Luận văn
Đề tài: "Chính sách và chiến lược
việc làm cho lao động nông thôn
ĐBSCL"
Trang 1
Mục lục
Trang 2
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1ĐẶT VẤN ĐỀ
Dân số đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện nay đạt trên 18 triệu người, trong
đó có khoảng 78,85% dân số sinh sống ở vùng nông thôn
(1)
. Với đặc điểm dân số
đông và trẻ nên có nguồn lao động phong phú, dồi dào, đặc điểm này là thế mạnh
trong phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và ĐBSCL nói riêng. Phần
lớn người lao động vùng ĐBSCL tập trung ở vùng nông thôn, chủ yếu sản xuất
nông nghiệp, do nền sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ nên đã dẫn đến vấn
đề dư thừa rất lớn thời gian lao động trong khu vực nông thôn.
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ, cùng với việc
ứng dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp, thực tế này đã làm giảm rõ rệt nhu cầu sử dụng lao động của nông thôn
hiện nay. Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên đất đai ngày càng hạn chế do nhu cầu đô
thị hóa và nhiều mục đích khác cũng góp phần làm cho tình trạng lao động nông
thôn không ổn định.
Dân số ĐBSCL hiện chiếm khoảng 21% dân số của cả nước nhưng cơ sở
dạy nghề chỉ chiếm có 14% của cả nước và đa số chủ yếu tập trung ở các
đô thị; trong đó chỉ có 55% các huyện có trung tâm dạy nghề. Hiện nay,
tuy đã thành lập một số trường dạy nghề lớn và đa số các tỉnh đều đã có
cơ sở dạy nghề nhưng nếu xét về quy mô đào tạo, số lượng ngành nghề,
chất lượng hiệu quả đào tạo còn hạn chế; chưa đáp ứng nhu cầu lao động
và ngành nông nghiệp luôn nỗ lực phấn đấu mở rộng diện tích đất canh tác cũng
như đầu tư mạnh tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, nên năng suất và sản
lượng lúa đã dần được nâng cao, đời sống nông dân đã được cải thiện đáng kể. Tuy
nhiên phần lớn đời sống của người lao động nông thôn trong vùng vẫn còn gặp rất
nhiều khó khăn.
Cụ thể như vấn đề nước sạch, vệ sinh và môi trường kém, nhất là người Khmer
nghèo và cận nghèo; người lao động quen với tập quán sản xuất nông nghiệp
truyền thống, năng suất và chất lượng thấp, thiếu vốn sản xuất, thu nhập không
ổn định, vấn đề tiếp cận khoa học kỹ thuật còn hạn chế nên khó có thể nâng
cao tay nghề.
Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu
thế chủ động gia nhập vào kinh tế của khu vực và thế giới, người lao động có cơ
hội tìm kiếm việc làm nhiều hơn, người lao động có thể vươn lên nắm bắt cơ hội
và tự do làm việc theo năng lực của mình. Tuy nhiên, cũng có những thách thức
đặt ra cho người lao động nông thôn, đó là yêu cầu về chất lượng nguồn lao động,
người lao động không biết nghề hoặc chưa có trình độ chuyên môn cao thì rất khó
tìm được việc làm. Mặt khác, ngày nay kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì
nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất là nhóm nông dân. Chính vì thế chính sách và
Trang 4
chiến lược việc làm cho người lao động nông thôn vùng ĐBSCL vẫn luôn là vấn
đề cần thiết nhằm góp phần hỗ trợ cho người lao động nông thôn.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiệu quả và tác động của các chính sách và chiến lược việc làm cho
người lao động nông thôn của vùng ĐBSCL: trường hợp huyện Tri Tôn tỉnh An
Giang. Qua đó xác định những chính sách và chiến lược có hiệu quả nhằm phát
huy cao hơn nữa lợi ích thiết thực cho người lao động nông thôn huyện Tri Tôn;
đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của nông thôn ĐBSCL nói chung.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
1.6 CẤU TRÚC TIỂU LUẬN
Tiểu luận gồm có 5 chương, bao gồm các nội dung:
Chương 1 - Mở Đầu: Đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi đặt ra cho vấn đề
nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học của đề tài. Các
chương còn lại được bố cục như sau:
Chương 2 - Lược khảo tài liệu: Giới thiệu tổng quan về vùng nghiên cứu, các vấn
đề liên quan đến Chính sách và chiến lược việc làm ở nông thôn ĐBSCL: trường
hợp huyện Tri Tôn tỉnh An Giang.
Chương 3 - Phương Pháp Luận Và Phương Pháp Nghiên Cứu: Mô tả phương
pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu và phương pháp phân tích các số liệu.
Chương 4 - Kết Quả Và Thảo Luận: Diễn đạt nội dung nghiên cứu, phân tích và
đánh giá số liệu, thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5 - Kết Luận Và Kiến Nghị: Trình bày ngắn gọn các kết luận đúc kết từ
các kết quả nghiên cứu theo mục tiêu và nội dung của chương 4; đồng thời đề xuất
giải pháp và kiến nghị một số phương án nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ cho các
chính sách đối với người lao động nông thôn ĐBSCL.
Trang 6
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Tổng quan Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những đồng bằng lớn, phì nhiêu của
khu vực Đông Nam Á và thế giới, là vùng sản xuất, xuất khẩu lương thực, vùng
cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất Việt Nam. ĐBSCL cũng là vùng đất quan trọng
đối với Nam Bộ và cả nước trong phát triển kinh tế, hợp tác đầu tư và giao
thương với các nước trong khu vực và thế giới, là vùng kinh tế phát triển năng
động, đóng vai trò chính trong sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản của
cả nước.
Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh – thành phố, dân số hơn 18 triệu
người, chiếm hơn 20,6% dân số cả nước, số người ở độ tuổi lao động hơn 60%
đến trường chưa cao, tỷ lệ bỏ học còn nhiều; tỷ lệ sinh viên tính trên 100.000
dân còn ít.
Rõ ràng nguồn nhân lực và việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực là điểm
yếu và cũng là điều rất khó khăn của ĐBSCL. Khó khăn này gây ảnh hưởng
không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Do vậy cần thiết có
những giải pháp phù hợp cho sự phát triển nguồn nhân lực của vùng.
2.1.2 Tổng quan tỉnh An Giang
An Giang là một tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, phía Đông và phía Bắc giáp tỉnh
Đồng Tháp, phía Tây Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài gần 100
km, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Nam giáp thành
phố Cần Thơ. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.506 km
2
, dân số toàn tỉnh khoảng
2.273.150 người, trong đó thành thị chiếm 38,4%, nông thôn chiếm 71,6% dân
số toàn tỉnh. Số người trong độ tuổi lao động hơn 1.456.212 người, chiếm trên
64,06% dân số toàn tỉnh An Giang. (Niên giám thống kê - Cục thống kê An
Giang, 2009).
Nằm ở vị trí thuận lợi cả đường thủy lẫn đường bộ, lại tiếp giáp vùng biên giới
Tây Nam của Tổ quốc, An Giang có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế theo
hướng đa dạng. Với chính sách “mở” trong thu hút đầu tư cùng những lợi thế
khác, như: du lịch phát triển, hạ tầng giao thông đang được nâng cấp, hoàn
thiện; nhiều khu công nghiệp, trung tâm thương mại ra đời; khu vực kinh tế
biên giới phát triển năng động… An Giang đang trở thành “miền đất hứa” với
nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.
2.1.3 Tổng quan huyện Tri Tôn
2.1.3.1 Đặc điểm tự nhiên
Huyện Tri Tôn, phía Đông giáp các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, phía Bắc
giáp huyện Tịnh Biên, phía Tây Bắc giáp Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Kiên
Giang. Diện tích: 59.805 ha, địa hình đa dạng, vừa có đồi núi, vừa có đồng
bằng với nhiều kênh mương lớn nhỏ ngang dọc. Huyện Tri Tôn có thị trấn Tri
2006 -
2007
2007 -
2008
2008 -
2009
2009 -
2010
I. Mầm non, Nhà trẻ, Mẫu giáo
- Trường Trường 17 17 19 19 19
- Lớp Lớp 115 122 128 131 132
- Học sinh Người 3.425 3.578 3.777 3.776 3.972
- Giáo viên Người 142 136 144 139 133
II. Tiểu học
- Trường Trường 33 33 32 32 32
- Lớp Lớp 469 464 460 463 473
- Học sinh Người 13.043 12.605 12.209 12.214 12.596
- Giáo viên Người 534 548 524 547 545
III. Trung học cơ sở
- Trường Trường 15 15 15 15 15
- Lớp Lớp 223 214 200 197 202
- Học sinh Người 8.316 8.164 7.381 7.195 7.053
- Giáo viên Người 346 371 408 409 408
IV. Trung học phổ thông
- Trường Trường 4 3 3 3 3
- Lớp Lớp 72 69 63 65 66
- Học sinh Người 3.096 2.840 2.411 2.479 2.407
- Giáo viên Người 145 183 161 161 168
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tri Tôn, 2009)
2.2. LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM NÔNG THÔN
lượng lao động được cải thiện nhưng còn thấp so với cả nước, năm 2007, tỷ lệ
lao động qua đào tạo toàn vùng khoảng 30% (cả nước là 34,75%). Trình độ học
vấn của lao động trong vùng khá thấp so với cả nước, năm 2007, 66,8% lao
động trong vùng tốt nghiệp tiểu học trở xuống, 18,7% lao động tốt nghiệp trung
học cơ sở (THCS) và 14,5% lao động tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT)
(tỷ lệ này của cả nước lần lượt là 44,4%, 31,1% và 24,5%). Đây thực sự là
thách thức lớn đối với vùng trong việc đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật lành
nghề của các doanh nghiệp cũng như đầu vào cho các cơ sở đào tạo nhằm nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực của vùng.
Đồng bằng sông Cửu Long luôn được đánh giá là vùng có nguồn nhân lực dồi
dào, nhưng tỷ lệ thất nghiệp lại cao nhất nhì cả nước. Dân số toàn vùng hiện
chiếm 22% nhưng cơ sở dạy nghề chỉ chiếm 14% cả nước, 77% dân số có trình
độ từ tiểu học trở xuống, ngược lại với đồng bằng Bắc bộ. ĐBSCL hiện có 280
cơ sở dạy nghề, cơ bản xoá được "vùng trắng" trường dạy nghề trên địa bàn
nhưng chất lượng còn hạn chế, chủ yếu là dạy nghề ngắn hạn. Trình độ thấp,
kéo theo tỷ lệ thất nghiệp và nguy cơ tái nghèo cao. (Bộ LĐTB & XH, 2008).
Theo Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (2009), về “Phát triển nguồn nhân lực
ĐBSCL thời kỳ hội nhập”, đã cho rằng: Đại bộ phận người lao động làm nghề
nông nghiệp, thủy sản, sinh sống tại nông thôn. Những năm gần đây do sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế cùng với tốc độ đô thị hóa, một bộ phận lao động ở
nông thôn đã chuyển ra thành thị hoặc chuyển sang làm việc trong lĩnh vực
Trang 11
công nghiệp, dịch vụ. Song sự chuyển dịch này còn rất chậm, vì vậy lực lượng
lao động ở nông thôn làm nghề nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng cao so với mức
bình quân của cả nước 78,2% (năm 2007 là 72,4%). ĐBSCL có qui mô nguồn
nhân lực lớn nhưng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn rất thấp, kỹ năng nghề
nghiệp yếu kém; còn nhiều bất cập về mặt cơ cấu và bố trí sử dụng. Đồng thời
cũng nhận định rằng: có một nghịch lý là nông dân ĐBSCL là người hội nhập
sớm nhất của Việt Nam nhưng còn rất nghèo nên con em nông dân không thể
có tiền đi học được.
2.3 MỐI QUAN HỆ VỀ CUNG CẦU LAO ĐỘNG TRÊN THỊ TRƯỜNG
Thể hiện trên 3 trạng thái: Trạng thái cân bằng cung - cầu lao động, trạng thái
rối loạn cung - cầu lao động và trạng thái cân bằng mới
(
3)
(Hình 2.2). Trong thị
trường sức lao động quan hệ cung cầu thể hiện khá rõ, nếu mức tiền công quá
cao U
1
P
1
thì có hiện tượng cung lao động lớn hơn về cầu lao động, nghĩa là số
người muốn đi làm việc sẽ lớn hơn số người tìm được việc làm ở mức tiền
công này. Chính điều này đã tạo nên sự rối loạn trạng thái cung - cầu lao động
trên thị trường, một thực tế là mức tiền công càng cao sẽ tỷ lệ nghịch với cầu
lao động trên thị trường lao động.
Ngược lại khi mức tiền công thấp U
2
P
2
thì khả năng thu hút lao động sẽ lớn
hơn và xuất hiện về cầu lao động sẽ lớn hơn cung, mức tiền công này
không hấp dẫn người lao động. Vì thế mức tiền công này sẽ thiếu hụt lao
động làm việc.
Theo quy luật của thị trường lao động, giá cả tiền công luôn có xu hướng trở về
mức cân bằng U
0
P
0
để cung và cầu lao động được cân bằng. Tại giá trị cân
2.4 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN CỦA MỘT SỐ NƯỚC
2.4.1 Trung Quốc
Hiện nay, Trung Quốc có dân số trên 1,3 tỷ người, mà hai phần ba là nông dân,
tức là số nông dân có tới 900 triệu người, trong số đó 600 triệu sống bằng nghề
trồng trọt, trên những mảnh ruộng nhỏ li ti. Hàng năm có trên 10 triệu lao động
tham gia vào lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu giải quyết việc làm trở nên
gay gắt hơn.
Trước đòi hỏi mang tính cấp thiết đó, ngay từ những năm 1978 Trung Quốc đã
thực hiện mở cửa cải cách nền kinh tế và thực hiện phương châm “Ly nông bất
ly hương” hay “Nhập xưởng bất nhập thành”, và đã thực hiện nhiều chính sách
phát triển, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lao động nông
0 Thị trường
lao động
Tiền công
E
D
1
S
1
D
ld
S
ld
S
2
D
2
U
1
Theo kết quả điều tra của cơ quan chức năng Trung Quốc, thu nhập thực tế
bình quân đầu người ở nông thôn đã tăng lên. Chính sức mua trong khu vực
nông thôn đã tăng lên nhanh chóng, làm tăng cầu về các loại hàng hóa tiêu
dùng từ hàng hóa thực phẩm, hàng hóa thiết yếu đến tiêu dùng những sản phẩm
có độ co dãn theo thu nhập cao hơn: ô tô, tham quan - du lịch,… Tăng thu nhập
và sức mua của người dân nông thôn đã tạo ra cầu cho các doanh nghiệp công
nghiệp ở nông thôn phát triển nhằm thu hút thêm nhiều lao động.
Thứ ba: Tạo môi trường thuận lợi để phát triển công nghiệp.
Thứ tư: Thiết lập một hệ thống cung cấp tài chính có hiệu quả cho doanh
nghiệp nông thôn, giảm chi phí giao dịch để huy động vốn cho công nghiệp
nông thôn.
Thứ năm: Duy trì và mở rộng mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp nông
thôn và doanh nghiệp nhà nước.
Trang 15
2.4.2 Malaysia
Liên bang Malaysia có diện tích tự nhiên 329.800 km
2
, dân số khoảng 27 triệu
người (2010), mật độ dân số 74 người/ km
2
. Hiện nay lao động đang được thu
hút mạnh vào các ngành phi nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ nên sức ép về
dân số và đất đai là không lớn. Ngày nay, Malaysia không đủ lao động nên phải
nhập khẩu lao động từ nước ngoài, nhưng trong thời gian đầu của quá trình
công nghiệp hóa, Malaysia đã phải giải quyết vấn đề dư thừa lao động nông
thôn như nhiều quốc gia khác. Hiện nay ngoài việc tạo việc làm cho lực lượng
lao động nông thôn trong nước, Malaysia còn phải nhập thêm lao động từ nước
ngoài. Từ kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Malaysia
cho thấy:
Thứ nhất: Thời gian đầu của quá trình công nghiệp hóa, Malaysia chú trọng
ĐBSCL nói chung và của huyện Tri Tôn nói riêng. Các bài học đó là:
Thứ nhất: Nhà nước cần phải có những chính sách vĩ mô về vai trò quản lý của
Nhà nước để chống thất nghiệp, thiếu việc làm, giải quyết việc làm cho người
lao động. Từ đó đề ra những giải pháp và chính sách đúng đắn, đồng bộ, đồng
thời phù hợp với người lao động nông thôn và điều kiện để thực thi. Những
chính sách và giải pháp đó hướng vào phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế đi
đôi với giải quyết việc làm.
Thứ hai: Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện: đẩy
mạnh thâm canh, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với sự phát triển đa dạng các
ngành nghề sử dụng nhiều lao động và có khả năng thu hút lao động, phân
công lao động, tạo việc làm tại chỗ ở nông thôn.
Thứ ba: Đa dạng hóa các hình thức giải quyết việc làm: khôi phục các làng
nghề truyền thống có giá trị kinh tế, đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp,
nâng cao đời sống của người lao động. Xã hội hóa giải quyết việc làm, huy
động tổng hợp các nguồn lực và sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, đoàn thể
chính trị - xã hội và toàn thể nhân dân.
Thứ tư: Đào tạo nghề và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp
cho người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động hiện nay,
nhất là là các lĩnh vực thu hút nhiều lao động, các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn,
yêu cầu chất lượng cao từ nguồn nhân lực.
Thứ năm: Phát triển các trung tâm dịch vụ lao động, cơ sở giới thiệu việc làm,
các tổ chức xuất khẩu lao động.
Trang 17
Thứ sáu: Trên cơ sở phát huy nội lực trong nước, mở rộng hợp tác quốc tế
nhằm tận dụng sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý cho giải quyết
việc làm.
Tùy theo điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi địa phương mà vận dụng
bài toán giải quyết việc làm khác nhau. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, xu
thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, ĐBSCL nói chung và huyện Tri
hành
Mục đích
Nghị định số
127/2008/NĐ-CP của
Chính phủ
12/12/2008
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Bảo hiểm
xã hội về bảo hiểm thất nghiệp.
Quyết định 157/2007/QĐ-
TTg của Thủ tướng Chính
phủ
27/09/2007
Các đối tượng học sinh, sinh viên diện
mồ côi, hộ nghèo, hộ cận nghèo và gia
đình gặp khó khăn về tài chính do
thiên tai, bệnh tật, hỏa hoạn được vay
vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội
để trang trải chi phí học tập (Chương
trình tín dụng cho học sinh, sinh viên).
Thông tư số 04/2009/TT-
BLĐTBXH của Bộ
LĐTB-XH
22/01/2009
Hướng dẫn thi hành một số điều của
Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày
12/12/2008 của Chính phủ qui định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của luật bảo hiểm xã hộ về thất
nghiệp.
triệu lao động nông thôn; Giai đoạn 3 (2016 – 2020) sẽ đào tạo cho khoảng 6
triệu lao động nông thôn. Mục tiêu là tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau
khi được đào tạo tối thiểu phải đạt 70 - 80%.
Chính sách cụ thể như sau: lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính
sách ưu đãi như người có công với Cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số,
người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn
hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 3 triệu
đồng/người/khóa học; hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày học/người; hỗ
trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá
200.000 đồng/người/khoá học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở
lên, lao động nông thôn khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ
cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 2 triệu đồng/người/khóa học.
Ngoài ra Đề án còn tạo điều kiện cho lao động nông thôn học nghề được vay
vốn để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao
động nông thôn làm việc ổn định ở nông thôn sau khi học nghề được ngân sách
hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay để học nghề và được vay vốn từ Quỹ
quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự
tạo việc làm.
(ii) Dự thảo chiến lược giáo dục 2009 – 2020
(
5)
Giáo dục và đào tạo nhằm góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri
thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ
năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu
quả trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh.
Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời
kỳ mới. Sự phát triển quy mô giáo dục ở các cấp học, ngành nghề và trình độ
đào tạo trong những năm qua đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân,
nhưng chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội
của đất nước và còn thấp so với trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực
dụng các chương trình đào tạo tiên tiến quốc tế ở các cơ sở đào tạo nghề nghiệp
và đại học. Tổ chức đánh giá quốc gia và tham gia chương trình đánh giá quốc
tế về kết quả học tập. Đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo sư phạm, công tác bồi
dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
- Giai đoạn ba (2016-2020): Đẩy mạnh việc xây dựng các trường đại
học đạt tiêu chuẩn quốc tế. Thực hiện những điều chỉnh cần thiết về các mục
tiêu, chỉ tiêu chiến lược và đánh giá kết quả thực hiện chiến lược giáo dục
2.6 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN
LƯỢC VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
2.6.1 Nhân tố bên ngoài
Trang 21
Môi trường bên ngoài đang thay đổi rất nhanh và thậm chí còn nhanh hơn khi
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Việc Việt Nam gia
nhập WTO chính là sự tiếp nối thành quả của quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, có tác động thúc đẩy nhanh hơn quá trình đổi mới theo hướng kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế.
Mặc dù khi chính thức gia nhập WTO, nước ta chưa phải mở cửa thị trường lao
động do không có điều khoản nào của WTO yêu cầu chúng ta về vấn đề này,
nhưng sự cạnh tranh chắc chắn sẽ tăng lên bởi các gói dịch vụ do các nhà đầu
tư nước ngoài cung cấp có kèm điều kiện sử dụng lao động. Thực tế ở các khu
sản xuất công nghiệp hiện nay, nhất là ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài cho thấy, lao động Việt Nam đang phải nhường những vị trí có thu nhập
cao cho người nước ngoài. Lý do là cùng với thu nhập hấp dẫn, cũng đặt ra
những yêu cầu rất cao về trình độ năng lực trong sản xuất trực tiếp cũng như
trong quản lý mà lao động Việt Nam không có khả năng đáp ứng hoặc đáp ứng
ở mức độ quá thấp.
Theo thống kê tại Nhà máy xi măng Nghi Sơn (Thanh Hoá), tổng quỹ lương
của 20 người Nhật bằng tổng quỹ lương của gần 2.000 người Việt Nam đang
làm việc ở đây. Con số này cho thấy, nếu xét về số lượng, đầu tư nước ngoài đã
tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, nhưng nhìn vào chất lượng thì sự hưởng lợi của
Có thể nói nhu cầu học nghề đang rất lớn nhưng thực tế, nhiều bộ, ngành, các
cấp và cả người lao động cũng chưa nhận thức, chưa thực sự quan tâm tới việc
học nghề. Trong khi đó, các cơ chế, chính sách về dạy nghề ngắn hạn cho lao
động nông thôn chưa được quan tâm đúng mức, dẫn tới sự chồng chéo, kém
hiệu quả và bất cập như bị giới hạn về đối tượng, thời gian đào tạo và mức hỗ
trợ chi phí đào tạo thấp. Cùng với đó là công tác dự báo của thị trường lao động
quá thiếu, không đầy đủ và kịp thời khiến người lao động lúng túng trong việc
lựa chọn nghề, tìm kiếm việc làm sau khi học nghề. Do đó kinh phí đào tạo
nghề từ ngân sách Nhà nước ngày càng tăng nhưng chất lượng chưa được cải
thiện tương xứng.
Đào tạo nhân lực theo nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp là vấn đề
hết sức cần thiết trong thực tế hiện nay, nhằm rút ngắn khoảng cách giữa đào
tạo và nhu cầu sử dụng lao động. Đào tạo theo nhu cầu của người học cũng như
các đơn vị tuyển dụng, lao động sau khi học xong nghề đều có việc làm tương
đối ổn định, có cơ hội phát triển nghề nghiệp mà mình đã chọn.
Trang 23
Ngoài ra còn nhiều yếu tố tác động đến chính sách việc làm cho lao động nông
thôn như: cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy và học, đội
ngũ quản lý và giảng viên dạy nghề…
Trang 24
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Khái nhiệm chung
Nông thôn
Nông thôn là một phân hệ xã hội đặc thù với những đặc trưng cơ bản: (i), chủ
thể đại diện của nó là những người nông dân (họ chiếm đa số trong dân số của
tiểu khu vực xã hội này), gắn chặt với hoạt động truyền thống là hoạt động sản
xuất nông nghiệp; (ii), bao gồm những tụ điểm quần cư thường có qui mô nhỏ
về mặt số lượng; (iii), mật độ dân cư thấp; (iv), ở nông thôn có một môi trường