PHẦN 1: DẪN NHẬP
Trong bài viết này, chúng ta nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá
hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á. Châu Á tuyên bố sẽ từng bước thực hiện
tự do hóa nhưng trong thực tế tự do hóa lại diễn ra nhanh hơn rất nhiều. Mặc dù tỷ
giá hối đoái đã dần dần trở nên linh hoạt hơn, nhưng hầu hết các nền kinh tế Châu
Á vẫn duy trì cơ chế tỷ giá cố định. Sự kết hợp giữa hội nhập ngày càng sâu trên
thực tế, mà không cần thả nổi tỷ giá nhiều, khi các dòng chảy vốn thuận chu kỳ đã
dẫn đến một chính sách tiền tệ thuận chu kỳ. Bài viết này nhấn mạnh nhu cầu để
đưa ra một hệ thống chính sách tiền tệ sao cho thật phù hợp.
Ý nghĩa mấu chốt trong kinh tế học vĩ mô là “bộ ba bất khả thi”, có nghĩa là ở bất
cứ thời điểm nào, một quốc gia chỉ có thể chọn hai trong những cái sau đây: vốn di
chuyển hoàn toàn tự do, cơ chế tỉ giá hối đoái cố định và một chính sách tiền tệ
độc lập. Ngoại trừ các quốc gia sử dụng đồng tiền chung Euro, hầu hết các nước
phát triển đều thực hiện chính sách tự do hóa dòng vốn, cơ chế tỉ giá hối đoái thả
nổi và một chính sách tiền tệ độc lập.
Ở Châu Á, có một vài trường hợp hoàn toàn ngược lại, chẳng hạn như Hong Kong
chọn cơ chế tỉ giá hối đoái cố định, tự do hóa dòng vốn và không có chính sách
tiền tệ độc lập. Tuy nhiên, nhìn chung, nền kinh tế Châu Á đều có chung xu hướng
là không có một chính sách tiền tệ độc lập, với sự phối hợp giữa việc kiểm soát
dòng vốn và cơ chế tỉ giá hối đoái thả nổi. Điều này làm phát sinh những nghi vấn
thú vị về thể chế hiện hành và khả năng điều hành chính sách tiền tệ ở Châu Á và
một nhu cầu cơ bản là làm sao để đưa ra một chính sách tiền tệ phù hợp.
Ở bài này, chúng ta tập trung vào 11 nền kinh tế chủ yếu ở Châu Á như: Ấn Độ,
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc); Hong Kong, Đài Loan,
Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Việt Nam, và Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Hàn Quốc). Đây là một nhóm những quốc gia
không đồng nhất cao, được sắp xếp từ những vùng lãnh thổ độc lập như Singapore
đến những quốc gia lớn như Trung Quốc, và từ những nền kinh tế nghèo như Ấn
Độ đến những nền kinh tế giàu như Đài Loan hay Hàn Quốc. Chúng ta sẽ gọi
những nền kinh tế này là khối các nước Châu Á-11.
Chúng ta sẽ xét khối các nước Châu Á-11 trên khía cạnh 3 góc độ của “bộ ba bất
thấy chính sách tiền tệ tuần hoàn khá rõ ràng.
Có ý kiến cho rằng những nền kinh tế đi theo hướng tự do hóa dòng vốn trong khi
vẫn thực hiện việc kiểm soát tỷ giá hối đoái sẽ phải đối mặt với những rủi ro tiềm
ẩn. Điều này là một mối quan tâm đặc biệt đối với Malaysia và Đài loan, nơi mà
hệ thống tài chính phức tạp đã ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát vốn, tự do hóa
dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái cố định. Việc theo đuổi chính sách tiền tệ
nghịch chu kỳ trở nên khó khăn hơn khi những quốc gia này đã thực hiện việc neo
tỷ giá hối đoái vào những dòng vốn thuận chu kỳ, bài viết này nhằm tìm ra một
chính sách tiền tệ thích hợp.
2
PHẦN 2: CỞ SỞ LÝ LUẬN & CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
I. Cơ sở lý luận
1. Thuyết bộ ba bất khả thi của GS. Robert Mundell
Mô hình Mundell-Fleming (Robert Mundell -1962, 1963 và J.M.Fleming-
1962)
Một quốc gia phải từ bỏ một trong 3 mục tiêu:
Chính sách tiền tệ độc lập
Cơ chế tỷ giá hối đoái cố định
Vốn di chuyển hoàn toàn tự do
2. Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian
Yigang và Tangxian (2001) tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi
của Mundell và đưa lên thành thuyết tam giác mở rộng
“Một quốc gia có thể có những phối hợp mục tiêu khác nhau và không phải
chấp nhận sự đánh đổi hoàn toàn như tam giác của Mundell”
Có 3 trường hợp:
3
Trường hợp 1: Khi dòng vốn hoàn toàn lưu động, có ba sự kết hợp:
- Dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách độc lập tiền tệ hoàn toàn ∩ tỷ
giá thả nổi tự do
hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi tự
do;
Không có khả năng vay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động
hoàn toàn ∩ mất đi tính độc lập trong chính sách tiền tệ ∩ tỷ giá cố
định.
Không có khả năng vay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động
hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi có
giới hạn.
Thứ hai:
Không có khả năng vay nợ nước ngoài ∩ kiểm soát vốn hoàn toàn ∩
chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cố định.
Đây là sự kết hợp thường thấy trong các nước đang phát triển với thị trường
tài chính yếu kém.
Thứ ba:
Không có khả năng vay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động có
giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi có
giới hạn;
Không có khả năng vay nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động có giới
hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi có giới
hạn;
Không có khả năng vay nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động có giới
hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá cố đinh.
Trường hợp 2: Khi có khả năng cao nhất để vay nước ngoài bằng nội tệ,
chúng ta có sự kết hợp:
Hoàn toàn có khả năng vay nước ngoài ∩ lưu động dòng vốn hoàn
toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cố định.
Thực tế, cơ chế tỷ giá dưới chế độ chuẩn vàng cổ điển (classical gold
standard) thuộc về sự kết hợp kiểu này.
Trường hợp 3: Khi khả năng vay nước ngoài bằng nội tệ có giới hạn, thì
ta có
những quốc gia hoàn toàn tự do hóa.
Mặc dù cơ sở dữ liệu thường được dùng để phân tích việc kiểm soát vốn trên danh
nghĩa, nhưng nó cũng có những hạn chế. Đầu tiên, nó không đạt được tính chính
xác của quá trình dần nới lỏng việc kiểm soát vốn, bởi vì nếu như tất cả các biện
pháp hạn chế không được dỡ bỏ nó sẽ tiếp tục đưa ra những chỉ số tương tự. Thứ
hai, chỉ số đã tăng đáng kể ở hầu hết các nước công nghiệp trong những năm gần
đây, bởi vì những nước này đã đưa ra những biện pháp hữu hiệu trong việc chống
rửa tiền, chống tài trợ khủng bố và những cái tương tự.
1.2 Tự do hóa tài khoản vốn thực tế
1.2.1 Phương pháp tính theo GDP
Tỷ lệ thương mại/GDP được hiểu như tổng lượng nhập khẩu và xuất khẩu, nó thể
hiện bằng tỷ lệ phần trăm của GDP. Nó đo lường sự tự do thương mại. Một sự giải
thích đơn giản minh chứng cho định nghĩa này đó là tỷ lệ dòng chảy tài chính
xuyên quốc gia trong cán cân thanh toán đến GDP. Nó đo lường sự hội nhập về tài
chính.
Khả năng điều tiết tỷ giá hối đoái của Ngân hàng trung ương tùy thuộc vào khối
lượng vốn quốc tế đổ vào trong nước trên thị trường ngoại hối. Thậm chí ngay cả
khi những luồng giao dịch này rất nhiều trong năm thì những khoản thanh toán
6
nhập khẩu, nguồn thu từ xuất khẩu và các dòng vốn tài chính vẫn hằng ngày ảnh
hưởng đến tỷ giá hối đoái. Thêm vào đó, mặc dù các dòng sản lượng bao gồm các
giao dịch trên cả tài khoản vãng lai và tài khoản vốn, nhưng các giao dịch trên tài
khoản vãng lai có vẻ chiếm ưu thế hơn các giao dịch trên tài khoản vốn, vì các
khoản chuyển vốn giữa các quốc gia có thể là các khoản phi thương mại. Patnaik,
Sengupta và Shah (2009) đã cho thấy rằng tài khoản vãng lai càng lớn thì các
khoản giao dịch phi thương mại càng nhiều và nó được xem như một biện pháp để
kiểm soát dòng vốn di chuyển. Patnaik và Shah đã nghiên cứu sự tự do hóa dòng
vốn không hề được mong đợi sẽ làm xuất hiện những tập đoàn đa quốc gia đóng
vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Những lý thuyết khác thì nhấn mạnh mối liên
hệ tác động qua lại giữa tự do hóa tài khoản vãng lai và tài khoản vốn (Aizenman
đoái danh nghĩa được công bố bởi Ngân Hàng Trung Ương khác xa so với cơ chế
tỷ giá thực tế. Điều này đã thúc đẩy một lý thuyết về phân lọai cơ chế tỷ giá hối
đoái theo phương pháp “dữ liệu hóa” (
Reinhart and Rogoff 2004; Levy-
Yeyati and Sturzenegger 2003;Calvo and Reinhart 2002). Lý thuyết này đã
đưa ra những dữ liệu để nhận dạng cơ chế tỷ giá thực tế ở nhiều nước trong
những thập niên gần đây bằng cách sử dụng sự khác nhau của những thuật toán
thay thế. Mặc dù những dữ liệu này hữu ích cho nhiều ứng dụng, chúng cũng có
những hạn chế trong việc đo lường những đặc điểm và cấu trúc của những cơ
chế tỷ giá trung gian. Ví dụ
Reinhart và Rogoff phân loại đồng Rupi của Ấn độ
như là một cơ chế tỷ giá đơn nhất từ năm 1993 trở đi, nhưng sau đó báo cáo này
chỉ ra rằng cũng từ năm 1993 Ấn độ đã từng có một cơ chế tỷ giá trung gian, chính
điều này đã mang lại một cái nhìn mới là làm cách nào để xây dựng cơ chế tỷ giá
hối đoái và chính sách tiền tệ.
Một phương pháp hữu ích để hiểu được cơ chế tỷ giá thực tế là phương pháp hồi
quy tuyến tính dựa trên tỷ giá chéo (với giá trị định vị thích hợp).Phương pháp
hồi quy này được sử dụng từ thời Haldane và Hall (1991) sau đó được phổ biến
bởi Frankel và Wei (vì vậy cũng có tên là phương pháp Frankel-Wei). Ứng
dụng gần đây của phương pháp ước lượng bao gồm Bénassy-Quéré, Coeuré và
Mignon (2006), Shah, Zeileis, và Patnaik (2005) và Frankel và Wei
(2007).Trong phương pháp này , một đơn vị tiền tệ độc lập chẳng hạn như là Đồng
France Thụy Sĩ (CHF) được chọn là giá trị định vị giả định. Nếu sự ước lượng sử
dụng đồng Rupi Ấn độ (INR) như mô tả thì mẫu ước lượng là:
Phương pháp hồi quy này mở rộng sự dao động tỷ giá của
INR/CHF phản ứng với
sự dao động của tỷ giá
US$/CHF. Nếu neo tỷ giá vào đồng đô la Mỹ thì sự dao
động giữa đồng Yên Nhật và đồng Mark Đức sẽ bằng 0.Nếu không neo tỷ giá vào
đồng đô la Mỹ thì cả 3 beta khác 0. R
tạo ra một thước đo giá trị thực tính linh hoạt của tỷ giá
+Xác định rõ ngày tháng mà cơ chế tỷ giá thay đổi. Chúng ta thực hiện phương
pháp sử dụng tỷ lệ % thay đổi hàng tuần của tỷ giá mà phương pháp này tạo ra
những phân đoạn thời kỳ đối với giải pháp trong tuần. Qua đó, những dãy số liệu
thời gian của tính linh hoạt tỷ giá đã đạt được ở mỗi nước và giá trị R
2
chiếm ưu thế
vào đúng thời điểm .
+Quyết định số lượng phân đoạn thời kỳ và sắp xếp những phân đoạn này dựa trên
những suy luận hợp lý.
9
PHẦN 3: SỐ LIỆU & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Kiểm soát vốn
Kiểm soát vốn danh nghĩa
Hình 1: Biểu đồ đo lường của Chinn-Ito trong 2 năm 1970 và 2007 của tất cả
các nền kinh tế
Biểu đồ thể hiện đồ thị mật độ cốt lõi của thước đo Chinn-Ito của việc tự do hóa
dòng vốn trên danh nghĩa của tất cả các nền kinh tế. Đường màu xanh và đỏ
tương ứng với năm 1970 và 2007. Sự phân bổ thuộc về hai đỉnh, với một khối gồm
hầu hết các nền kinh tế mở và một khối là hầu hết các nền kinh tế đóng. Có một sự
thay đổi trong khối là phần nhô lên phía trái của đồ thị (các nền kinh tế đóng) đến
phần nhô lên phía bên phải của đồ thị (các nền kinh tế mở). Biểu đồ này cho
chúng ta những thông tin tham khảo lấy từ cơ sở dữ liệu Chinn-Ito.
Nguồn: Chinn and Ito (2008) và những tính toán của tác giả
Cơ sở dữ liệu của Chinn-Ito cho thấy qua nhiều năm, tất cả các nước trên thế giới
hầu như đã dỡ bỏ kiểm soát vốn. Hình 1 cho thấy đồ thị mật độ cốt lõi của thước
đo Chinn-Ito giữa 2 năm 1970 và 2007 của tất cả các nền kinh tế. Trong cả hai
năm, biểu đồ chỉ ra hai phương thức, một cụm những nền kinh tế mở cửa và một
cụm những nền kinh tế đóng cửa. Điều này cho thấy xu hướng chung của các quốc
dòng vốn đã làm cho chỉ số từ mức -1,13 tăng lên mức -0,09 năm 1995. Tuy nhiên
trong năm 1996, chỉ số rớt lại mức -1,13 và không có sự thay đổi nào cho đến năm
2001 quốc gia này quay lại thực hiện chính sách tự do hóa dòng vốn. Năm 2007,
Hàn Quốc đã đạt được giá trị 0,18. Mặc dù đạt được thành tích này, nhưng nó vẫn
không thể có được tốc độ tự do hóa dòng vốn như các quốc gia OECD khác.
Mức mở cửa bình quân của khối các nước Châu Á-11 đã gia tăng một cách mạnh
mẽ từ mức -0,07 năm 1970 lên đến mức 0,96 năm 1985. Sau cuộc khủng hoảng tài
chính Châu Á, việc kiểm soát vốn tiếp tục duy trì, và vì vậy năm 1998, chỉ số bình
quân đã rớt xuống chỉ còn 0,41. Từ đó không thể đạt lại được mức 0,96 có được từ
trước khủng hoảng. Tuy nhiên, những phát triển gần đây của các nền kinh tế Châu
Á do mở cửa nền kinh tế đã không được dữ liệu Chinn-Ito phản ánh do sự thay đổi
trong phương pháp đo lường cũng như không thể đạt được việc dần nới lỏng kiểm
soát vốn mà điều này không hoàn toàn liên quan đến việc tháo bỏ các biện pháp
hạn chế.
Bảng 1: Sự phát triển của thước đo Chinn-Ito
Bảng này thể hiện sự tiến triển của phương pháp Chinn-Ito ở Ấn Độ, Trung Quốc
và Hàn Quốc, so với mức trung bình của khối các nước Châu Á-11
Chỉ số của Ấn Độ và Trung Quốc cố định ở mức -1,13, nó tương ứng với phương
thức “hầu như đóng cửa” như đã biểu diễn ở hình 1. Đối với Hàn Quốc, kiểm
soát vốn danh nghĩa đã thay đổi nhiều lần. Sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu
Á, Hàn Quốc vẫn ở mức -1,13 cho đến năm 2000. Từ đó, quốc gia này theo đuổi
chính sách tự do hóa và đến năm 2007 nó tăng lên đến mức 0,18.
Year India PRC
The
Republic
of Korea
Asia -11
Mean
1970 -1.13 -1.13 -1.13 -0.07
1975 -1.13 -1.13 -1.13 0.12
toàn cầu hóa. Số 1 tương ứng với 100%GDP trong 1 năm. Hai đại lượng ước tính
(đường đứt khúc và đường liền nét) được sử dụng để báo cáo tình hình của 11 nền
kinh tế Châu Á, cả hai giá trị này đều cho thấy tốc độ hội nhập với kinh tế thế
giới.
Nguồn: Datastream
Bảng 2 cho một cái nhìn cận cảnh hơn về 11 nền kinh tế Châu Á. Tốc độ hội nhập
của Trung Quốc và Ấn Độ là tương đối chậm cho đến năm 2000, sau đó có một sự
13
thay đổi đáng kể theo hướng tăng lên. Như trường hợp của Ấn Độ, từ năm 2000
đến năm 2008, GDP tăng 56 điểm phần trăm GDP. Những nước khác cũng có
khuynh hướng tương tự, đó là Trung Quốc (30 điểm phần trăm GDP), Hàn Quốc
(69 điểm phần trăm GDP) và bình quân khối các nước Châu Á-11 (45 điểm phần
trăm GDP).
Những kết quả cho thấy rằng mặc dù Châu Á chỉ là bị bắt buộc phải thực hiện tự
do hóa khi nó muốn theo đuổi chính sách kiểm soát vốn trên danh nghĩa, nhưng
trên thực tế chính điều này đã khiến Châu Á dần dần hội nhập với kinh tế thế giới.
Bảng 2: Tỷ trọng dòng luân chuyển so với GDP của Ấn Độ, Trung Quốc và
Hàn Quốc
Bảng này cho thấy tỷ trọng dòng luân chuyển so với GDP (thước đo của sự hội
nhập toàn cầu) của Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và khối các nước Châu Á-11.
Giá trị của một dòng tổng sản lượng tương ứng với 100% của GDP trong 1 năm.
Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2008, tỷ lệ này tăng lên 56 điểm
phần trăm ở Ấn Độ, 30 điểm phần trăm ở Trung Quốc và 69 điểm phần trăm ở
Hàn Quốc, và 45 điểm phần trăm bình quân nói chung ở khối các nước Châu Á-
11.
14
Nguồn: Datastream
1.2.2 Đo lường bằng sự phát triển thị trường tài chính
Hình 4: Giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer-Circel, and Santabarbara
Thước đo của phát triển khu vực tài chính khối Châu Á-11
Nguồn: Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009) và các tính toán của tác giả.
1.2.3 Đo lường thông qua cơ sở dữ liệu của Lane and Milesi-Ferreti
Hình 5: Biểu đồ đo lường của Lane và Milesi-Ferreti năm 1970 so với năm
2007 của tất cả các nền kinh tế
Biểu đồ thể hiện đồ thị mật độ cốt lõi của thước đo Lane và Milesi-Ferreti đối với
tự do hóa dòng vốn thực tế ở tất cả các nền kinh tế. Đường màu xanh và đỏ tương
ứng với năm 1970 và 2007. Không giống như các kết quả báo cáo trong Hình 1
của thước đo Chinn-Ito về tự do hóa dòng vốn, sự phân bố không còn là 2 đỉnh
16
cao nhất: năm 1970 hầu hết các nền kinh tế đều đóng cửa, nhưng đến năm 2007,
xu hướng này đã đảo ngược. Biểu đồ này cho chúng ta thông tin về 11 nước Châu
Á từ cơ sở dữ liệu của Lane and Milesi-Ferreti
Nguồn: Lane and Milesi-Ferreti 2007 và những tính toán của tác giả
Cơ sở dữ liệu cho thấy qua nhiều năm, các nước trên thế giới đều bãi bỏ kiểm soát
tài khoản vốn. Hình 5 cho thấy đo lường của Lane và Milesi-Ferreti của tất cả các
nền kinh tế. Trái với báo cáo kết quả trong hình 1, mật độ phân bố không phải là 2
đỉnh: tất cả nền kinh tế đã di chuyển từ đóng sang mở cửa ở những cấp độ khác
nhau. Hơn nữa, không có sự tập trung nào của các nền kinh tế ở một cấp độ mở
nhất định, cho thấy rằng không có một chuẩn mực nào cho cấp độ mở cả. Thực tế
là các nền kinh tế đã tiếp tục tự do hóa một cách nhanh chóng
Hình 6 cho thấy xu hướng trong giá trị trung bình của 11 nước Châu Á giai đoạn
1994-2004 (không có số liệu sau năm 2004 ). Tương tự như kết quả báo cáo trong
Hình 6, đường đứt khúc có xu hướng đi lên là do sự xuất hiện của một vài nền
kinh tế nhỏ và lớn bắt đầu thực hiện mở cửa. Vì vậy, đường liền nét cũng thể hiện
một con số có vị trí tương đối tốt hơn. Dãy thời gian của đường liền nét cho thấy
từ sau năm 2000 ít có sự thay đổi nào xảy ra.
Hình 6: Giá trị trung bình của Lane và Milesi-Ferreti đo lường sự hội nhập
thực sự của khối các nước Châu Á-11
Các số liệu của Lane và Milesi-Ferreti (2007) đo lường tài sản và khoản nợ nước
ngoài của nền kinh tế, thể hiện dưới một tỷ lệ GDP. Con số này được thể hiên
đã được neo vào đồng đô la ở một mức linh hoạt cho phép là R
2
là 0.84.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, Ấn Độ bắt đầu neo chặt đồng Rupi vào
đồng đô la. Từ 28 tháng 9 năm 1998 đến 19 tháng 3 năm 2004, hệ số đồng đô la Mỹ
bị đảo ngược thành 1.01. Những hệ số khác thì không không thay đổi đáng kể.
R
2
tăng lên 0.97.Suốt thời kỳ này, cơ chế tỷ giá ở Ấn Độ tương tự như của Trung
Quốc thời kỳ sau tháng 7 năm 2005.
19
Bảng 5: Cơ chế tỷ giá thực của Ấn Độ
Phương pháp luận được phát triển bởi
by Zeileis, Shah và Patnaik (2008) được
áp dụng để nhận biết ngày tháng của sự phân đoạn cơ cấu trong phương pháp
hồi quy của tỷ giá:
Trong trường hợp của Ấn Độ, ba thời kỳ phụ riêng biệt là bằng chứng. Thời kỳ phụ
đầu tiên và thứ hai thể hiện rõ sự neo tỷ giá vào đồng đô la Mỹ, tuy nhiên sau tháng 3
năm 2004, những đồng tiền khác bắt đầu có vấn đề. Cơ chế tỷ giá hối đoái cố định
được đo bởi R
2
của phương pháp hồi quy này.
Nó thể hiện giá trị 0.81 ở thời kỳ thứ
ba. Giá trị trong bảng là những sai số cho phép.
Ở thời kỳ cuối, Ấn Độ quay lại cơ chế tỷ giá thả nổi. Những hệ số đối với những
đồng tiền không phải là đô la Mỹ bắt đầu đạt những giá trị hiệu quả. R
2
rớt xuống
còn 0.81. Sự thay đổi trong cơ chế tỷ giá diễn ra vào tháng 3 năm 2004 đạt hiệu quả
Kết quả hồi quy cho thấy rằng một vài chi tiết đáng chú ý đã thay đổi trong cơ chế
tỷ giá hối đoái phổ biến. Chỉ số đồng US$ rớt xuống còn 0.949. Chỉ số đồng Euro
tăng lên một giá trị nhỏ 0.06, ở mức mà lý thuyết số 0 vô hiệu không còn ý nghĩa.
Độ lệch tiêu chuẩn còn lại tăng hơn gấp đôi, lên đến 0.243, nhưng
R
2
lại giảm nhẹ
xuống còn 0.974. Mặc dù tỷ giá hối đoái đã linh hoạt hơn trong giai đoạn này,
nhưng cơ chế tỷ giá vẫn rất ít thay đổi.
Cuối cùng, Bảng 7 chỉ ra quá trình phát triển của cơ chế tỷ giá hối đoái của Hàn
Quốc. Từ năm 1981 cho đến đầu năm 1995, Hàn Quốc neo tỷ giá vào đồng đô la
Mỹ. Trong năm 1995, tỷ giá đã tăng tính linh hoạt một cách đáng kể và
R
2
giảm
xuống còn 0.65. Cơ chế tỷ giá hối đoái này thậm chí còn linh hoạt hơn cơ chế của
Ấn Độ.
Bảng 7: Chế độ tỷ giá hối đoái thực tế của Hàn Quốc
Ứng dụng cho Hàn Quốc, phương pháp luận của Zeileis, Shah và Patnaik (2008)
đưa ra 2 thời kỳ. Từ năm 1981 đến đầu năm 1995. Cơ chế tỷ giá hối đoái gắn liền
với đô la Mỹ. Sau đó, cơ chế tỷ giá hối đoái thay đổi đáng kể,
R
2
giảm xuống còn
0.65. Giá trị trong bảng là những sai số cho phép.
22
Hình 7: Sự phát triển của cơ chế tỷ giá hối đoái ở Châu Á
Phương pháp luận của Zeileis, Shah và Patnaik (2008) được ứng dụng cho mỗi
nền kinh tế trong khối Châu Á-11. Đồ thị này cho thấy cơ chế tỷ giá hối đoái phổ
biến tại những thời điểm khác nhau. Giá trị
đã có sự tăng nhẹ tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái cố
định vẫn được duy trì trong giai đoạn này. Từ năm 1982 đến 1997, giá trị trung
bình của
R
2
đã cao hơn mức 0.9. Cơ chế tỷ giá hối đoái cố định này, kết hợp với
sự gia tăng tự do hóa dòng vốn, đã góp phần tạo ra khủng hoảng tài chính Châu
Á, mà nguyên nhân là do các doanh nghiệp và ngân hàng vay nợ bằng ngoại tệ
dựa trên sự kỳ vọng về việc cố định tỷ giá hối đoái của chính phủ.
Trong suốt cuộc khủng hoảng, sự linh hoạt của tỷ giá hối đoái gia tăng. Năm
1998, giá trị trung bình của
R
2
giảm xuống còn 0.61. Tuy nhiên, lập tức ngay sau
đó, cơ chế cố định tỷ giá hối đoái đã được thiết lập lại. Thực tế này đã được làm
sáng tỏ bởi Calvo and Reinhart (2002), người đã nhấn mạnh rằng sau khủng
hoảng, có sự thay đổi nhỏ trong cơ chế tỷ giá hối đoái ở Châu Á. Viễn cảnh này
đã được phóng đại hơn bởi lý thuyết “Bretton Woods II”, nó cố gắng hợp lý hoá
sự cứng nhắc của tỷ giá hối đoái (Dooley, Folkerts-Landau và Garber (2003)).
Bằng chứng chúng tôi đưa ra một tình hình khác biệt một chút ở 2 khía cạnh.
Đầu tiên, mặc dù sự cứng nhắc của tỷ giá hối đoái ở 11 nền kinh tế Châu Á gia
tăng sau khi cuộc khủng hoảng lắng xuống, nhưng nó vẫn ở mức thấp so với giai
đoạn trước khủng hoảng. Giá trị trung bình
R
2
ở mức 0.93 năm 1997; hậu khủng
hoảng, R2 giảm xuống còn 0.88 trong giai đoạn 2002-2004.
24
Sự quan sát thú vị thứ hai đó là từ năm 2002, sự linh hoạt của tỷ giá hối đoái ở
11 nền kinh tế Châu Á đã tăng lên từ từ. Nghĩa là giá trị