước đây, Nhà nước đã từng quyết định giữ lại khu di tích danh thắng Yên Tử,
không cho triển khai dự án khai thác than trong khu vực di sản quan trọng này, nhưng lại cũng
phải chấp nhận điều chỉnh thu nhỏ lại khu vực đệm và khu vực bảo vệ các di tích Tràng Kênh -
Bạch Đằng (Hải Phòng), phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) để nhường bớt một số núi
đá cho các dự án xây dựng nhà máy sản xuất xi măng khai thác đá nguyên liệu... Nhiều đại biểu
tham dự hội thảo phải kêu trời khi tình trạng xâm hại tài nguyên môi trường du lịch ở một số nơi
đã ở mức báo động. Tình trạng phá rừng, ngăn suối, chặt cây làm thủy điện ở một số vùng du lịch
đã phá vỡ nghiêm trọng cảnh quan, môi trường tài nguyên du lịch quý giá của đất nước.
Để xảy ra tình trạng này nguyên nhân chính là tư duy “tiểu nông” vẫn tồn tại trong ngành du
lịch. Ngành du lịch mới chỉ quan tâm đầu tư vào hạ tầng dịch vụ, những cái thu được tiền ngay mà
chưa quy hoạch được vào việc khai thác những tiềm năng to lớn của những giá trị lịch sử. Nhiều
giá trị lịch sử đã bị bỏ qua, ví như nơi từng diễn ra trận Bạch Đằng giang nổi tiếng trong lịch sử
nhà Trần đã không được nghiên cứu đến nơi đến chốn để đưa vào phục vụ du lịch là một sự lãng
phí lớn.
Cảnh quan thiên nhiên của khu vực này, đặc biệt là rặng núi án ngữ cửa biển nay đã bị các nhà
máy xi măng “ngốn” sạch. Nhiều khách du lịch đến Việt Nam không khỏi xót xa, lo cho “núi xác
máy bay B52” ở Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, Bảo tàng Không quân, hay ở giữa hồ Hữu

độ chuyên môn chiếm 58,3% số lao động.Chưa đáp ứng kịp thời về phát triển du lịch .Đặc biệt
,phẩm chất người lao động du lịch còn thiếu tác phong công nghiệp ,tính kỉ luật ,tính hợp tác còn
thấp …
Việc quy hoạch khai thác tài nguyên du lịch ở nước ta còn chưa tương xứng với tiềm năng
“ Người ta nói VN có rừng vàng biển bạc mà không biết khai thác hết. Đó là điểm yếu của
mình”
Đó là do Sự quản lí của nhà nước còn chưa đúng mức ,tình trạng chồng chéo quyền hạn ,trách
nhiệm trong quản lí du lịch.
III/Cơ hội:( Oportunities)
1, Nền kinh tế quốc gia hội nhập toàn cầu.
1.1.Du lịch với sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam
13
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam tăng trưởng tương đối ổn định với tốc độ trung bình ở
mức tương đối cao (khoảng 20%), thị phần du lịch của Việt Nam trong khu vực đã tăng từ 5%
năm 1995 lên trên 8% năm 2005, thu nhập từ ngành du lịch tăng lên nhiều lần. Đây là một thành
công lớn góp phần giúp du lịch trở thành một trong những ngành có đóng góp lớn vào GDP.
Giai đoạn 1990-2000 có thể khẳng định là giai đoạn bứt phá trong tăng trưởng khách và thu nhập.
Khách quốc tế tăng trên 9 lần, từ 250 nghìn lượt (năm 1990) lên 2,05 triệu lượt (năm 2000); khách
nội địa tăng 11 lần, từ 1 triệu lượt lên 11 triệu lượt; thu nhập du lịch tăng gần 13 lần từ 1.350 tỷ
đồng lên 17.400 tỷ đồng. 5 năm gần đây (2001-2005), tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như
chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhưng do áp dụng các biện pháp táo bạo tháo
gỡ kịp thời, nên lượng khách và thu nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục tăng trưởng 2 con số.
Khách quốc tế năm 2001 đạt 2,33 triệu lượt, năm 2005 đạt gần 3,47 triệu lượt; khách nội địa năm
2001 đạt 11,7 triệu lượt; năm 2005 đạt 16,1 triệu lượt; người Việt Nam đi du lịch nước ngoài năm
2005 ước khoảng 900 nghìn lượt. Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành
dịch vụ (riêng GDP du lịch hiện chiếm khoảng 4% GDP cả nước, theo cách tính của UNWTO thì
con số này khoảng 10%). Du lịch là một trong ít ngành kinh tế ở nước ta mang lại nguồn thu trên 2
tỷ USD/năm. Hơn 10 năm trước, Du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất khu vực, nhưng đến
nay khoảng cách này đã được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt Philíppin, chỉ còn đứng sau Malaysia,
Singapore, Thái Lan và Indonesia. Theo UNWTO, hiện nay Việt Nam là một trong những nước có

lịch, các dự án tạo sản phẩm du lịch đặc thù, chất lượng cao. Thu hút và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn ODA cho phát triển nguồn nhân lực, công nghệ và bảo vệ môi trường du lịch.
(nguồn: />1.2.Thành tựu đạt được của ngành du lịch về quan hệ hợp tác quốc tế hiện nay:
Với nỗ lực mở rộng hợp tác quốc tế, du lịch Việt Nam đã ký 42 hiệp định hợp tác du lịch song
phương với các nước là thị trường du lịch trọng điểm và trung tâm giao lưu quốc tế, tăng cường
hợp tác du lịch với các nước khác; ký hiệp định hợp tác du lịch đa phương 10 nước ASEAN; thiết
lập và tăng cường hợp tác du lịch với các nước khác; tham gia chủ động hơn trong hợp tác du lịch
Tiểu vùng Mêkông mở rộng, hợp tác Hành lang Đông - Tây, hợp tác sông Mêkông - sông Hằng,
hợp tác ASEAN, APEC, ASEM, hợp tác trong Hiệp hội du lịch Châu Á - Thái Bình Dương
(PATA), trong Tổ chức Du lịch thế giới (WTO)…; có quan hệ bạn hàng với 1.000 hãng của 60
nước và vùng lãnh thổ. Nhờ thế đã tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn khách, đẩy
mạnh xúc tiến du lịch và hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động gắn kết hoạt động du lịch Việt Nam
với du lịch khu vực và thế giới. Một số chính phủ và tổ chức quốc tế như Luxembourg, Nhật Bản,
15
Tây Ban Nha, Hà Lan, Cu Ba, cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp, EU, WTO… viện trợ không
hoàn lại gần 40 triệu USD về đào tạo nhân lực và hỗ trợ kỹ thuật cho du lịch Việt Nam; thu hút
9,126 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài (chiếm 7% tổng số vốn FDI cả nước,
không tính số dự án đầu tư vào văn phòng và căn hộ cho thuê). Ngành Du lịch đã thực hiện chủ
trương dựa vào lợi thế so sánh (như văn hóa, ẩm thực, nguyên liệu, lao động…) đầu tư ra nước
ngoài dưới hình thức liên doanh hoặc đầu tư 100% vốn, chủ yếu là kinh doanh ăn uống, và gần
đây là kinh doanh lưu trú ở các nước láng giềng, Pháp, Đức và Hoa Kỳ.
Việc đón tiếp trên 4 triệu khách du lịch quốc tế mỗi năm trong những năm gần đây và đẩy
mạnh tuyên truyền quảng bá du lịch ở nước ngoài đã đóng góp tích cực vào việc tuyên truyền về
đất nước, con người và du lịch Việt Nam, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc
tế đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, tăng cường ngoại giao nhân dân, thực hiện đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước và góp phần
đẩy mạnh Ngoại giao Chính trị - Kinh tế - Văn hóa.
2. – Nhu cầu du lịch giải trí sinh thái ngay càng cao :
2.1:Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại của các hệ sinh thái

đảm bảo niềm tin gây cảm tình đối với du khách. Tuyến du lịch có thể tổ chức dài từ 4-5 ngày đối
với toàn tuyến, tuy nhiên có thể tuỳ theo yêu cầu của du khách mà có thể phân thành mộttuyến
nhất định. Điều đáng mừng là những năm gần đây nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã hưởng ứng
tích cực loại hình du lịch sinh thái. Loại hình du lịch này bước đầu đã được chú ý đầu tư để thu hút
nhiều khách tham quan, đồng thời hình thành và phát huy chất lượng phục vụ của các tuor du lịch
làm cho du khách thấy thoải mái, chủ động.
Sở Du lịch tỉnh Hà Tây đã mở thêm các tour du lịch sinh thái vườn lồng ghép các tour du
lịch làng nghề như vuờn sinh thái ở Chương Mỹ, ở Thường Tín, khu du lịch sinh thái Song
Phương, trang trại sinh thái Vân Canh ở Hoài Đức, vườn có Ngọc Nhị ở Ba Vì v.v... Ở Khánh Hoà
củng mở các tour du lịch mới đưa du khách đến khu vực Đầm Môn , bãi tắm Xuân Đừng ở vịnh
Văn Phong v.v... các du khách boi thuyền trên vịnh, thăm một số bãi biển trên vịnh, thăm làng
nghề Hà Đằng từ nhiều năm còn cách biệt với đất liền, thưởng ngoạn Dốc Lết, tắm suối nước nóng
Tháp Bà v.v...Huyện Sa Pa nằm sâu trong rìa Tây Nam , là huyện từ khi ra đời được coi là vùng
khí hậu ôn đới đặc biệt của Việt Nam. đây là điểm du lịch sinh thái rất hấp dẫn đối với khách du
lịch trong và ngoài nước.
Trong vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ cần phải kể đến tiểu vùng(hoặc khu vực) du
lịch Cần Thơ có các yếu tố sinh thái đặc trưng mà các tỉnhtrong vùng này khó hội đủ. Tình này là
vùng đất màu mỡ của đồng bằng sôngCửu Long, nên ngày từ thời còn thuộc Pháp người dân Nam
Bộ đã mệnh danh Cần Thơ là Tây Đô. Ở đây chính quyền thực dân đã bố trí đầy đủ quyền lực để
củng cố địa vị độc tôn của họ về mặt chính trị-hành chính; còn về kinh tế xã hội cũng sớm phát
triển. Là tâm điểm thu hút nhà buôn, nhà đầu tư, nhà khoa học, nhà văn hoá do các yếu tố sinh thái
đa dạng của Cần Thơ vốn sẵn ưu thế về địa lý, giao thông, về thương mại, cả về du lịch nữa. Riêng
về địa lý tự nhiên ở đây là hàng trăm dòng kênh, dòng rạch trên hàng ngàn km chằng chịt bồi đắp
phù sa màu mỡ của sông Hậu cho các cánh động, đảm bảo năng suất cây lúa của miền Nam. Các
khu vườn cây trái theo mùa vụ trĩu quả, đậm đà hương vị riêng biệt như bưởi, ổi, chôm chôm, quýt
đường, cam sành, sầu riêng, xoài cát, đu đủ, măng cụt, mận, nhẵn v.v... Cùng các khu vườn nhà
của các hộ dân cư nông trường Sông Hậu trên diẹn tích 7000 ha vừa gieo trồng các giống lúa mới
đạt năng suất cao, có chất lượng, các dòn rạch với hai bờ xanh cây bạch đàn và các loại cây ăn quả
về mô hình kinh tế sinh thái độcđáo “ Ruộng , vườn, ao, chuồng” tiêu biểu v.v... Sự hấp dẫn về du
lịch sinh thái của vung Cần Thơ làm cho du khách trong các tuor du lịch cùng với việc tham quan

di tích văn hoá sinh thái là nui Lạc Long Quân đối diện với nuiÂu Lạc v.v... Phía bên trong các
dãy Giả Sơn có những hang động mô phỏng các hang động như Phong Nha, Nam thiên đệ nhất
Động v.v... Khi du khách leo đến bậc đá cuối cùng ở núi Lạc Long Quân là nhìn thấy cảnh quan
bát ngát của thành phố Hồ Chí Minh.
Ở làng du lịch sinh Xi-Va tại Mũi Né, Phan Thiết do công ty du lịch Than Niên thành phố
Hồ Chí Minh và công ty lương thực tỉnh Bình Thuận đã đầu tưtrên diện tích ở bãi Mũi Né sát biển
dưới các hàng phi lao thoáng mát cùng gió biển gồm các nhà nghỉ bằng bê tông kết hợp các loại
vật liệu dân tộc như gỗ, mây, tre, dừa, trang trí phù điêu bằng thạch cao, bằng gạch men theo
phong cách cổ truyền bộ tộc Chăm-Pa. Trong các tháng đầu năm 2003 này các nhà quản lý làng
nghỉ mát Xi-Va lần lượt tổ chức các chuyến đi cho du khách dạo chơi bằng ca-nô, đánh bắt hải
sản, tham quan tìm hiểu các hòn đảo gần kề. Thăm quan tìm hiểu các hòn đảo gần kề, thăm làng
thổ cẩm, làng gốm Chăm. Các tiết mục múa Chăm có trình diễn các nhạc cụ Chăm làm cho du
khách có dịp thuận tiện tìm hiểu thưởng thức các nét văn hoá đặc sắc của bộ tộc Chăm v.v...
Huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hoà cũng đang triển khai các dự án phát triển loại hình
du lịch sinh thái như dự án khu du lịch sinh thái Bãi Dài, dự án khu du lịch sinh thái thuộc công ty
trách nhiệm hữu hạn du lịch- địa ốc Hồng Hà, khu du lịch Cam Ranh thế kỷ XXI. Tại vịnh Văn
Phong du khách thường bơi thuyền thăm các bãi biển gần như nguyên sơ, thăm làng Hà Đằng từ
nhiều năm vẫn còn cách biệt với đất liền, thưởng ngoạn dốc Lết, tắm suối nước nóng Tháp Bà...
Cùng với các hang động như đã liệt kê điển hình ở một số nơi trong hệ sinh thái rừng-núi-
hang động của Việt Nam có trên 400 suối nước nóng Kim Bôi ở tỉnh Hoà Bình, suối nước nóng
Hội Vân ở tỉnh Bình Định v.v... Đồng thời không ít vùng còn có nhiều thác nước mát nổi tiếng
như thác Mơ nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang cách thị xã Tuyên Quang 100 km tạo nên
18
một cảnh quan hấp dẫn; thác Bản Giốc ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng trên dòng sôngQuầy
Sơn chảy vòng quanh lãnh thổ Việt Nam đến xã Đàm Thuỷ và từ độ cao trên 30m dòng nước trắng
xoá đổ xuống qua các bậc đá vôi. Tại tỉnh Bắc Kạn có thác Đầu Đẳng cách hồ Ba Bể khoảng 3km.
Tỉnh Nghệ An có thác Khe Kẻm trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mạt thuộc huyện Côn Cường.
Tỉnh Gia Lai có thác Xung Khoeng thuộc huyện Chư Pờ Rông. Tỉnh Đắc Lắc có thác Drây Sáp.
Tỉnh Lâm Đồng có thác Prenn, thác Pong Gua, thác Đam-bờ Ri, thác Cam Ly, thác Đan Ta La,
thác Gou Gah v.v... cũng cách thành phố Đà Lạt chừng 7 km về phía Đông-Bắc từ thời Pháp có

du lịch sinh thái quốc tế gắn với thị trường du lịch Việt nam là khách quan và là
một tiềm năng.
19
Hiện nay, số khách du lịch trong nước đã tăng lên tới 8,5 triệu lượt khách. Trong đó có bao
nhiêu khách thuộc đối tượng du lịch sinh thái? Chưa có số liệu tin cậy bởi khái niệm du lịch sinh
thái chưa được quan tâm dẫn đến trong thống kê du lịch chưa được thể hiện. Căn cứ vào số khách
đến với các vùng thiên nhiên với động cơ hưởng thụ vào sản phẩm thiên nhiên như: các vườn quốc
gia và bảo tồn thiên nhiên , vãn cảnh sông nước , hành trình xuyên Việt, thám không vùng vịnh
hay đến các khu tự nhiên Hạ Long, TamCốc – Bích Động … thì tỷ lệ cũng không nhỏ có thể
chiếm tới 30 – 40% tổng số khách hàng năm.
Tuy nhiên với khái niệm đầy đủ về du lịch sinh thái vế thứ hai là ý thức , trách nhiệm với
việc bảo tồn phát triển du lịch sinh thái thì chưa có những tư duy, giáo dục tốt về vấn dề này. Với
tốc độ đô thị hoá như hiện nay chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao và cải thiện…Chắc
chắn nhu cầu đi du lịch sinh thái sẽ tăng lên đáng kể, không còn giới hạn ở con số 4 – 5 triệu
người/năm mà có thể lên đến hàng chục triệu người mỗi năm trong các năm tới đây.
Xét về tiềm năng du lịch sinh thái của nước ta với vị trí nằm tiếp giáp với biển Đông với
chiều dài trên 3200km bờ biển có nhiều, vịnh đảo và những quần thể núi đá vôi, sông, hồ, thác
nước, hang động, suối nước nóng, và 3/4 diện tích núi rừng với độ dốc cao …đã tạo cho Việt nam
rất phong phú và đa dạng về khí hậu và địa hình địa mạo nên rất giàu về tiềm năng sinh thái cũng
như sự đa dạng sinh thái .
Theo đánh giá của quốc tế, nước ta đứng thứ 16 về sự phong phú, tính đa dạng sinh học, đại
diện cho vùng Đông nam Á về sự độc đáo và giàu có về thành phần loài. Mặc dù bị tổn thất về
diện tích do nhiều nguyên nhân trong hai thập kỷ qua, nhưng hệ thực vật vẫn còn khá phong phú
về chủng loại. Tiềm năng và thế mạnh về sự đa dạng sinh thái của Việt nam hấp dẫn du lịch ở các
đạc trưng sinh thái dưới đây:
- Các vùng núi đá vôi với nhiều dạng hang động như là một kho tàng cảnh quan thiên nhiên huyền
bí mà trong đó Vịnh Hạ long – di sản thiên nhiên thế giới , động Phong Nha – Kẻ Bàng làm ví dụ .
20
- Nhiều đảo, vịnh và bãi tắm biển đẹp với các sinh thái dộng vật, thực vật biển phong phú và
đa dạng.

được bảo vệ và chúng sống trong các hệ sinh thái tương đối mong manh. Tình trạng này có thể
được khắc phục nếu có quy hoạch thích hợp. Chẳng hạn như khoanh vùng bảo vệ, xây dựng chòi
quan sát từ xa có thể xem được một số con tê giác còn sống sót tại vườn quốc gia Cát Tiên mà đầu
tháng5/1999 các nhà nghiên cứu đã chụp được những bức ảnh đầu tiên bằng máy ảnhtự động. Khi
có các nguồn tài chính có thể xây dựng các khu nuôi thú bán hoang dã. Hiện tại ở Vườn quốc gia
Cúc phương đã xây dựng được một khu nuôi các loài linh trưởng rộng khoảng 2 ha. Du khách có
22
thể tham quan và ngắm nhìn một số loài khỉ vượn vào lúc cho ăn. Vườn quốc gia Ba vì cũng đang
xây dựng khu nuôi thú và chim bán hoang dã ở khu vực có độ cao 400 mét so với mực nước biển.
Sự đặc hữu về động thực vật là một hấp dẫn đối với du lịch sinh thái mang tính chất nghiên
cứu khoa học. Những nhà khoa học có thể đến đây để tìm hiểu những loài động thực vật chỉ có ở
Việt nam. Sự phong phú về hệ sinh thái ở Việt nam sở dĩ có được là nhờ sự đa dạng về địa hình
của đất nước. Sự đa dạng về địa hình kết hợp với sự phong phú về hệ sinh thái đã cho ra đời
những sản phẩm, địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Hấp dẫn nhất phải kể đến rừng mưa nhiệt đới
Vườn quốc gia Cúc phương, Cát bà, Ba bể, Bạch mã và khu bảo tồn thiên nhiên Phong nha – Kẻ
bàng, Hoàng liên sơn .
Phong nha-Kẻ bang.
Nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên phân bố dọc theo 3260 km bờ biển với hệ
động thực vật còn khá phong phú và nhiều bãi tắm lý tưởng như Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Xuân
Thuỷ, Sầm Sơn, Lăng Sô, Bình Châu, Phước Bửu. Các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
vùng đảo và quần đảo cũng là địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng. Nơi đây ngoài hệ sinh thái trên
cạn còn có hệ sinh thái trên biển với các rạn san hô có thành phần loài phong phú. Chúng ta có thể
tổ chức du lịch lặn, xem hệ động thực vật biển phong phú trong các rạn san hô ở khu vực đảo Cát
Bà, Côn Đảo, Phú Quốc và các đảo thuộc khu vực Nha Trang, Khánh Hoà.
23
Phú Quốc.
Ba phần tư diện tích lãnh thổ của Việt nam là đồi núi với nhiều đỉnh núi cao có khí hậu mát mẻ
rất thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng mùa hè. Những địa điểm nổi tiếng như Sa Pa, Tam Đảo,
BaVì, Bạch Mã, Bà Nà - Núi Chúa đã được người pháp khai thác cách đây nửa thế kỷ và hiện còn
lưu giữ nhiều tàn tích của các biệt thự cũ. Từ các trung tâm ngỉ dưỡng nay ta có thể thiết kế các

nước ta hiện nay. Bởi nếu số người chưa có việc làm quá lớn ở khu vực địa lý chính trị có tính
nhạy cảm cao này sẽ dẫm đến những vấn đề xã hội, hình htành nhân tố không ổn định đối với sự
phát triển kinh tế nói chung và an ninh quốc phòng. Vì thế, giải quyết việc làm cho người dân
vùng ven biển là một việc rất quan trọng đối với chính phủ. Du lịch nói chung và du lịch biển nói
riêng là ngành kinh tế tổng hợp có tính xã hội hoá cao, có khả năng tạo nhiều công ăn việc làm cho
xã hội trong quá trình phát triển. Vì vậy, việc phát triển du lịch biển có ý nghia khá quan trọng
trong việc giải quyết vấn đề nói trên, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi số lao động cần bố trí
việc làm ở vùng ven biển nước ta đã lên đến khoảng 10 triẹu người (chiếm khoảng 84% dân số
trong đọ tuổi lao động ở 29 tỉnh, thành ven biển).
25

Trích đoạn Quan điểm phát triển về ngành du lịch Nhu cầu du lịch giải trí sinh thái ngay càng cao
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status