Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I/ YÊU CẦU CỦA BỘ BÀI TẬP :
Để đạt được yêu cầu của môn học, bộ bài tập phải đảm
bảo các yêu cầu sau :
Theo sát chương trình môn học, theo đúng hệ thống chương
mục.
Lựa chọn được các bài tập phù hợp.
Đảm bảo được tính vừa sức.
Đảm bảo tính thực tiễn, tính thời đại của nội dung chương
trình môn học.
Các bài học phải mang tính tích cực, tính sư phạm.
Các câu hỏi của bài tập phải rõ ràng, dễ hiểu.
II/ CHỨC NĂNG CỦA BÀI TẬP :
Bài tập phải chứa đựng những kiến thức ứng dụng được
vào trong thực tế và củng cố được phần lý thuyết đã học.
Thông qua các bài tập giúp người học có tinh thần tự giác
cao, tự rèn luyện hình thành kỷ năng, kỷ xảo và đánh giá được
mức độ tiếp thu bài người học.
Các bài tập phải góp phần phát triển năng lực tư duy trừu
tượng, khả năng lý luận và quan sát tổng hợp. Đáp ứng được nhu
cầu thực tiễn của xã hội.
Bài tập phải kích thích được sự hứng thú của ngøi học.
III/ CÁC NGUYÊN TẮC VẬN DỤNG VÀO ĐỀ TÀI :
1/ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong dạy học :
Lý luận là hình thức cơ bản để phản ảnh tư tưởng của
hiện thực khách quan vào ý thức con người. Nó tồn tại dưới
dạng trình bày có thứ tự về hệ thống những kiến thức tổng quát
về một lónh vực của hiện thực khách quan hoặc hiện tượng của
cuộc sống tinh thần. Như vậy lý luận được xem như phương
dụng một cách linh động, sáng tạo, nhằm tạo điều kiện cho
người học vận dụng được tri thức vào thực tiễn hay nói cách
khác là sau khi ra trường họ có thể đem những kiến thức đã học
được áp dụng vào lao động sản xuất, được xã hội chấp nhận.
Muốn làm được điều đó cần phải kết hợp học với hành 1 cách
có chất lượng và hiệu quả.
2/ Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vững chắc của tri
thức, tính mềm dẻo của tư duy :
Đòi hỏi trong quá trình dạy học phải giúp người học nắm
vững nội dung dạy học với sự căng thẳng tối ưu về mặt trí tuệ
như trí tử tưởng, tái tạo, sáng tạo, tư duy logic và đồng thời hình
thành phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động tức là
tạo nên sự mềm dẻo của tư duy.
Kiến thức chỉ vững chắc lâu dài khi chúng được hình thành
qua các giai đoạn và phát triển một cách biện chứng. Việc nắm
chắc kiến thức được thể hiện rõ nét nhất, quan trọng nhất ở chỗ
nó được vận dụng thành thạo trong các trường hợp khác nhau để
giải quyết các vấn đề về lý thuyết và thực tiễn do cuộc sống đặt
ra.
Để đảm bảo nguyên tắc này : Phải sắp xếp theo logic giữa
khoa học đặc trưng cho môn học và logic sư phạm. Cần tác động
để người học phát triển năng lực nhận thức trí thông minh, óc
sáng tạo. Tạo điều kiện để người học ôn tập thường xuyên như
làm bài tập ở nhà, làm bài tập ở lớp. Điều đó cho thấy việc làm
bài tập của người học là một trong những yếu tố đảm bảo cho
nguyên tắc : Đảm bảo tính vững chắc kiến thức đã học.
Các bài tập phải có những câu gợi ý để người học tham
khảo trước chuẩn bò bài trước, cũng như dễ dàng ôn bài sau mỗi
bài giảng.
3/ Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức chung và riêng trong dạy
chủ đạo, tổ chức và điều khiển quá trình dạy học. Sự kết hợp
giữa thầy và trò trong quá trình dạy học sẽ giúp cho trò phát
huy được tính tích cực, tính tự lực của người học.
IV/ CÁC NGUYÊN LÝ DẠY HỌC :
1/ Học đi đôi với hành :
Có nghóa là người học phải học lý thuyết sau đó vận dụng
lý thuyết đó vào thực tế. Muốn vận dụng nó vào trong thực tế
thì phải thông qua các bài tập liên quan. Thông qua các bài tập
thì người học nắm rõ và củng cố được phần lý thuyết đã học.
2/ Giáo dục gắn liền với lao động sản xuất :
Nhằm giúp người học tiếp cận vào thực tế, phát huy tính
toàn diện của việc học vào thực tiễn sau khi ra trường. Muốn
làm được như vậy thì ta phải có các bài tập mà các thông số
cũng như các câu hỏi đều có trong thực tế để giúp cho người
học có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
V/ LÀM BÀI TẬP CỦNG CỐ CHO PHẦN LÝ THUYẾT
:
(Kiến thức).
Học lý thuyết là 1 trong những phần cơ bản mà người học
nào cũng phải trải qua. Để nắm vững phần lý thuyết đã học thì
phải ôn luyện, học đi học lại trong đó có phần bài tập ở nhà, ở
lớp. Vậy thì việc làm bài tập củng cố kiến thức là không thể
phủ đònh. Điều này nói lên tác dụng đặc biệt của việc làm bài
tập trong quá trình dạy học.
+ Theo giáo dục học :
Học tập là quá trình nhận thức của học sinh mà chủ thể
tác động là giáo viên, khách thể là học sinh. Lấy học sinh làm
đối tượng trung tâm. Học sinh là đối tượng để người thầy dùng
nhưng phương pháp sư phạm của mình để gọt dủa tạo nên sản
phẩm có ích cho xã hội.
Là một khái niệm nhằm xác đònh mức độ trình độ của học
sinh mà cụ thể là điểm số.
3/ Mối liên hệ giữa kiểm tra và đánh giá :
Có nghóa là kiểm tra là phương tiện của đánh giá còn
đánh giá là mục đích của kiểm tra. Mục đích của đánh giá
quyết đònh nội dung và hình thức của kiểm tra.
Mục đích cơ bản của việc kiểm tra đánh giá là xác đònh
chất lượng và số lượng của sự giáo dục và học tập nhằm
khuyến khích trò học tốt, thầy dạy tốt. Học sinh nâng cao tinh
thần trách nhiệm của mình đối với việc học tập.
Đối với học sinh : Thông tin kiểm tra sẽ giúp cho học sinh
đào sâu kiến thức hệ thống hóa các kiến thức cũ. Khái quát
hóa những tri thức đã được tiếp thu và giúp học sinh phát
triển tư duy, trí nhớ.
Giúp học sinh lấy được lổ hổng trong tri thức của mình và
kòp thời điều chỉnh bổ sung. Phát huy tính độc lập và tham gia
tích cực vào việc học tập, rèn luyện khả năng giải quyết vấn đề
trong học tập.
Đối với giáo viên : Thông qua kiểm tra đánh giá nắm được
kết quả của việc giảng dạy của mình để điều chỉnh, cải tiến
nhằm hoàn thiện kết quả học tập cho học sinh. Nắm được
trình độ nhận thức của học sinh để nâng cao chất lượng giảng
dạy đồng thời có kế hoạch bồi dưỡng và phụ đạo tùy đối
tượng khá hay kém.
Việc kiểm tra đánh giá giúp nhà trường theo dõi được tình
hình học tập của học sinh qua đó đánh giá được công việc
giảng dạy của giáo viên. Việc đưa bài tập vào bài kiểm tra đối
với các môn học lý thuyết chuyên môn là hết sức cần thiết.
Thật vậy trong khoảng thời gian 15 - 30' cho 1 bài tập đòi
hỏi người học phải có sự chuẩn bò kỷ càng về kiến thức đã học.
hết sức cần thiết. Thông qua đó giúp người học rèn luyện khả
năng học tập độc lập của mình. Đó là một cách học đã và đang
được nhiều trường và xã hội khuyến khích.
Tuy nhiên, khi soạn bài tập phải chú ý đến tính vừa sức
của người học, bài tập phải gần gủi với thực tế nếu không sẽ
làm phản tác dụng giáo dục.