Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT huyện Thanh Trì - Pdf 72

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN:
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các loại hình tín dụng ngân hàng:
2.1.1.1 Khái niệm:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ vay mượn giữa các chủ
thể trong nền kinh tế theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn, có
mục đích và bảo đảm tiền vay. Theo nghĩa nguyên thủy, tín dụng ( credit) là sự tin
tưởng, tín nhiệm mà cho vay mượn các loại vật tư, hàng hóa, tiền tệ. Như vậy, tín
dụng không chỉ là sự vay mượn thông thường mà là sự vay mượn với một mức tín
nhiệm nhất định; tức là khi thực hiện quyền cho vay, người cho vay tin vào khả
năng trả nợ của người đi vay. Hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là một loại quan hệ xã
hội biểu hiện mối liên hệ kinh tế, trước hết là dựa trên cơ sở niềm tin. Đặc điểm cơ
bản của hoạt động tín dụng thể hiện ở sự vận động mang tính hoàn trả của lượng
vốn tín dụng, có nghĩa là sau một thời gian cho vay nhất định người đi vay phải
hoàn trả cả gốc và lãi cho người cho vay. Nói cách khác, hoạt động tín dụng chỉ
thay đổi quyền sử dụng vốn mà không làm thay đổi quyền sở hữu vốn của người
cho vay. Ngày nay, hoạt động tín dụng không chỉ dựa vào cơ sở niềm tin mà còn
được pháp luật bảo vệ nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển ổn định của các
quan hệ tín dụng.
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, các hình thức tín dụng ngày càng đa
dạng và phong phú. Trong đó, tín dụng ngân hàng (TDNH) được xem là hình thức
tín dụng cao nhất của nền kinh tế hàng hóa và giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống tín
dụng. TDNH biểu hiện mối quan hệ bằng tiền và được thực hiện trên cơ sở tự
nguyện, bình đẳng và cùng có lợi giữa một bên là ngân hàng với một bên là phần
còn lại của nền kinh tế. Khái niệm về TDNH ngày càng được mở rộng dưới nhiều
góc độ khác nhau nhưng có thể định nghĩa một cách tổng quát như sau: “ TDNH là
các quan hệ vay mượn vốn tiền tệ phát sinh giữa ngân hàng với các chủ thể khác
trong nền kinh tế, theo nguyên tắc tín dụng”.
Xét về bản chất, TDNH chính là các quan hệ tín dụng được thực hiện bởi
chủ thể là hệ thống các ngân hàng do vậy TDNH mang đầy đủ đặc trưng cơ bản
của hoạt động tín dụng. Các quan hệ TDNH được biểu hiện trên bề mặt là sự

Trong tín dụng ngân hàng, các ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian
tài chính trong quá trình huy động vốn và cho vay vốn.
Ngân hàng hoạt động chủ yếu là dựa vào nguồn vốn huy động được từ nền
kinh tế. Để hoạt động kinh doanh của ngân hàng thực hiện hiệu quả thì cần phải
thực hiện tốt cả 2 hoạt động: huy động vốn và cho vay. Khi huy động vốn ngân
hàng thực hiện vai trò là người đi vay, còn khi ngân hàng thực hiện cấp tín dụng thì
ngân hàng thực hiện vai trò là người cho vay. Ngân hàng đứng ở vị trí trung gian
trong việc phân phối lại nguồn tài chính nhàn rỗi của những người thừa vốn( không
biết đầu tư vào đâu nên nhượng quyền sử dụng vốn cho ngân hàng với một mức lãi
suất nhất định), đến những người có nhu cầu vay vốn. Và người vay vốn cũng phải
trả một mức phí sử dụng vốn để cho ngân hàng trang trải các chi phí huy động vốn
và các chi phí khác. TDNH đã trở thành một cầu nối thuận lợi trong giải quyết nhu
cầu đầu tư của người cho vay và nhu cầu về vốn của người đi vay. Nhờ có TDNH
mà nguồn vốn của nền kinh tế được phân bố lại một cách có hiệu quả; hạn chế
được sự lãng phí các nguồn lực, nạn đầu cơ và sự phát triển của hình thức tín dụng
nặng lãi.
Qúa trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn
phù hợp với quy mô phát triển sản xuất hàng hóa.
Vốn tín dụng ngân hàng tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa. Nhưng
trong nhiều trường hợp vốn tín dụng ngân hàng không tham gia vào quá trình sản
xuất và lưu thông hàng hóa mà chỉ tham gia vào những hoạt động phi sản xuất vật
chất như: cho vay tái chiết khấu hoặc cho vay tái cầm cố các loại công trái quốc
gia, các loại trái khoán của chính phủ. Những trường hợp trên tín dụng ngân hàng
có gia tăng nhưng quy mô sản xuất hàng hóa không tăng. Trường hợp khác sản
xuất hàng hóa tăng nhưng vốn tín dụng không đáp ứng kịp, mâu thuẫn này diễn ra
thường xuyên trong nền kinh tế thị trường. Những trường hợp trên chứng tỏ vận
động tín dụng ngân hàng có sự độc lập tương đối với sự vận động của quá trình tái
sản xuất xã hội.
2.1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng có nhiều loại hay nhiều hình thức khác nhau. Nền kinh

cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ vào bất kì lúc nào, nhưng phải báo trước 1
thời hạn hợp lí, thời gian này có thể được thỏa thuận trong hợp đồng.
Phân loại theo xuất xứ tín dụng:
+Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng
thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng.
+Cho vay gián tiếp: là các khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh
toán.
Các NHTM cho vay gián tiếp theo các loại sau:
- Chiết khấu thương phiếu: người hưởng thụ hối phiếu hoặc lệnh phiếu còn
trong hạn thanh toán có thể nhượng lại cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ cấp cho
khách hàng 1 khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng. Khi
chứng từ đến hạn thanh toán người thụ lệnh hối phiếu hoặc người phát hành lệnh
phiếu có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng.
- Mua các phiếu bán hàng trả góp: Trong điều kiện hiện nay nhiều doanh
nghiệp thực hiện bán hàng hóa theo hình thức trả góp. Tuy nhiên nguồn vốn có hạn
nên cần có nguồn tài trợ của ngân hàng thông qua việc nhượng lại các phiếu bán
hàng trả góp. Định kì người mua sẽ thanh toán tiền cho ngân hàng.
- Nghiệp vụ thanh tín (nghiệp cụ factoring) là nghiệp vụ mua các khoản nợ
thương mại(các khoản phải thu), trong đó bên mua(factor) nhận việc thu nợ và
chấp nhận rủi ro tín dụng.
2.1.1.4 Ưu , nhược điểm của tín dụng ngân hàng:
+ Ưu điểm:
- Về khối lượng tín dụng: tín dụng ngân hàng có khả năng cung ứng những
khoản vốn lớn đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay của khách hàng.
- Về thời hạn tín dụng: thông thường người có vốn muốn cho vay ngằn hạn
hơn là cho vay dài hạn bởi vì thời hạn ngắn thì đồng tiền ít rủi ro hơn và ít tổn thất
về khả năng thanh khoản, nhưng người đi vay thường có nhu cầu vay dài hạn. Còn
ngân hàng có thể “đi vay ngắn hạn để cho vay dài hạn”. Chính nhờ, khả năng
chuyển hóa thời hạn này mà ngân hàng có thể tạo điều kiện cho nhu cầu người tích

hoạch định. Nhờ có TDNH, việc điều hòa hay phân phối lại nguồn vốn từ nơi thừa
đến nơi thiếu có thể được thực hiện 1 cách nhanh chóng kịp thời, tránh hiện tượng
tồn đọng nguồn vốn gây lãng phí cho nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kích thích sản xuất và lưu thông hàng hóa
phát triển.
Bất kì 1 doanh nghiệp SXKD nào cũng có nhu cầu về vốn đầu tư cho quá
trình sản xuất và tái sản xuất phát triển. Chính vì vậy, hiện tượng thừa thiếu vốn
tạm thời là hiện tượng diễn ra thường xuyên tại các doanh nghiệp. Điều đó ảnh
hưởng rất lớn tới quá trình sản xuất; và nếu không chủ động được nguồn vốn kịp
thời sẽ gây mất khả năng thanh toán có thể dẫn tới phá sản đối với từng doanh
nghiệp. TDNH với việc cấp tín dụng thông qua cho vay kịp thời, đã giúp các doanh
nghiệp thỏa mãn nhu cầu về vốn luôn thay đổi, đảm bảo tính liên tục của quá trình
sản xuất kinh doanh, không để tồn đọng vốn trong quá trình luân chuyển. Bên cạnh
đó, vốn tín dụng tạo điều kiện những người muốn đầu tư có được khả năng vay
vốn để đầu tư vào quá trình SXKD tạo thêm sản phẩm, hàng hóa cho nền kinh tế
quốc dân.
Ngày nay. các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh rất cao
đòi hỏi các doanh nghiệp phải cải tiến cơ sở vật chất, mở rộng sản xuất, ứng dụng
công nghệ hiện đại và nâng cao năng lực của máy móc tiến tới giảm giá thành và
nâng cao chất lượng sản phẩm. TDNH góp phần tạo điều kiện cho doanh nghiệp có
thể thực hiện được các dự án đầu tư lớn, tạo ra những bước nhảy vọt về năng lực
do được tiếp cận với máy móc thiết bị hiện đại, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển.
Tín dụng ngân hàng góp phần điều chỉnh, ổn định và tăng trưởng kinh tế.
Xu hướng của các nhà đầu tư hiện nay là đầu tư vào những ngành, lĩnh vực
thu lại lợi nhuận cao đặc biệt là 1 số ngành như công nghệ thông tin, hay chứng
khoán… trong khi đó nền kinh tế đòi hỏi phải có sự phát triển cân đối, đồng bộ
giữa các ngành và các vùng, cần phải có những ngành then chốt, mũi nhọn để tạo
đà cho nền kinh tế phát triển. TDNH đã cung cấp nguồn vốn cho tất cả các thành
phần, các ngành kinh tế và bên cạnh đó còn tham gia vào các chương trình dự án
lớn phát triển kinh tế đất nước. Qua đó nâng cao cơ sở hạ tầng, hình thành các

triển kinh tế. Tận dụng được nguồn vốn vay từ nước ngoài nước ta có điều kiện
nâng cao năng lực sản xuất, tiếp cận trình độ công nghệ hiện đại và kinh nghiệm
quản lí của các nước trên thế giới. Đồng thời mở rộng các quan hệ hợp tác và
khẳng định được vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bởi vì, khi thực hiện cho
vay đặc biệt là cho vay xuyên quốc gia thì cần phải căn cứ vào khả năng trả nợ của
mỗi đất nước do vậy một đất nước có tài chính kém phát triển thì rất khó trong
thực hiện vay vốn nước ngoài.
Xu thế hiện nay là mở rộng quan hệ hợp tác xuyên quốc gia về mọi mặt
trong đó chú trọng về hợp tác về kinh tế và tài chính. Bởi vậy, sự giao lưu hợp tác
quốc tế giữa các ngân hàng là hoạt động không thể thiếu của mỗi quốc gia. Thông
qua hoạt động của các ngân hàng, TDNH thúc đẩy quan hệ hợp tác giao lưu, trao
đổi hàng hóa giữa các nước trên thế giới, mở rộng quan hệ ngoại thương và thu hút
vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
2.1.3 Lãi suất tín dụng:
2.1.3.1 Khái niệm và ý nghĩa của lãi suất tín dụng:
Lãi suất tín dụng (LSTD) là một chỉ tiêu gắn liền với hoạt động của ngân
hàng, của thị trường tài chính và toàn bộ nền kinh tế. Bởi vì, LSTD được hình
thành dựa trên nền tảng cơ bản là lợi tức tín dụng và các cơ sở của nền kinh tế hàng
hóa. Về thực chất, LSTD là sự cụ thể hóa lợi tức tín dụng (LTTD) dưới hình thức
giá trị tương đối; được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa LTTD thu được với tổng
số vốn cho vay của ngân hàng trong một khoảng thời gian xác định. Trong đó,
LTTD là chi phí cơ hội mà người cho vay có được do chuyển nhượng quyền sử
dụng vốn cho người đi vay. Nhìn nhận theo góc độ của ngân hàng thì LTTD là
phần chênh lệch giữa thu nhập đạt được và chi phí mà ngân hàng bỏ ra trong hoạt
động tÝn dông. Do vậy, LSTD hay LTTD đều là một hình thái biểu hiện giá trị sản
phẩm thặng dư của tín dụng. Hơn thế nữa, LSTD còn là công cụ tác động trực tiếp
đến lợi tức tín dụng mà ngân hàng thu được trong tương lai và quyết định của các
nhà đầu tư trong nền kinh tế, vì vậy một sự thay đổi của LSTD có thể gây biến
động lớn tới toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Qua đó, LSTD không những là
thước đo hiệu quả hoạt động của các ngân hàng mà còn là một công cụ đo lường

2.1.3.2. Các loại lãi suất tín dụng:
Nếu căn cứ vào tính chất chỉ đạo của Nhà Nước, lãi suất tín dụng được chia
thành:
+ Lãi suất chỉ đạo: là lãi suất do ngân hàng nhà nươc trung ương công bố
dưới các dạng như lãi suất chiết khấu, lãi suất trần, lãi suất sàn, lãi suất cơ bản…
làm cơ sở để ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho
vay.
- Lãi suất sàn, lãi suất trần là mức lãi suất thấp nhất hoặc cao nhất trong 1
khung lãi suất nào đó, mà ngân hàng trung ương quy định để can thiệp vào hoạt
động tín dụng nhằm bảo vệ quyền lợi của người cho vay hoặc người đi vay.
- Lãi suất cơ bản bao gồm lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và lãi suất liên
ngân hàng.
● Lãi suất tiền gửi là lãi suất mà ngân hàng thương mại trả cho người gửi
trên số tiền ở tài khoản tiền gửi tiết kiệm.
● Lãi suất cho vay được xác định trên cơ sở lãi suất tiền gửi theo tính chất
của khoản vay và thời gian vay vốn.
● Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng cho
nhau vay nhằm giải quyết nhu cầu vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ.
+ Lãi suất kinh doanh: là lãi suất do từng hệ thống nâng hàng thương mại và
các tổ chức tín dụng xác định trên cơ sở lãi suất chỉ đạo của ngân hàng nhà nước.
Nêu căn cứ vào thời gian vay mượn:
+ Lãi suất ngắn hạn.
+ Lãi suất trung hạn.
+ Lãi suất dài hạn.
Nếu căn cứ vào giá trị của tiền tệ:
+ Lãi suất danh nghĩa là lãi suất được xác định cho 1 kì hạn gửi hoặc vay
chưa tính đến sự giảm giá trị của tiền khi có lạm phát.
+ Lãi suất thực là lãi suất được xác định giá trị thực của khoản lãi có tính
đến sự giảm giá trị của tiền.
Nếu phân loại theo tiền vay:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status