Bài tập lớn môn tâm lý học giáo dục - Pdf 16

Chương 1: Lý luận chung về đạo đức và sự hình thành đạo đức
trong nhân cách cá nhân . 1
1.1. Một số khái niệm 1
1.1.1 Đạo đức 1
1.1.1.1 Các khái niệm về đạo đức 1
Trong đời sống xã hội, đòi hỏi tất yếu mỗi người phải ý thức được ý
nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Những hoạt động đó bao giờ cũng có sự chi phối của những quan hệ giữa
các cá nhân, cá nhân và xã hội. Những mối quan hệ đó qui định giới hạn
nhất định nhằm đảm bảo lợi ích của cộng đồng và xã hội. Những qui định
này tự giác tạo thành động lực cho phát triển xã hội. Đó là các qui tắc, chuẩn
mực hoàn toàn tự giác trong hành động của mỗi cá nhân trong tất cả các
quan hệ xã hội. Nói cách khác, đó chính là đạo đức của con người trong xã
hội.
Đạo đức có thể định nghĩa theo các khía cạnh sau:
- Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các qui tắc, nguyên
tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình
sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội
trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội.
-Đạo đức là toàn bộ những qui tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh
giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với
tự nhiên.
-Đạo đức là hệ thống các qui tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong
quan hệ con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự
nhiên và với cả bản thân mình.
1.1.1.2 Cấu trúc của đạo đức 1
Các thành tố của đạo đức là: ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo
đức.
- Ý thức đạo đức: Như ở trên chúng ta đã xem xét, con người không thể sống
bên ngoài các mối quan hệ xã hội. Cốt lõi của những mối quan hệ đó là
tương quan của những quyền lợi cá nhân và những quyền lợi cộng đồng. Để

đức của dân tộc này khác với dân tộc khác, của thế kỷ này khác với thế kỷ
khác. Văn hoá thểề hiện hình thức của đạo đức, là phương thức để con người
và các dân tộc thể hiện bản thân mình.
Chính vì thế, đạo đức của dân tộc nào, cộng đồng nào, thời đại nào
cũng có cái vỏ văn hoá trong mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình
thức.Đạo đức thì không thể mất đi. Đạo đức còn tồn tại chừng nào con người
còn tồn tại. Đạo đức thuộc về con người, là bản chất của con người, cũng
như cái thiện có nội đung phổ biến trong đời sống con người, mặc dù mỗi
dân tộc thể hiện đạo đức của mình dưới những hình thức văn hoá khác nhau.
2
1.1.1.3 Một số phạm trù cơ bản của đạo đức3
Khi nghiên cứu đạo đức chúng ta cần quan tâm đến một số phạm trù cơ bản
của đạo đức.
a. Nghĩa vụ3
Nghĩa vụ của đạo đức thể hiện ở chỗ khi con người tham gia vào hoạt
động sản xuất và hoạt động sống, anh ta ý thức được trách nhiệm của bản
thân đối với người khác và đối với cộng đồng. Ngay từ thế kỷ XVII – XVIII
các nhà duy vật Pháp đã chỉ rõ “Nghĩa vụ đạo đức là cái tất yếu đối với tất
cả mọi người thực hiện trách nhiệm của mình”. Nghĩa vụ đạo đức đã xuất
hiện rất sớm và nó tồn tại với thời gian, tồn tại qua các giai đoạn phát triển
của lịch sử loài người. Điều đó cho thấy, ở bất kỳ chế độ xã hội nào, ở thời
kỳ phát triển xã hội nào thì nghĩa vụ cũng rất cần thiết.
Nghĩa vụ thể hiện như là ý thức, tình cảm con người về mối quan hệ hài hoà
giữa nhu cầu và lợi ích cá nhân với nhu cầu và lợi ích của cộng đồng, xã hội.
Điều đáng chú ý là việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức bao giờ cũng mang tính
tự giác và do chính bản thân đã nhận thức rõ vấn đề. Do vậy, khi thực hiện
nghĩa vụ đạo đức con người luôn có cảm giác hạnh phúc, hài lòng vì tình
cảm cao thượng, vì lòng tự trọng và phẩm giá của con người.
Nghĩa vụ đạo đức là ý thức và tình cảm của con người tự nguyện, tự giác
thực hiện các hành động của mình theo các chuẩn mực chung của xã hội.

lương tâm trong sạch là một tiêu chí hạnh phục và tiêu chí sống của con
người.
c. Thiện và Ác4
Thiện và Ác là cặp phạm trù đối lập nhau trong mọi thời đại, là thước đo đời
sống đạo đức của mọi cá nhân. Thiện và Ác cũng là phạm trù cơ bản làm
thước đo đời sống đạo đức của con người.
Cái Thiện là cái tốt đẹp biểu hiện lòng nhân ái của con người trong cuộc
sống hàng ngày. Đó chính là hành vi thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp
với yêu cầu và sự tiến bộ xã hội. Cái thiện phải được thể hiện qua việc góp
phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, đem lại lợi ích cho mọi người trong xã hội.
Hồ Chí Minh đã nói: “Việc thiện thì dù nhỏ đến mấy cũng làm, việc ác thì
dù nhỏ đến mấy cũng tránh” (Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục, NXB Giáo
dục, Hà Nội, 1990, tr. 55). Là cái thiện là phấn đấu cho cuộc sống của con
người ngày càng trở nên cao thượng hơn, tốt đẹp hơn và giàu tính nhân văn
hơn.
Cái Ác là cái đáng ghét, ghê tởm, cái cần phải gạt bỏ trong đời sống cá nhân
và xã hội. Cái ác làm mất đi cái văn minh, cao thượng của cuộc sống con
người. Quan điểm về thiện và ác mang tính lịch sử và có thể hoán đổi cho
nhau. Cái thiện và ác được chúng ta đánh giá tuỳ vào nó có thúc đẩy hay cản
trở sự phát triển của xã hội, hạnh phúc của con người.
4
1.1.1.4 Chức năng của đạo đức .5
*Chức năng điều chỉnh hành vi.
- Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi. Sự điều chỉnh hành vi làm
cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân
và cộng đồng.
Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong đó có
chính trị, pháp quyền và đạo đức…
- Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia
bằng các biện pháp đặc trưng như ngoại giao, kinh tế, hành chính, bạo lực…

phán mạnh mẽ cái ác.
- Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn
mực đạo đức xã hội.
*Chức năng giáo dục.
Con người vươn lên “chân - thiện - mỹ”. Con người là sản phẩm của lịch sử,
đồng thời là chủ thể của lịch sử. Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì
hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy.
Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội. Hệ thống ấy tác
động đến con người và con người tác động lại hệ thống. Hệ thống đạo đức
do con người tạo ra, nhưng sau khi ra đời hệ thống đạo đức tồn tại như là cái
khách quan hoá tác động, chi phối con người.
Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống đạo đức mà các cá
nhân chịu sự tác động. Ở đây, môi trường đạo đức: tác động đến đạo đức cá
nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nhận thức đạo đức để
chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân. Thực tiễn đạo đức
là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức. Các hành vi đạo
đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả đạo đức cá nhân và
xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo
đức.
Hiệu quả giáo dục đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, cách
thức tổ chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục
trong quá trình giáo dục.
- Giáo dục đạo đức gắn với tiến bộ đạo đức:
Nhân đạo hóa các quan hệ xã hội và mức độ phổ biến nhân đạo hóa các quan
hệ xã hội; sự hoàn thiện của cấu trúc đạo đức và mức độ phổ biến của nó…
sẽ giúp chủ thể lựa chọn, đánh giá đúng các hiện tượng xã hội, đánh giá
đúng tư cách của người khác hay của cộng đồng cũng như tự đánh giá đúng
thông qua mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, hình thức và
các bước đi của quá trình giáo dục sẽ giúp mỗi cá nhân và cả cộng đồng tạo
ra các hành vi và thực tiễn đạo đức đúng.

làm đối tượng nhận thức. Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối
chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực giá
trị chung của cộng đồng. Từ cách nhận thức này mà chủ thể hình thành phát
triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống: sáng tạo hay chủ động, hy
sinh hay hưởng thụ, vị tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác…
Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là to lớn. Dư
luận xã hội là sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đối với chủ thể, còn
lương tâm là sự phê bình. Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị đạo đức
của mình – giá trị mà xã hội mong muốn.
Từ nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng để
ho thành trách nhiệm đó. Trong cuộc sống có vô số những trách nhiệm như
vậy. Nó luôn đặt ra trong quan hệ phong phú giữa chủ thể đạo đức với xã
7
hội, gia đình, bạn bè, đồng chí, đồng đội, tập thể, dân tộc, gia cấp, tổ quốc.
Nhận thức đạo đức (đạo đức phản ánh hiện thực) ở hai trình độ : trình độ
thông thường và trình độ lý luận.
Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là ý thức thông thường, những
giá trị riêng lẻ. Nó đáp ứng nhu cầu đạo đức thông thường đủ để chủ thể xử
lý kịp thời trong cuộc sống và sự phát triển bình thường của xã hội. Mọi cá
nhân đều có thể và cần phải ảnh ánh đạo đức ở trình độ này.
Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là những nhận thức có tính nguyên tắc
được chỉ đạo bởi những giá trị đạo đức có tính tổng quát. Trình độ này đáng
ứng những đòi hỏi của sự phát triển đạo đức và tiến bộ xã hội. Đây là yếu tố
không thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của các gia cấp cầm
quyền.
Nhận thức đạo đức đưa lại tri thức đạo đức, ý thức đạo đức. Các cá nhân,
nhờ tri thức đạo đức, ý thức đạo đức xã hội đã nhận thức (trở thành đạo đức
cá nhân). Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng giá trị đạo đức xã
hội trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện đạo đức (hiện
thực hóa đạo đức).

các đảng Macxit và chính quyền nhà nước vô sản hoạch định chiến lược,
sách lược, chính sách kinh tế, chính sách văn hóa – tư tưởng. Ở đây đạo đức
và chính trị đều có chung mục đích là khẳng định lợi ích của giai cấp công
nhân. Kết quả là đạo đức cộng sản theo một ý nghĩa nhất định, nó vừa mang
tính chất chính trị vừa mang tính pháp quyền.
Thứ hai, đạo đức cộng sản đã nhân đạo hóa một cách phổ biến mọi
quan hệ xã hội nhờ tính phổ biến của các giá trị nhân đạo của mình. Dù
trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, hay trong thời kỳ xây dựng xã
hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa, hành vi của giai cấp vô sản đều nhằm
mục đích cao cả là giải phóng mình và giải phóng các loại người. Bời vì,
giai cấp vô sản, muốn giải phóng mình giải phóng cả nhân loại; muốn một
người được tự do thì mọi người phải được tự do. Ở đây nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa là sự thống nhất về chính trị, tinh thần và đạo đức trong các giai
cấp và tầng lớp xã hội là cơ sở quy định tính phổ biến của các giá trị nhân
đạo trong xã hội. Mặt khác, nội dung nhân đạo của đạo đức cộng sản còn là
tư tưởng về con đường và phương thức của sự khẳng định sự tồn tại, hạnh
phúc và phát triển tự do của con người.
Đạo đức cộng sản xâm nhập vào các tầng lớp xã hội, các lĩnh vực hoạt
động xã hội tạo nên hai kết quả:
+ Thứ nhất là sự hoàn thiện cấu trúc đạo đức trong nhân cách của cá nhân,
các tập thể lao động công tác và chiến đấu.
+ Thứ hai là sự điều chỉnh, điều tiết đạo đức có tính thống nhất trên phạm vi
toàn xã hội. Sự phản ánh điều chỉnh đạo đức mạng tính tự giác, tự nguyện và
tự do.
Ở đây Đảng và Nhà nước của giai cấp vô sản là chủ thể giáo dục động viên
lãnh đạo toàn thể nhân dân lao động và các tầng lớp tiến bộ khác tham gia
vào phong trào cách mạng. Đạo đức mới bao giờ cũng mang tính tự giác có
tổ chức, có kế hoạch và có tính pháp lệnh. Điều đó bảo đảm cho các giá trị
9
đạo đức mới tồn tại phổ biến trong đời sống xã hội đang gặp khó khăn và

6. Nhân cách có sự thay đổi cơ chế hoạt động hữu hiệu: Chịu sự căng thẳng
và giảm căng thẳng tuỳ theo cơ chế trao đổi năng lượng. Các căng thẳng có
thể được giải thích khác nhau: động cơ, thúc đẩy xung năng, chí hướng.
7. Nhân cách gồm các yếu tố có nguồn gốc và bản chất khác nhau: tâm sinh
10
lý, bản năng, cảm xúc, nhận thức, mà vai trò được đánh giá khác nhau tuỳ
theo từng học thuyết.
8. Nhân cách gồm một phần ý thức và một phần vô thức. Điều này không
thuyết nào phủ nhận nhưng đánh giá tầm quan trọng của từng phần rất khác
nhau.
9. Với bản thân đối tượng: hình ảnh của chính bản thân mình về những cảm
xúc đã nhận cảm được trong đời sống và trong tư tưởng của đối tượng.
Đối với bên ngoài (người khác) đó là những biểu hiện thể chất, những ứng
xử, những sản phẩm mà chủ quan đối tượng tạo ra.
1.1.2.1.2.Các thành phần cấu tạo:11
Theo Rubinstrin có 4 nhóm lớn:
- Xu hướng
- Khí chất
- Tính cách
- Năng lực
Mỗi nhóm lại chia ra thành các đặc điểm nhỏ:
1.1.2.1.3. Tương quan giữa các thành phần:113 thành phần:
1.1.2.1.3.1. Quá trình tâm lý11: là một hoạt động tâm lý cơ động phản ánh
hiện thực trước mặt. Xuất hiện và mất đi trong một thời gian tương đối ngắn
và nếu kéo dài thì sẽ chuyển sang một qúa trình kế tiếp khác.
Muốn có một hình ảnh tâm lý nào, dù là một cảm giác, một ý nghĩ, một tình
cảm trước hết phải có qúa trình tâm lý.
Qúa trình tâm lý là một hoạt động tâm lý có khởi đầu, diễn biến và kết thúc
nhằm biến những tác động bên ngoài thành hình ảnh tâm lý.
VD: muốn có hình ảnh về một quả cam, phải có những qúa trình cảm giác

Là những nét tâm lý đặc biệt bền vững hình thành từ các qúa trình tâm lý và
trạng thái tâm lý, có cả yếu tố bẩm sinh hậu phát kết hợp liên quan chặt chẽ.
Những qúa trình và trạng thái tâm lý thường xuyên lặp lại trong những điều
kiện sống và hoạt động nhất định của con người thì trở thành đặc điểm tâm
lý bền vững của nhân cách, gọi là thuộc tính tâm lý cá nhân.
Các thuộc tính tâm lý cá nhân không trực tiếp phản ảnh các tác động bên
ngoài như kiểu các qúa trình và trạng thái tâm lý, mà là kết quả của sự thống
nhất và khái quát các qúa trình và trạng thái tâm lý. Xuất hiện trên cơ sở các
qúa trình và trạng thái tâm lý, các thuộc tính tâm lý cá nhân (đặc điểm tâm
lý) đến lượt nó lại có ảnh hưởng sâu sắc đối với các qúa trình và trạng thái
tâm lý.
Khi đã hình thành nhân cách thì mỗi qúa trình tâm lý, mỗi trạng thái tâm lý
đều có những nét đặc thù khiến cho một người này khác biệt với những
người khác. Đặc điểm tâm lý tuy cũng biến đổi nhưng bền vững hơn qúa
trình và trạng thái tâm lý.
Khi hoàn cảnh sống, điều kiện xã hội, môi trường rèn luyện của con người
biến đổi, cả khi thể chất biến đổi (từ trẻ thơ đến lúc tuổi già) thì thuộc tính
12
tâm lý cũng biến đổi theo.
Sự phân biệt các qúa trình, trạng thái, đặc điểm chỉ là một sự tách biệt để
phân tích khoa học. Trong thực tế thì qúa trình, trạng thái và đặc điểm luôn
luôn quyện vào nhau, chi phối lẫn nhau, thể hiện đời sống tâm lý toàn vẹn
của một con người.
a) Sự tương quan giữa các thành phần:
- Quá trình tâm lý rất biến động
- Trạng thái tâm lý ít biến động hơn và kéo dài hơn
- Đặc điểm tâm lý thì bền vững
b) Tác động qua lại:
- Trạng thái tâm lý làm nền cho qúa trình tâm lý
- Đặc điểm tâm lý là do qúa trình lặp di lặp lại của qúa trình tâm lý

những người thân và qua sự giao tiếp với những người xung quanh v.v
Mỗi cá nhân tiếp thu và phê phán các sự kiện xảy ra trong gia đình và ngoài
xã hội. Tất cả những điều kiện đó đều ghi lại ấn tượng sâu sắc trong mỗi cá
nhân và dần dần hình thành ở họ những biển tượng, những mẫu người lý
tưởng, cũng như những quy chuẩn đạo đức, những quan điểm và lẽ sống của
cá nhân đối với mọi người và đối với bản thân.
Trong sự tác động của xã hội đối với việc hình thành thế giới quan và lý
tưởng cá nhân, nhà trường có vai trò rất quan trọng. Bởi vì nhà trường cung
cấp một hệ thống kiến thức về qui luật của tự nhiên và của xã hội, tạo điều
kiện cơ bản cho mỗi cá nhân hình thành nên những quan điểm và xác định lý
tưởng của mình.
Ảnh hưởng của xã hội, tác động của giáo dục có vai trò rất quan trọng,
nhưng yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển thế giới quan của cá
nhân là sự hoạt động rèn luyện của mỗi cá nhân. Bởi vì việc hình thành thế
giới quan và lý tưởng cá nhân không phải chỉ là sự tiếp thu kiến thức ở nhà
trường, tiếp thu kinh nghiệm của người khác mà điều cơ bản là phải biến
được những kiến thức đó thành quan điểm, thành niềm tin của cá nhân. Đây
là một qúa trình rèn luyện, thể nghiệm bản thân lâu dài, phức tạp.
1.1.2.2.1.3. Nhu cầu và động cơ hoạt động:14
- Nhu cầu là sự cần thiết, sự đòi hỏi mà con người thấy cần phải có, và cần
được thoả mãn để tiếp tục phát triển sự sống.
Con người cũng có nhu cầu tự nhiên như động vật (bản năng sinh dục, tự vệ,
ăn uống) đưa 14 nhu cầu của con người, nhưng khác nhau ở nội dung và
phương thức thoả mãn, ở người còn có nhu cầu cao cấp: như nghệ thuật
- Động cơ hoạt động: nhu cầu được phản ảnh trong chủ quan bằng nguyện
vọng, xu thế, còn một nhân tố nữa để thúc đẩy hoạt động đó là động cơ:
• Động cơ đơn giản: là những động cơ được thực hiện trong thời gian
ngắn.
14
• Động cơ phức tạp: là động cơ có nhiều mục đích, nhiều hành vi và

1.1.2.2.2.1. Định nghĩa: 15
Khí chất là một thuộc tính tâm lý cá nhân rất phức tạp, nó là hình thức
biểu hiện của mọi hoạt động tâm lý của con người. Nếu hiện tượng tâm lý ở
mỗi người đều phải thông qua đặc điểm riêng của người đó thì khí chất bộc
15
lộ rõ nét nhất những sắc thái của cá nhân, khiến cho sự khác biệt giữa người
này với người kia càng nổi bật luôn.
Khí chất là một thuộc tính tâm lý gắn liền với kiểu hoạt động thần kinh
tương đối bền vững của cá nhân. Khí chất là động lực của toàn bộ hành vi cá
nhân, là đặc trưng chung nhất về cường độ, tốc độ, nhịp độ hoạt động tâm lý
của con người.
1.1.2.2.2.2. Phân loại:16
Theo Hypocrat ở người có 4 loại khí chất mà sau này người ta chuyển ra 4
loại tương đương:
- Loại máu nóng : Loại hăng hái (hoạt)
- Loại chất nhờn : Loại bình thản (trầm)
- Loại mật vàng : Loại nóng nảy
- Loại mật đen : Loại ưu tư (yếu)
Theo quan điểm của Paplov. Khí chất là đặc trưng chung nhất của hành vi
con người, đặc trưng này biểu hiện những thuộc tính của hoạt động thần
kinh. Cho nên cơ sở sinh lý của khí chất chính là kiểu hoạt động thần kinh
cao cấp của con người.
Bằng phương pháp phản xạ có điều kiện Paplov đã khám phá những quy luật
của hoạt động thần kinh cao cấp và những thuộc tính cơ bản của qúa trình
thần kinh. Những thuộc tính cơ bản đó là:
a) Cường độ của qúa trình thần kinh cơ bản là hưng phấn và ức chế. Cường
độ của qúa trình thần kinh là chỉ số năng lực làm việc của các tế bào thần
kinh và của hệ thần kinh nói chung. Hệ thần kinh mạnh chịu đựng được rất
nhiều tác động trong một thời gian dài, còn hệ thần kinh yếu trong những
điều kiện đó sẽ bị "nứt vỡ".

tâm lý.
+ Ức chế mạnh: tính kiên trì, tự kiềm chế (cảm xúc hứng thú).
- Thăng bằng: làm việc có kế hoạch, có năng suất, cảm xúc ổn định, tác
phong bình tĩnh, khoan thai.
- Mất thăng bằng: làm việc năng suất thất thường, cảm xúc lúc lên lúc
xuống, tác phong dễ mất bình tĩnh, tự ái.
- Tính linh hoạt: dễ thích ứng với môi trường
- Không linh hoạt: khó chuyển từ trạng thái tâm lý này sang trạng thái tâm lý
khác.
Các loại hình thần kinh:
* Loại hăng hái: mạnh, thăng bằng, linh hoạt: Loại này được thể hiện quá
17
trình hưng phấn cân bằng với quá trình ức chế nhanh nhẹn tương ứng với
loại khí chất linh hoạt.
+ Cảm xúc biểu lộ rõ rệt, nhạy cảm, lạc quan, dễ vui, dễ buồn, dễ quên
+ Tính cách tác phong: dễ tiếp xúc, dễ hời hợt, dễ cắt đứt mối liên hệ

+ Hành vi: các nhiệm vụ trung bình có thể hoàn thành tốt
Nếu loại này kết hợp với hứng thú đầy đủ đúng hướng sẽ hoàn thành tốt các
nhiệm vụ trong sinh hoạt. Nếu không thì dễ trở nên phóng túng hao phí năng
lượng.
-Tương ứng với kiểu thần kinh mạnh, cân bằng, nhanh (kiểu đa huyết
- sanguin) Những người có loại khí chất này thường có tính linh hoạt cao,
thích ứng nhanh chóng dễ dàng với mọi biến đổi của ngoại cảnh; hoạt động
hăng hái, xông xáo tiếp thu nhanh và đạt hiệu quả cao.
Những người thuộc khí chất này là người lạc quan yêu đời, vui tình, cởi mở,
quan hệ rộng rãi với mọi người. Song họ có nhược điểm là hấp tấp, vội
vàng, thiếu kiên trì, tình cảm thiếu sâu sắc thiếu bền vững, hay thay đổi .
Những người thuộc loại khí chất này thường thích hợp với những công việc
đòi hỏi trương lực, cường độ hoạt động mạnh, phải xử trí linh hoạt. Song

Nếu kết hợp hứng thú trí tuệ đúng hướng thì quyết định nhanh chóng làm
được việc lớn. Nếu kết hợp với hứng thú không đầy đủ, không có nghĩa thì
bộp chộp, cáu kỉnh, liều lĩnh.
* Loại ưu tư: Biểu hiện quá trình ức chế mạnh hơn hưng phấn tương ứng với
khí chất ưu tư.
+ Cảm xúc: buồn, trầm, đơn điệu, dai dẳng, ít cởi mở, hay dao động
+ Chậm chạp, thiếu cương quyết, kém năng suất.
Tương ứng với kiểu thần kinh yếu,(kiểu Mật đen- Melancolique).
Người thuộc loại này thường biểu hiện ủy mị, yếu đuối, hoạt động tâm
lý bị kiềm chế, phản ứng chậm chạp. Tình cảm thường buồn rầu lo
lắng, hiến hòa, kín đáo, mềm mỏng, sâu sắc, hay lo xa.
Nhìn chung đây là loại yếu, tiêu cực. Nhưng nếu biết hợp với tính kiên trì
lao động thì sẽ có năng suất tốt do suy nghĩ sâu sắc, lường trước được khó
khăn hậu quả.
* Loại nghệ sĩ:
+ Thiên về hoạt động bản năng, cảm xúc, nhạy cảm, dễ bị cảm xúc ám
thị
+ Tư duy hời hợt, yếu về tư duy trừu tượng, thiên về tư duy cụ thể
hình tượng
Loại lý trí: Hệ II chiếm ưu thế: nặng nề hoạt động lý trí, hay suy nghĩ miên
man xa vời thực tế, trừu tượng.
Cảm xúc ít biểu lộ thường đi vào chiều sâu.
19
1.1.2.2.2.3Bản chất xã hội của khí chất 20
Khí chất của cá nhân không phải chỉ do các thuộc tính bẩm sinh của
hệ thống thần kinh quyết định mà thường xuyên bị tác động bởi môi trường
sống. Những dấu vết của xã hội đặc biệt là các chuẩn mực vế các kiểu hành
vi, cử chỉ, cách ăn nói của cá nhân những biến cố xảy ra trong đời sống cá
nhân, tập thể, cộng đồng đều được ghi vào khí chất cá nhân một cách rõ
ràng, sâu sắc. Vì vậy khí chất cá nhân thể hiện rõ đặc điểm của xã hội, của

độ của con người với thực tại qua tác phong và hành vi. Trong tính cách có
một hệ thống thống nhất các thái độ với thực tại và phương thức quen thuộc
đã biểu hiện các thái độ ấy.)
Tính cách khác với khí chất. Khí chất là thuộc tính tâm lý bẩm sinh còn tính
cách là hình thành từ kinh nghiệm sống vừa có giáo dục
Trong cấu trúc hoàn chỉnh của tính cách, nét điển hình của thái độ, hành vi
đạo đức giữ vai trò chủ đạo, nét điển hình của hệ thống tình cảm đóng vai
trò quan trọng và những đặc trưng về ý chí, hành động ý chí của cá nhân
đóng vai trò nòng cốt.
1.1.2.2.3.1.Mối liên hệ tính cách với các thành phần khác:21
tính cách không tách rời 4 thành phần
- Tính cách quyết định sự hình thành năng lực
- Khí chất tô cho tính cách một đặc điểm riêng biệt, tính cách còn có
tính xã hội được hình thành trong qúa trình sống.
- Tính cách là sự thống nhất giữa các cá biệt
- Tính cách bao gồm nhiều nét và có liên quan mật thiết với nhau, mỗi
nét chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi nó kết hợp với nét khác.
VD: ở người lớn: tính kiên trì + tự phê bình tính cách tốt.
ở trẻ em: tính kiên trì + chưa biết tự phê tính cách xấu (đòi hỏi)
1.1.2.2.3.2.Phân loại:22
Những nét tính cách biểu hiện thái độ đối với xã hội, tập thể.
+ Tính tập thể đối lập với tính vị kỷ
+ Tính nhân đạo đối lập với tính tàn bạo
+ Tính cởi mở đối lập với tính trầm lặng
+ Lòng yêu nước đối lập với vô trách nhiệm (tính trách nhiệm)
Biểu hiện thái độ đối với lao động
+ Tính siêng năng đối lập với tính lười biếng
+ Tính cẩn thận đối lập với tính cẩu thả
+ Tính sáng tạo đối lập với tính bảo thủ
+ Tính tiết kiệm đối lập với tính lãng phí, bẩn thỉu

vê quan hệ chính trị, kinh tế xã hội )
* Thái độ đối với lao động: Là thái độ của con người đối với các quan hệ
trong lao động (các loại lao động, phương tiện, công cụ của lao động).
* Thái độ đối với mọi người.
22
* Thái độ đối với bản thân.
+ Hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân: Là sự thể hiện bên
ngoài của thái độ cũng như toàn bộ tính cách cá nhân. Hệ thống này biểu
hiện muôn màu muôn vẻ nhưng gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng tương ứng
với hệ thống thái độ của cá nhân.
Có thể nói rằng: hệ thống thái độ là nội dung, hệ thống hành vi, cử chỉ, cách
nói năng là hình thức biểu hiện của tính cách cá nhân. Hai mặt này thống
nhất, không tách rời nhau và quan hệ biện chứng với nhau.
Hệ thống các thuộc tính tâm lý trong cấu trúc tính cách :
+ Các thuộc tính xu hướng: Thuộc tính quyết định phương hướng, động cơ
của hệ thống thái độ và hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân.
Trong đó nhu cầu và hứng thú quyết định sự chọn lọc của hệ thống và liên
quan tới nhân sinh quan, niềm tin lý tưởng, đạo đức của tính cách .
+ Tình cảm: Thể hiện mặt xúc cảm của cá nhân trong tính cách và góp phần
thể hiện cường độ của hệ thống
+ Ý chí: Là thuộc tính trụ cột của tính cách tốt ,đã được hình thành và thể
hiện sức bền, độ sâu sắc và cường độ cao của tính cách
+ Khí chất: là mặt động thái thể hiện tính độc đáo của tính cách. Giữa tính
cách và khí chất có mối quan hệ biện chứng với nhau.
+ Kỹ xảo và thói quen: Là những hành vi, cử chỉ,cách nói năng được lập đi
lập lại trở thành hành động tự động hóa - thành những kỹ xảo, thói quen
trong tính cách của cá nhân.
1.1.2.2.3.4 Bản chất xã hội của tính cách23
Con người là một thực tế của xã hội, gắn bó với điều kiện xã hội lịch sử nhất
định vì vậy tính cách con người là sản phẩm của xã hội lịch sử. Tồn tại xã

Con đường từ năng khiếu tới tài năng rất quanh co, phức tạp, lâu dài thậm
chí có trường hợp năng khiếu bị mai một. Bồi dưỡng nhân tài bắt đầu từ phát
hiện và phát triển năng khiếu.
Một người có nhiều loại năng lực khác nhau.
Sự hoàn thành một nhiệm vụ phức tạp đòi hỏi kết hợp nhiều năng lực.
Năng lực thường chia làm 2 loại:
Năng lực chung: là năng lực trong một phạm vi rộng: (quan sát sáng tạo)
Năng lực riêng: là năng lực trong một phạm vi hẹp: hoạt động đặc biệt gọi
là năng khiếu (năng khiếu nhạc, toán )
Trong thực tế 2 loại năng lực trên đây có quan hệ hữu cơ và tác động lẫn
nhau.
Mỗi lĩnh vực hoạt động cụ thể đều cần cả hai loại năng lực này.
- Năng lực lý luận và năng lực hoạt động thực tiễn.
- Năng lực học tập và năng lực sáng tạo.
24
Năng lực học tập: thể hiện khả năng nắm vững, nhanh chóng và có kết quả
những tri thức, kỹ năng kỹ xảo trong học tập.
Năng lực sáng tạo: thể hiện khả năng đem lại giá trị mới, sản phẩm mới cho
nhân loại.
1.1.2.2.4.2 Điều kiện tự nhiên và xã hội của năng lực25
- Tư chất là điều kiện tự nhiên của năng lực: Là những đặc điểm về mặt giải
phẫu, sinh lý và các chức năng của cơ thể bao gồm: Di truyền và các yếu tố
tự tạo của con người. Tư chất là cơ sở tự nhiên cần thiết để hình thành và
phát triển năng lực và ảnh hưởng đến sự khác biệt năng lực giữa người này
và người khác .Nó ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển năng lực nhưng
bẩm sinh chỉ là một trong những điều kiện để phát triển năng lực (yếu tố
quyết định vẫn là xã hội).
- Điều kiện xã hội của năng lực: Năng lực chịu sự qui định của những điều
kiện lịch sử - xã hội nhất định. Nó được hình thành và phát triển trong hoạt
động ngày càng tinh vi vủa xã hội để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status