Hoạt động quản trị hệ thống bán hàng tại tổng công ty thương mại Hà Nội và một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản trị hệ thống bán hàng tại đây - Pdf 17

Chương I: Những vấn đề cơ bản của quản trị hệ thống bán hàng 4
1.1.1.Vai trò của hệ thống bán hàng 6
1.2.Nội dung của quản trị hệ thống bán hàng của doanh nghiệp thương
mại 8
1.2.1.Xây dựng hệ thống phân phối bán hàng 8
1.2.2.Tổ chức và quản lý hệ thống bán hàng 11
1.2.3. Kiểm tra, đánh giá hệ thống bán hàng 14
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị hệ thống bán hàng ở các doanh
nghiệp thương mại 17
1.3.1. Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 17
1.3.2.Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 20
Chương 2: Thực trạng quản trị hệ thống bán hàng của Tổng công ty thương
mại Hà Nội 22
2.1. Khái quát chung về tổng công ty thương mại Hà Nội 22
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 22
2.1.2. Chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy kinh doanh 24
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của tổng công ty những năm gần
đây 29
2.2 Thực trạng quản trị hệ thống bán hàng của Tổng công ty thương mại
Hà Nội 31
2.2.1 Phân tích kết quả chung của hệ thống bán hàng của Tổng công ty
thương mại Hà Nội 31
2.2.2 Phân tích thực trạng quản trị hệ thống bán hàng tại Tổng công ty
thương mại Hà Nội 35
2.3.Đánh giá thực trạng quản trị hệ thống bán hàng của Tổng công ty
thương mại Hà Nội 41
2.3.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân 41
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 45
Chương 3 : Một số giải pháp chủ yếu tăng cường quản trị hệ thống bán
hàng của Tổng công ty thương mại Hà Nội 47
3.1 Phương hướng phát triển của Tổng công ty thương mại Hà Nội

trường của các quốc gia vô cùng phong phú với nhiều chủng loại, nhiều chất
lượng và khối lượng lớn.
Việt Nam cũng nằm trong xu thế đó. Đặc biệt sau khi gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO số lượng hàng hóa xuất hiện tên thị trường ngày
càng nhiều hơn. Điều đó đặt ra một vấn đề quan trọng cho các doanh nghiệp
thương mại đó là: làm sao quản lý hệ thống bán hàng của doanh nghiệp hiệu
quả nhất, để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường. Và Tổng công ty Thương mại Hà Nội không nằm ngoài số đó. Với
đặc trưng là một doanh nghiệp thương mại quản lý một mạng lưới bán hàng,
các trung tâm thương mại, các cửa hàng siêu thị, các cửa hàng tự chon, công
2
ty đã khai thác triệt để những thế mạnh của chính mình với vai trò là một
doanh nghiệp nhà nước.
Hoạt động chủ yếu của công ty là bán hàng nên vấn đề quản trị hệ thống
bán hàng đối với tổng công ty là rất quan trọng, đây là khâu chủ chốt quyết
định đến doanh thu của doanh nghiệp. Nhận thức được vai trò của việc quản
trị hệ thống bán hàng, hàng năm công ty không ngừng đưa ra những chiến
lược sách lược để đảm bảo tốt nhất hoạt động quản lý. Chính bởi thế trong bài
viết này tôi xin mạnh dạn đề cập đến hoạt động quản trị hệ thống bán hàng tại
Tổng công ty Thương mại Hà Nội và một số giải pháp nâng cao chất lượng
công tác quản trị hệ thống bán hàng tại đây. Dưới góc độ quản trị hệ thống
bán hàng của tổng công ty thương mại Hà Nội đối với các công ty thành viên,
bài viết gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị hệ thống bán hàng
trong doanh nghiệp thương mại .
Chương II: Thực trạng quản trị hệ thống bán hàng tại Tổng công ty
Thương mại Hà Nội .
Chương III: Một số giải pháp chủ yếu tăng cường quản trị hệ thống bán
hàng Tổng công ty Thương mại Hà Nội .
Mặc dù đã cố gắng nhưng bài viết không thể tránh khỏi những sai sót,

thành viên trong doanh nghiệp. Mua hàng phải đảm bảo mua đủ số lượng
hàng cũng như chất lượng hàng với chi phí thấp nhất và mức độ tin cậy cao
nhất.
- Vận chuyển :Vận chuyển về kho và vận chuyển từ kho đến nơi bán,
chở hàng giao tận nhà cho khách hàng. Yêu cầu của khâu này là đảm bảo thời
gian nhanh nhất mà vẫn đảm bảo hàng hóa nguyên vẹn cũng như chi phí
không phát sinh.
- Lưu kho : Bảo quản hàng hóa, quản lý hàng hóa, công tác nhập kho,
xuất kho, đảm bảo hàng hóa được bảo quản trong tình trạng tốt, được kiểm kê
đầy đủ không sai sót, mất mát.
- Bán hàng : Bao gồm cả bán buôn và bán lẻ. Đối với bán buôn có bán
cho các cửa hàng bán lẻ, bán cho đại lý, chi nhánh, bán cho bên ngoài. Đối
với bán lẻ xây dựng hệ thống cửa hàng bán lẻ, siêu thị.Đây là khâu có sự tiếp
5
xúc trực tiếp với khách hàng, do vậy cần được hết sức chú trọng xây dựng và
hoàn thiện tạo ra bộ mặt cho toàn hệ thống.
- Dịch vụ sau bán hàng : bao gồm các hoạt động giao hàng, lắp đặt, bảo
hành. Nhằm đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho khách hàng, tạo dựng uy tín cho
công ty, đem lại niềm tin cho khách hàng.
1.1.1. Vai trò của hệ thống bán hàng.
Có thể nói rằng : “Vai trò cuả hệ thống bán hàng là giúp bán được
hàng”.
Bán hàng có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nền kinh tế quốc
dân, với các doanh nghiệp, đặc biệt là với doanh nghiệp thương mại.
Với nền kinh tế quốc dân:
- Bán hàng là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là nơi gặp gỡ
giữa cung và cầu. Giúp cho nhà sản xuất bán được hàng một cách dễ dàng và
người tiêu dùng cũng mua được hàng dễ dàng hơn với nhiều sự lựa chọn hơn
do đó mà có được sự tiêu dùng hiệu quả hơn, mua được hàng hoá tốt hơn với
giá thành thấp hơn. Phải có hoạt động bán hàng thì hàng hóa sản xuất ra mới

tranh ngày càng gay gắt, vì vậy bán được hàng doanh nghiệp có thể thực hiện
mục tiêu cạnh tranh để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên thị
trường.
Thứ ba bán hàng là công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh
doanh thương mại, ngăn cản sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh vào thị
trường của doanh nghiệp, gắn kết doanh nghiệp và khách hàng và chiếm lĩnh
thị trường ngày càng rộng hơn. Nhờ đội ngũ bán hàng, doanh nghiệp có được
thông tin trực tiếp từ khách hàng, từ đó đáp ứng tốt hơn mong muốn của họ
cũng như xây dựng được mối quan hệ hai chiều bền vững hơn với các khách
hàng của mình.
Ngoài ra bán hàng là cơ sở để đánh giá kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp, thể hiện sự cố gắng hay trình độ của doanh nghiệp. Tất cả các hoạt
7
động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không suy cho cùng đều thể hiện ở
doanh số bán hàng có cao hay không, có tăng trưởng nhiều không, có đem lại
lợi nhuận lớn hay không. Đó là mục tiêu tiên quyết, là lý do để một doanh
nghiệp được thành lập.
1.2. Nội dung của quản trị hệ thống bán hàng của doanh nghiệp
thương mại.
Quản trị hệ thống bán hàng là hoạt động bao trùm toàn bộ hệ thống bán
hàng, quản trị hệ thống bán hàng bao gồm ba nội dung chính : Xây dựng hệ
thống phân phối bán hàng; Tổ chức và quản lý hệ thống bán hàng; Kiểm tra,
đánh giá hệ thống bán hàng. Muốn phát huy hết hiệu quả của hệ thống bán
hàng, đòi hỏi công tác quản trị hệ thống bán hàng phải chú ý cả ba khâu của
quá trình quản trị kể trên.Dưới đây chúng ta xem xét từng nội dung trong
quản trị hệ thống bán hàng.
1.2.1. Xây dựng hệ thống phân phối bán hàng.
Quản trị hệ thống bán hàng trước hết phải xây dựng hệ thống bán hàng.
Phải có hệ thống bán hàng trước rồi mới có thể tổ chức, quản lý cũng như
kiểm tra đánh giá nó. Có thể hiểu xây dựng hệ thống phân phối bán hàng tức

hưởng có hại.
- Phát triển hệ thống phân phối bán hàng, xây dựng hệ thống kho bãi,
hệ thống cửa hàng, thiết lập tuyến vận chuyển, bước đầu khoanh vùng thị
trường chiếm lĩnh.
- Lựa chọn các mối quan hệ tối ưu trong hệ thống phân phối bán hàng
và xây dựng chúng. Có thể là quan hệ theo chiểu ngang giữa các thành viên
cùng làm một loại công việc hoặc quan hệ theo chiều dọc giữa những thành
viên làm những công việc khác nhau có thể phối hợp với nhau.
9
- Lựa chọn các thành viên sẽ tham gia vào hệ thống phân phối bán
hàng. Lựa chọn thành viên và phân bổ thành viên thích hợp cho từng loại
hình công việc, và thích ứng với toàn bộ hệ thống phân phối bán hàng nói
chung. Quá trình lựa chọn thành viên cho hệ thống phân phối bán hàng bao
gồm ba bước cơ bản sau:
+ Tìm kiếm các thành viên có khả năng.
+ Đánh giá khả năng phù hợp với hệ thống của các thành viên bằng
các tiêu chuẩn lựa chọn.
+ Bảo đảm các thành viên này trong tương lai chắc chắn sẽ tham gia
vào hệ thống phân phối bán hàng.
Xây dựng hệ thống phân phối bán hàng là bước đầu tiên cơ bản và cần
thiết của công tác quản trị hệ thống bán hàng, do đó cần phải thực hiện thật tốt
nội dung này. Để làm tốt công tác xây dựng hệ thống phân phối bán hàng lại
cần thực hiện chính xác và theo một trình tự thích hợp các bước trong quy
trình trên. Công việc đầu tiên luôn phải nhận dạng được nhu cầu thị trường,
mục tiêu mà hệ thống phân phối bán hàng cần đạt được từ đó mới xác định
được cấu trúc thích hợp cho hệ thống phân phối bán hàng và các thành viên
thích hợp với cấu trúc hệ thống đó
Trong xây dựng hệ thống phân phối bán hàng yêu cầu phải xác định
chính xác nhu cầu của thị trường và mục tiêu của hệ thống phân phối bán
hàng, từ đó mới có thể xác định chính xác được cấu trúc của hệ thống. Mấu

- Các trung gian hiện tại thay đổi chính sách làm ảnh hưởng đến
mục tiêu phân phối của công ty.
- Hoạt động của hệ thống bán hàng hiện tại có những lỗi cơ bản
cần phải thay thế một số bộ phận bằng những bộ phận mới để sửa đổi, làm
biến mất những chỗ hổng đó của hệ thống.
Hệ thống bán hàng hiện tại cần phải cải tiến lại khi :
- Kiểm tra đánh giá lại hệ thống bán hàng thấy có những sai sót
cần phải có sự sửa đổi, cải tiến để hoàn thiện hệ thống bán hàng của doanh
nghiệp.
11
- Hệ thống bán hàng đã cũ kĩ không phù hợp với điều kiện mới
của thị trường nữa.
- Đưa thêm sản phẩm mới hoặc thêm dịch vụ hệ thống bán hàng.
- Xảy ra mâu thuẫn nhất định giữa các thành viên trong hệ thống
bán hàng.
- Thị trường biến động cần hệ thống thay đổi để thích nghi với
điều kiện mới.
Thực hiện công tác tổ chức hệ thống bán hàng cần phải kịp thời để
thích ứng với sự thay đổi thường xuyên của môi trường tuy nhiên cũng rất cần
có sự chính xác trong thực hiện tránh việc không xây mà lại phá, làm cho hệ
thống bán hàng trở nên lủng củng, phức tạp hơn. Mặt khác hệ thống bán hàng
chính là bộ mặt của công ty, phần mà khách hàng có thể thấy rõ nhất, do vậy
không thể tổ chức lại liên tục nên trong công tác tổ chức cần tính toán để bảo
đảm tính ổn định cho hệ thống.
Tổ chức hệ thống bán hàng rồi còn cần thiết phải quản lý hệ thống đó
nữa. Tổ chức và quản lý hệ thống bán hàng là các hoạt động nối tiếp nhau và
có liên quan mật thiết với nhau. Quản lý hệ thống bán hàng là điều khiển,
kiểm soát hoạt động của các thành viên đã có, nghĩa là điều khiển tổ chức hệ
thống bán hàng đã xây dựng và tất cả các thành viên trong hệ thống bán hàng
đã lựa chọn.

của các thành viên trong hệ thống.
- Mức độ liên kết chặt chẽ giữa các thành viên của hệ thống bán
hàng phụ thuộc vào cường độ phân phối, phân phối rộng rãi hay phân phối
chọn lọc. Nếu hệ thống lựa chọn phương thức phân phối rộng rãi thì mức độ
liên kết giữa các thành viên là lỏng lẻo vì không cần thiết và cũng không thể
tạo lập mối liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong hệ thống. Nếu lựa chọn
phương thức phân phối chọn lọc hay độc quyền thì mức độ liên kết giữa các
thành viên lại là rất chặt chẽ. Mức độ liên kết giữa các thành viên trong hệ
13
thống còn phụ thuộc vào các yêu tố khác như mục tiêu, sản phẩm, chính sách
của công ty, quan điểm của nhà quản trị,…
Nội dung công tác quản lý hệ thống bán hàng:
- Điều khiển hoạt động của hệ thống bán hàng, tức là điều khiển
tất cả các dòng chảy trong hệ thống bao gồm : Thông tin, tiền tệ, hàng hóa,
xúc tiến, đàm phán, …, làm cho tất cả các dòng chảy này đều thông suốt, liên
tục trong toàn bộ hệ thống bán hàng, phục vụ cho mục tiêu chung của cả hệ
thống.
- Liên kết các thành viên : sử dụng cả phương pháp kéo và phương
pháp đẩy để tác động đến các thành viên làm cho các thành viên trong hệ
thống bán hàng hợp tác với nhau có hiệu quả, cùng thực hiện xúc tiến sản
phẩm để đạt được hiệu quả tốt nhất.
- Đưa ra các quyết định thích hợp nhằm định ra chương trình, tính
chất hoạt động của các thành viên trong hệ thống bán hàng nhằm đưa cả hệ
thống cùng đạt mục tiêu chung.
- Khuyến khích các thành viên trong hệ thống bán hàng hoạt động
có hiệu quả. Tức là tìm ra nhu cầu và trở ngại của các thành viên, đưc ra sự
giúp đỡ thích hợp cho họ, đồng thời đưa ra các lợi ích nếu như hoạt động tốt
để họ hoạt động tích cực hơn.
- Giao tiếp , đàm phán, tiếp xúc, làm việc với từng thành viên
trong hệ thống bán hàng. Thông qua đó nắm vững tình hình của từng thành

của công ty.
- Đảm bảo tính linh hoạt của hệ thống bán hàng để thích ứng với
sự thay đổi của môi trường kinh doanh : Hoạt động bán hàng gắn chặt với thị
trường và khách hàng do vậy môi trường kinh doanh của hệ thống bán hàng
có sự chuyển đổi liên tục phụ thuộc vào tình hình của nên kinh tế và sự thay
15
đổi trong nhu cầu tiêu dùng. Doanh nghiệp cần lựa chọn hệ thống bán hàng dễ
thay đổi cấu trúc hoặc dễ thay thế các thành viên để đối phó kịp thời với các
biến động của môi trường kinh doanh.
Thực chất của việc kiểm tra, đánh giá này là kiểm tra, đánh giá hoạt
động của các thành viên trong hệ thống bán hàng. Do vậy cần phải có sự kiểm
tra, đánh giá thường xuyên hoặc theo định kỳ để có thể đưa ra các quyết định
điều chỉnh hợp lý đối với các thành viên trong hệ thống bán hàng của doanh
nghiệp.
Các công việc cần thực hiện khi kiểm tra đánh giá hoạt động của hệ
thống bán hàng bao gồm :
- Xây dựng các tiêu chuẩn, lựa chọn tiêu chuẩn thích hợp để đánh
giá hiệu quả hoạt động của hệ thống bán hàng, đánh giá hoạt động của từng
thành viên trong hệ thống bán hàng, chẳng hạn như các tiêu chuẩn đánh giá
sau : doanh số, lợi nhuận hay số lượng khách hàng, mức độ bao phủ thị
trường.
- Áp dụng các tiêu chuẩn này vào việc đánh giá hiệu quả hoạt
động của các thành viên trong hệ thống bán hàng. Có thể chia các đánh giá
theo từng tiêu chuẩn, từng nhóm tiêu chuẩn hoặc kết hợp tất cả các tiêu chuẩn
lại với nhau để lượng hóa toàn bộ hệ thống bán hàng, đánh giá họat động của
hệ thống này.
- Phân tích kết quả thu được và đề ra các biện pháp điều chỉnh
hoạt động của các thành viên trong hệ thống bán hàng, điều chỉnh cấu trúc của
hệ thống bán hàng. Các biện pháp điều chỉnh chỉ được thực hiện khi thấy thật
sự cần thiết, tránh bảo thủ, để lỡ thời cơ nhưng cũng phải tính đến các hậu quả

nước ta hiện nay ở vào mức cao, nên nhu cầu tiêu dùng liên tục tăng trưởng,
tuy nhiên gần đây do lạm phát và sự mất giá của tiền, nhu cầu có dấu hiệu
chững lại và có thể giảm.
17
- Nhân tố chính trị pháp luật : Quy định về bán hàng, vận chuyển,
bảo hành,quy định về chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, quy
định về kiểm dịch…Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến bán hàng tạo ra
các giới hạn, khuôn khổ cho hoạt động bán hàng của doanh nghiệp, bảo vệ
cho quyền lợi của người tiêu dùng. Các quy định pháp luật nước ta chưa thực
sự rõ ràng và minh bạch, đây là một khó khăn cho công tác quản trị hệ thống
bán hàng.
- Nhân tố kỹ thuật công nghệ : Trang thiết bị liên lạc, làm việc,
bán hàng, vận chuyển, kỹ thuật bảo quản.Các nhân tố này ảnh hưởng tới năng
suất lao động, sự linh hoạt, chính xác, kịp thời trong công tác quản trị hệ
thống bán hàng trong doanh nghiệp. Ngoài ra nhân tố công nghệ còn tác động
đến tốc độ lan truyền của thông tin quản trị và cách thức đảm bảo thông tin
xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống bán hàng
b.Các yếu tố thuộc về môi trường ngành.
Các yếu tố thuộc về môi trường ngành tác động trực tiếp tới doanh
nghiệp tuy nhiên tác động nhiều hay ít tùy thuộc vào từng doanh nghiệp
Nhóm yếu tố này bao gồm năm yếu tố theo M.Poter :
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành : Hoạt động bán
hàng thường xuyên phải đối mặt với sức ép cạnh tranh bởi có rất nhiều doanh
nghiệp thương mại cùng hoạt động trên một lĩnh vực đặc biệt là trong điều
kiện nền kinh tế thông thoáng như hiện nay. Đặc biệt trong hoạt động bán
hàng, hiện nay trên thị trường Hà Nội có rất nhiều siêu thị và hệ thống siêu thị
lớn như Intimex, Fivimart, vinaconex, coopmark, G7 mart, Sức ép cạnh
tranh từ phía các doanh nghiệp trong ngành là lớn. Vì vậy trong quản trị hệ
thống bán hàng cần làm tốt công tác tổ chức hệ thống nâng cao khả năng cạnh
tranh khách hàng với các đối thủ.

được mối quan hệ tốt, gây dựng được uy tín khi mua hàng. Với hệ thống bán
hàng của Tổng công ty thương mại Hà Nội, áp lực của nhà cung cấp là không
19
cao. Do tổng công ty có các đơn vị thành viên là các doanh nghiệp thành viên
là các nhà máy sản xuất và chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng, giải quyết
một phần nhu cầu hàng hoá. Mặt khác, công ty thu mua từ tận các hộ sản xuất
nhỏ, do yếu về quy mô, nên các hộ này không thể tạo nên sức ép lớn đối với
doanh nghiệp.
1.3.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.
Đây là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động quản trị hệ thống
bán hàng của doanh nghiệp và doanh nghiệp hoàn toàn có thể kiểm soát được
các yếu tố đó.
Thứ nhất là mục đích, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Thông
thường mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp thương mại luôn là lợi nhuận.
Tuy nhiên mục tiêu ngắn hạn lại khác nhau, đó có thể là tối đa hóa lợi nhuận
hay tối đa hóa doanh thu, cũng có thể là mở rộng thị trường hoặc là xây dựng
thương hiệu. Với mỗi mục tiêu quản trị hệ thống bán hàng phải ra những
quyết định phù hợp. Mục tiêu hoạt động của hệ thống bán hàng của Tổng
công ty thương mại Hà Nội trong giai đoạn hiện nay vẫn là xây dựng thương
hiệu, tạo dựng hình ảnh cho hệ thống phân phối, mục tiêu về lợi nhuận vẫn
chưa được đặt lên hàng đầu.
Thứ hai là bản thân cấu trúc của hệ thống bán hàng. Hệ thống bán hàng
cấu trúc theo chiều ngang hay theo chiều dọc, liên kết chặt chẽ hay lỏng lẻo.
Tất cả những điều này đều ảnh hưởng tới khả năng kiểm soát và điều chỉnh hệ
thống bán hàng của nhà quản trị. Hệ thống bán hàng theo chiều ngang hoặc có
liên kết lỏng lẻo sẽ rất khó cho công tác quản trị hệ thống khi muốn kiểm tra
hoặc điều chỉnh hoạt động của từng thành viên vì trong hệ thống này mỗi
thành viên đều hoạt động khá là độc lập với toàn bộ hệ thống bán hàng. Hệ
thống bán hàng của Tổng công ty thương mại Hà Nội được cấu trúc theo kiểu
20

động quản trị hệ thống bán hàng cũng vậy. Ngân sách dành cho quản trị hệ
thống bán hàng có ảnh hưởng hết sức quan trọng quyết định hoạt động quản
trị hệ thống bán hàng có được trang bi hiện đại hay không, có thu hút được
nhân tài không và có đào tạo bồi dưỡng cho họ được hay không.
Chương 2: Thực trạng quản trị hệ thống bán hàng của Tổng
công ty thương mại Hà Nội
2.1. Khái quát chung về tổng công ty thương mại Hà Nội.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Đầu 1999, Công ty SX - DV & XNK Nam Hà Nội – tiền thân của Tổng
công ty Thương mại Hà Nội được thành . Từ đó đến năm 2004, qua 6 năm
hoạt động , Công ty đã trải qua ba lần sáp nhập doanh nghiệp 100% vốn Nhà
nước và ba lần nhận giao vốn Nhà nước tại các Công ty Cổ phần.
Lần thứ nhất– năm 1999: quyết định số 07/QĐ-UB ngày 02/01/1999
của UBND TP Hà Nội nhập chi nhánh Công ty SX – XNK Tổng hợp Hà Nội
tại Thành phố Hồ Chí Minh vào Xí nghiệp phụ tùng xe đạp xe máy Lê Ngọc
Hân và đổi thành Công ty SX-XNK Nam Hà Nội tên giao dịch là Haprosimex
Saigon
Lần thứ hai – năm 2000: Nhập Công ty Dịch vụ ăn uống Bốn mùa theo
quyết định số 6908/QĐ-UB ngày 12/2/2000 của UBND TP Hà Nội và đổi
thành Công ty SX - DV và XNK Nam Hà Nội trực thuộc Sở Thương mại Hà
Nội.
Lần thứ ba– năm 2002: Để triển khai dự án xây dựng xí nghiệp liên
hiệp chế biến thực phẩm Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số
1757/QĐ-UB ngày 20/03/2002 quyết định sáp nhập Xí nghiệp giống cây
22
trồng Toàn Thắng thuộc Công ty giống cây trồng Hà Nội vào Công ty SX –
DV & XNK Nam Hà Nội.
Ba lần Công ty nhận vốn Nhà nước ở các Công ty cổ phần tại các thời
điểm:
- Ngày 10/12/2002 UBND TP Hà Nội ra quyết định số 8513/QĐ-

trước UBND Tp Hà Nội về những nhiệm vụ đó được giao.
- Căn cứ theo chiến lược phát triển ngành Thương mại Thủ đô trong từng
giai đoạn và chỉ tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Tổng công ty mà
UBND thành phố giao thực hiện vai trò lãnh đạo, tập trung, phối hợp và liên
kết hoạt động của các Công ty con.
- Căn cứ theo Điều lệ của Tổng công ty Thương mại Hà Nội, Điều lệ của
các công ty con và các đơn vị phụ thuộc để kiểm tra, giám sát hoạt động sử
dụng vốn, tài sản và việc thực hiện các chính sách, phương thức điều hành
hoạt động sản xuất kinh doanh của các Công ty con theo đúng thẩm quyền và
quy định của pháp luật.
- Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng ngành nghề đó đăng
ký, tập trung vào lĩnh vực chính là kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu và
dịch vụ; sản xuất và chế biến hàng nông, lâm, hải sản, thực phẩm…
- Ngoài ra, Tổng công ty Thương mại Hà Nội cũng thực hiện các chức
năng sản xuất kinh doanh và đầu tư trong các lĩnh vực như: Tài chính, Công
nghiệp, Du lịch, Xuất khẩu lao động, Xây dựng phát triển nhà, đô thị phục vụ
nhiệm vụ phát triển Thương mại và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội
của Thủ đô.
• Lĩnh vực kinh doanh
24
Tổng công ty Thương mại Hà kinh doanh trong các lĩnh vực sau:
- Xuất khẩu
- Nhập khẩu
- Chuỗi cửa hàng Hapro Mart
- Kinh doanh hàng cao cấp
- Kinh doanh hàng miễn thuế
- Kinh doanh bất động sản
- Dịch vụ
- Du lịch
- Sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status