TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN : TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
KỲ VỌNG LẠM PHÁT VÀ
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở ẤN ĐỘ
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang
Nhóm thực hiện : Nhóm 3
Lớp : TCDN-Đêm 1-K20
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2012
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
DANH SÁCH NHÓM 3-TCDN ĐÊM 1-K20
1. Huỳnh Quốc Bảo
2. Vũ Trung Dũng
3. Huỳnh Thị Hải Hà
4. Đặng Thị Hòa
5. Ngô Thị Hân
6. Hà Đức Hiếu
7. Trần Minh Lam
8. Huỳnh Thị Phương Lan
9. Văn Thị Mỹ Ngân
10. Trần Thị Ánh Tuyết
11. Trần Thị Kim Yến
- 2 -
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
1. Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu chính sau:
nhiên gây ra lạm phát. Lạm phát là cái giá phải trả để giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Lúc này vấn đề kỳ vọng lạm phát được đặt ra : Có 02 lý thuyết về kỳ vọng lạm
phát: Kỳ vọng thích nghi (adaptive expectation) và kỳ vọng hợp lý (Rational
expectation) .
• Kỳ vọng thích nghi : kỳ vọng được hình thành dựa vào lạm phát quá khứ (lý
thuyết quán tính)
- 4 -
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
• Kỳ vọng hợp lý lúc đầu được đưa ra bởi John Muth, sau đó được phổ biến bởi
Robert Emerson Lucas. Kỳ vọng hợp lý ( Rational expectation) : các kỳ vọng
được dự báo một cách tốt nhất căn cứ vào tất cả các thông tin sẵn có bao gồm các
thông tin về chính sách. Nếu chính sách cắt giảm lạm phát được tin cậy, các kỳ
vọng lạm phát có thể đều chỉnh nhanh
John Fraser Muth (27 /09/ 1930 – 23/10/ 2005) là một nhà kinh tế người Mỹ.
Ông được biết đến như "cha đẻ của cuộc cách mạng kỳ vọng hợp lý trong kinh tế", "
Rational Expectations and the Theory of Price Movements " từ năm 1961. Ông sử
dụng thuật ngữ để mô tả nhiều tình huống kinh tế, trong đó kết quả phụ thuộc một
phần vào những gì mọi người mong đợi xảy ra. Giá của một hàng hóa nông nghiệp, ví
dụ, phụ thuộc vào có bao nhiêu mẫu Anh nông dân trồng, do đó phụ thuộc vào giá cả
nông dân mong đợi để nhận ra khi họ thu hoạch và bán cây trồng của họ. Một ví dụ
khác, giá trị của một loại tiền tệ và tỷ lệ khấu hao của nó phụ thuộc một phần vào
những gì mọi người mong đợi. Và chính điều này làm cho mọi người vội vàng rời bỏ
một đồng tiền mà họ mong đợi mất đi giá trị, qua đó góp phần mất giá trị của đồng
tiền đó. Tương tự như vậy, giá của một cổ phiếu hay trái phiếu phụ thuộc một phần
vào những gì người mua tiềm năng và người bán tin rằng nó sẽ có trong tương lai.
Robert Emerson Lucas, Jr (sinh ngày 15 tháng chín 1937, Yakima,
Washington) là một nhà kinh tế học Mỹ tại Đại học Chicago. Ông đã nhận được giải
thưởng Nobel Kinh tế năm 1995. "Expectations and the Neutrality of Money” năm
hơn là cố gắng giải thích những gì diễn ra trong quá khứ. Tuy thế, tình trạng lạm phát
dai dẳng những năm 1970 đã kiểm tra giả thiết của Friedman-Phelps. Đúng thế, tương
quan lịch sử giữa lạm phát và tỉ lệ thất nghiệp bị phá vỡ đúng theo cách mà Friedman
và Phelps dự đoán: vào năm 1970, khi tỉ lệ lạm phát tăng đến hai con số, tỷ lệ thất
nghiệp lên cao, còn cao hơn cả những năm giá cả ổn định của thập niên 1950 và 1960.
Cuối cùng lạm phát được kiểm soát vào những năm 1980, nhưng chỉ sau một thời kỳ
nhọc nhằn với tỉ lệ thất nghiệp cực cao, tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy thoái.
Với việc dự đoán trước tình trạng suy lạm phát, Friedman và Phelps đã đạt
được một thành tựu lớn lao của kinh tế học thời hậu chiến. Thành tựu này, hơn bất kỳ
kết quả nào khác, xác nhận địa vị của Milton Friedman như một nhà kinh tế vĩ đại của
các nhà kinh tế, bất kể những gì người ta có thể nghĩ về các vai trò khác của ông.
- 6 -
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
Lý luận của chủ nghĩa tiền tệ về đường cong Phillips
Chủ nghĩa tiền tệ đã bác bỏ lý luận nói trên của trường phái kinh tế học vĩ mô
tổng hợp. Họ cho rằng đường cong Phillips như trên chỉ là đường cong Phillips ngắn
hạn. Friedman đã đưa ra khái niệm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, theo đó khi thị trường
lao động ở trạng thái cân bằng vẫn có thất nghiệp. Đây là dạng thất nghiệp tự nhiên.
Vì thế, ở trạng thái cân bằng, tỷ lệ thất nghiệp vẫn là một số dương. Và khi nền kinh
tế cân bằng, thì lạm phát không xảy ra. Đường cong Phillips ngắn hạn dốc xuống phía
phải và cắt trục hoành ở giá trị của tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Hễ chính phủ áp dụng
các biện pháp nhằm đưa tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức này, thì giá cả sẽ tăng lên
(lạm phát), và có sự dịch chuyển lên phía trái dọc theo đường cong Phillips ngắn hạn.
Sau khi lạm phát tăng tốc, cá nhân với hành vi kinh tế điển hình (hành vi duy
lý) sẽ dự tính lạm phát tiếp tục tăng tốc. Trong khi tiền công danh nghĩa không đổi,
lạm phát tăng nghĩa là tiền công thực tế trả cho họ giảm đi. Họ sẽ giảm cung cấp lao
động, thậm chí tự nguyện thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp lại tăng lên đến mức tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên, trong khi tỷ lệ lạm phát vẫn giữ ở mức cao.
Personal RePEs Archive (MPRA) Paper No 11359 (December).
5. Kỳ vọng lạm phát trong nền kinh tế thị trường mới nổi, hoặc tập trung
vào mục tiêu tin cậy: Minella, A., Paulo Springer de Freitas, Ilan Goldfajn, and
Marcelo Kfoury Muinhos, 2003, “Inflation Targeting in Brazil: Constructing
Credibility Under Exchange Rate Volatility,” Journal of International Money and
Finance, Vol. 22, pp 1015-40
Các nghiên cứu thực nghiệm khác
1.
Michael J. Lamla
and Samad Sarferaz,
March 2012,
Updating Inflation
- 8 -
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
Expectations -
điều tra nghiên cứu làm thế nào các kỳ vọng lạm phát hình thành. Bằng
việc phân tích đặc tính của thời gian để cập nhật những kỳ vọng và yếu tố quyết định
tiềm năng của nó. Thiết lập một mô hình kinh tế linh hoạt theo dõi sự hình thành của
kỳ vọng lạm phát của người tiêu dùng tại mỗi thời điểm trong chuỗi thời gian. Kết
quả cho thấy rằng xu hướng cập nhật các kỳ vọng lạm phát thay đổi đáng kể theo thời
gian và có liên quan đến số lượng và chất lượng của tin tức.
2. Stefania Albanesi và ctg, 2002, Expectation Traps and Monetary Policy
Tại sao nói rằng lạm phát liên tục cao trong một số thời kỳ và liên tục thấp
trong khoảng thời gian khác? Phần lớn đổ lỗi cho chính sách tiền tệ. Kết quả cho thấy,
trong một mô hình cân bằng tiêu chuẩn, không có cam kết dẫn đến cân bằng nhiều,
hoặc bẫy kỳ vọng. Trong những cái bẫy, kỳ vọng lạm phát cao hay thấp dẫn dắt công
t
f AR p MA q S m SMA n
π
=
Trong thống kê học, mô hình autoregressive moving average (ARMA), đôi khi
được gọi là mô hình Box-Jenkins sau khi phương pháp Box-Jenkins được đưa ra sử
dụng để chạy mô hình, thường được áp dụng cho dữ liệu chuỗi thời gian (time series)
tự tương quan (autocorrelated).
Cho chuỗi dữ liệu time series X
t
, mô hình ARMA là một công cụ để hiểu và có
lễ để dự đoán các giá trị tương lai của chuỗi này. Mô hình bao gồm hai phần, phần tự
hồi quy autoregressive (AR) và phần bình quân dịch chuyển moving average (MA).
Mô hình thường được coi là mô hình ARMA(p,q) khi p là order của phần
autoregressive và q là order của phần moving average.
Ký hiệu AR(p) liên quan tới mô hình tự hồi quy autoregressive với
order p. Phần mô hình AR(p) đượ c viết:
1
1
p
t i t t
i
X c X
ϕ ε
−
=
= + +
∑
Trong đó:
• Chuỗi dữ liệu time series X
, , θ
q
là thông số của mô hình, μ là giá trị kỳ vọng của
(thường được giả sử là bằng 0), và , , là nhiễu trắng (white noise).
• Mô hình tổng quan sẽ bao gồm hai mô hình con AR(p) và MA(q)
1 1
p q
t t i t i i t i
i i
X c X
ε ϕ θε
− −
= =
= + + +
∑ ∑
Nếu X
t
tuân theo quá trình ARMA (1,1), nó có thể viết dưới dạng:
1 1 1 1t t t t
X c X
ε ϕ θε
− −
= + + +
Dữ liệu của bất kỳ chuỗi thời gian nào đều có thể được coi là tạo ra nhờ một
quá trình ngẫu nhiên và một tập hợp dữ liệu cụ thể. Cũng như chúng ta sử dụng các
dữ liệu mẫu để suy ra các ước lượng về một tập hợp, thì trong lĩnh vực chuỗi thời
gian, chúng ta dùng kết quả để suy ra các ước lượng về quá trình ngẫu nhiên đó. Một
dạng của quá trình ngẫu nhiên được các nhà phân tích về chuỗi thời gian đặc biệt
quan tâm và xem xét kỹ lưỡng là cái được gọi là quá trình ngẫu nhiên dừng
Nói chung, một quá trình ngẫu nhiên được coi là dừng nếu như trung bình và
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
Quy trình Johansen
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Variable
Coefficient
Coefficient
Std.Error
Std.Error
t-Statistic
t-Statistic
Prob.
Prob.
C
0.0509
0.0025
20.3436
0.0000
AR(1)
0.9100
0.0429
21.2210
0.0000
SAR(12)
-0.2284
0.1153
-1.9807
0.0501
MA(2)
0.3212
Durbin-Watsonstat
1.2447
Xem xét : hệ số xác định R squared rất cao 0.9260 và phần sai số hồi quy thấp
0.0061
Kiểm định t-statistic cho các biến đều có p-value < 0,05
Kiểm định F hợp lý
Trị thống kê Durbin-Watson nằm trong vùng chấp nhận 1,2447, chứng tỏ hiện
tượng tương quan chuỗi không quá lớn
Thế các hệ số đã được ước lượng vào thì phương trình hồi quy sẽ có dạng :
πe = 0.006 + 0.91πt-1 – 0.22 πt-12 + εt + 0.32εt-2 - 0.85εt-12
Xem xét : hệ số xác định R squared rất cao 0.9260 và phần sai số hồi quy thấp
0.0061
Kiểm định t-statistic cho các biến đều có p-value < 0,05
Kiểm định F hợp lý
- 13 -
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
Trị thống kê Durbin-Watson 1,2447 nằm trong vùng chấp nhận
So sánh các điểm dự đoán với lạm phát thực tế
Dựa trên những sai lệch giữa dự đoán và thực tế, ta thêm độ trễ theo mùa t-13 và
sai số theo mùa t-14 để tối thiểu hóa các sai lệch này. Vậy ta có phương trình ước
lượng lạm phát kỳ vọng như sau :
πe = 0.006 + 0.91πt-1 – 0.22 πt-12 + 0.20 πt-13 + εt + 0.32εt-2 - 0.85εt-12 - 0.27εt-14
Thống kê mô tả của mô hình
Statistic Value
RootMeanSquaredError 0.005972
MeanAbsoluteError 0.004394
MeanAbs. PercentError 9.244995
TheilInequalityCoefficient 0.051917
Kiểm tra tính dừng của các biến
Biến ADF PP
Lạm phát (%) -2.5810*** -2.5810***
Chênh lệch Sản lượng -4.2507* -3.6500*
Lãi suất thực (%) -8.2045* -8.2446*
Tăng trưởng chi tiêu tài chính thực tế (%) -9.7058* -9.7057*
Tỷ giá hối đoái thực (% Change) -2.2100 -1.7352
- 16 -
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
Giá các mặt hàng chính (% thay đổi) -3.1398*** -2.8797***
Giá Nhiên liệu (% thay đổi) -3.7235* -4.0767*
Như đã đề cập, kiểm tra tính dừng là điều kiện quan trọng khi đưa các biến vào
mô hình tự hồi quy. Khi kiểm tra tính dừng theo 2 phương pháp ADF và PP, ta thấy
chỉ có biến REER là dừng một cách rõ ràng do đã giá trị t (tau) lớn hơn cả 3 giá trị
thống kê tới hạn (critical level) 1%, 5,%, 10%. Trong khi đó các biến khác chỉ vượt
được 1 hoặc 2 mức độ critical level.
Thường thì đối với những biến chưa dừng, ta lấy sai phân bậc d để nó dừng và
đưa vào mô hình
Hai tác giả đã đưa các biến lagged Inflation, GDP Gap, Real Expenditure
Growth (Centre), Change in Real Effective Change Rate, Real Interest Rate, and
Changes in Primary Articles Prices and Changes in Fuel Prices vào mô hình vectơ tự
hồi quy VAR để xem phản ứng của lạm phát kỳ vọng (inflation expectation) và output
gap đối với một sự thay đổi (còn gọi là cú shock) của lãi suất thực (real interest rate)
- 17 -
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
Đường màu xanh là đường phản ứng theo thời gian (hay là độ trễ), đường đứt
Kiểm tra biến dư thừa
F-Stat
p-values
Lạm phát (%) 0.4609 42.89
0.00
GDPGAP 0.1381 22.04
0.00
g(EXPN) -0.0020 6.16
0.00
g(REER) -0.0293 7.17
0.00
Lãi suất thực (% Change)
-0.0611 2.32
0.05
Primary Articles' Prices Inflation
0.2903 39.11
0.00
Lạm phát giá xăng dầu
0.1057 43.32
0.00
Kiểm tra biến dư thừa với mô hình của Consensus Economics
Biến Sum of Coeffts
Kiểm tra biến dư thừa
F-Stat
p-values
Lạm phát (%) 0.4772
38.1508
0.00
GDPGAP
- 0.1184
Thống kê t Prob
Thống kê kiểm tra gia tăng Dickey – Fuller -7.849273 0.0000
Kiểm tra giá trị tới hạn: mức 1% -3.502238
Như vậy, các kết quả ước tính mạnh và theo sát các kỳ vọng lạm phát một cách
hợp lý. Lạm phát có độ trễ, thay đổi trong giá nhiên liệu và các hàng hóa thiết
yếu và chênh lệch trong sản lượng là yếu tố quyết định chủ yếu, theo sau là tỷ lệ lãi
suất thực (Bảng A1 trong Phụ lục 1).
- Lạm phát có độ trễ (cụ thể là một tháng và mười hai tháng) đóng góp gần
50% trong việc giải thích sự hình thành của kỳ vọng lạm phát. Điều này thể hiện tính
trì trệ cao hay kéo dài.
- Những thay đổi trong giá các hàng hóa thiết yếu giải thích được dưới 1/3
lạm phát kỳ vọng, phản ánh tầm quan trọng của giá thực phẩm, đặc biệt là đối với
những người đang kỳ vọng lạm phát trong tương lai.
- Khi kết hợp sự thay đổi trong giá thực phẩm và nhiên liệu giải thích 40%
các biến số trong kỳ vọng lạm phát. Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của các
hạng mục này trong rổ hàng tiêu dùng bình quân của phần lớn dân số Ấn Độ, những
thành phần được ấn định giá và đóng góp của chúng trong việc hình thành nên tính trì
trệ.
Những vấn đề liên quan tới: sự phụ thuộc vào giá quốc tế, mức độ chấp nhận
hàng nhập khẩu và từ đây lạm phát được nhập khẩu, được giả định là phù hợp hành
vi trong quá khứ Vai trò mà giá thực phẩm và nhiên liệu đang nắm giữ có ảnh hưởng
- 20 -
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
đến kỳ vọng lạm phát cho thấy tính dễ tổn thương không thể thay đổi đối với tới
những cú sốc cung ngoại sinh, cả khi được nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước.
-Chênh lệch sản lượng dương và có ý nghĩa, đạt gần 14% trong lạm phát kỳ
vọng và minh chứng cho sự lựa chọn khung lý thuyết mới của Keynes để giải thích
quá trình hình thành kỳ vọng về lạm phát ở Ấn Độ. Ở các nước phát triển, lạm phát
nghiệm hiện tại với lạm phát cao và leo thang trong ở các mặt hàng thiết yếu và như
vậy giá lương thực có thể dễ dàng ảnh hưởng đến dự đoán của người dân về lạm phát
trong tương lai và trụ lại ở đó. Điều này cần phải được nhìn thấy trong kết hợp với
phát hiện rằng một phần ba các biến về lạm phát tương lai- cũng nhiều như là lạm
phát trong quá khứ - được giải thích do giá thực phẩm chứa đựng trong chỉ số về giá
của các mặt hàng thiết yếu. Hơn nữa, các cú sốc do giá lương thực gây ra ở cấp độ
tổng thể là tương đối chậm. Do đó, theo quan điểm của chúng tôi, lập luận rằng áp lực
lạm phát trong giai đoạn hiện nay cơ bản là một hiện tượng từ phía cung và chính
sách tiền tệ gần như không có tác dụng hoặc có tác dụng rất ít, bị lấn át bởi nguy cơ
hiện hữu và rõ ràng của kỳ vọng lạm phát vốn đang làm mất cân bằng và tiếp tục gia
tăng trong dài hạn. Tại Ấn Độ, chính sách tiền tệ đã được thực hiện theo truyền thống
như một phương thức để giữ nhận thức và kỳ vọng về lạm phát xung quanh ngưỡng
5%. Điều này đặc biệt thấy rõ trong phản ứng của thị trường tài chính đối với các
thông báo hàng tuần về chỉ số WPI. Thật vậy, trong những tuần gần đây bắt đầu vào
cuối tháng 9 năm 2009, việc sụt giảm rõ rệt của chỉ số lạm phát theo WPI trên cơ sở
vững chắc xác nhận những kỳ vọng của thị trường về việc thực thi chính sách tiền tệ
chống lạm phát sẽ được tiếp tục thực hiện, dẫn đến lợi tức trên các công cụ tài chính
ngắn hạn, bao gồm tín phiếu Kho bạc 91 ngày, luôn thấp hơn hành lang lãi suất của
RBI. Thành công đạt được trong việc ổn định kỳ vọng lạm phát, trừ những giai đoạn
vào cuối 2006-07 và nửa đầu 2008-09 đều bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài, đã
khuyến khích RBI đưa ra tỷ lệ lạm phát 3% trong giai đoạn trung hạn của chính sách
để phù hợp với môi trường hội nhập của Ấn Độ vào nền kinh tế toàn cầu. Do đó có
một sự gia tăng trong độ tin cậy và sự đảm bảo cho chính sách tiền tệ được xem là
hành động chống lại lạm phát ngay bây giờ chứ không phải là hành động tức thời khi
sức ép xã hội lên cao
- 22 -
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
Vấn đề tiếp theo là chính sách tiền tệ điều hành như thế nào để neo kỳ vọng
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
vào ngày 24/02/2011 chấp nhận giảm bớt tốc độ tăng trưởng để đặt vấn đề ổn định
kinh tế lên hàng đầu. Câu hỏi đặt ra là cần giảm tăng trưởng bao nhiêu để giảm lạm
phát tới mức có thể chấp nhận được. Câu trả lời vẫn còn đang bỏ ngõ vì nó phụ thuộc
vào vấn đề tâm lý hơn là kinh tế . Nếu các hộ gia đình cũng như các doanh nghiệp đều
tin rằng các chính sách của chính phủ sẽ có hiệu quả trong việc giảm lạm phát, thì
mục tiêu giảm lạm phát sẽ đạt được tương đối nhanh chóng và ít gây tổn thương cho
nền kinh tế. Nhưng nếu họ không tin tưởng vào các chính sách này hoặc nghi ngờ
chính phủ sẽ thay đổi sang chính sách khác, thì mục tiêu giảm lạm phát sẽ còn kéo dài
dai dẳng và tốn nhiều công sức, của cải. Cái giá phải trả cho lạm phát càng cao, thời
gian để đạt được nó càng dài thì chính phủ càng dễ buông xuôi chính sách và các
doanh nghiệp cũng như hộ gia đình lại càng mất niềm tin rằng chính sách này sẽ
thành công. Lại một vòng lẩn quẩn.
Vận dụng bài nghiên cứu này để tìm ra các yếu tố quyết định kỳ vọng lạm phát
ở Việt Nam từ đó gọi ý chính sách tiền tệ phù hợp trong điều kiện hiện nay.
Không riêng gì Việt Nam, mà việc tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả các
chính sách nhằm kiểm soát lạm phát luôn được các nước trên thế giới đặc biệt quan
tâm. Mỗi chính sách có những ưu nhược điểm riêng và có những hiệu quả nhất định.
Qua các chính sách này, chúng ta đã, đang và sẽ cố gắng thực hiện những biện pháp
trung và dài hạn nhằm ổn định tình hình kinh tế để có thể đạt được mục tiêu tăng
trưởng GDP và kiềm chế được lạm phát như mong muốn.
- 24 -
Term paper TCQT-Nhóm 3 GVHD: PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc
Trang
PHỤ LỤC I: CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH KỲ VỌNG LẠM PHÁT
Bảng 7: Các yếu tố quyết định kỳ vọng lạm phát (Các dự đoán dựa trên mô hình)
- 25 -