ÔN TẬP THI TỐT NGHIỆP LỚP 12
MÔN NGỮ VĂN
I. PHẠM VI KIẾN THỨC
Nội dung kiến thức thi TN THPT 2010 gồm toàn bộ chương trình SGK lớp 12 hiện
hành.
Văn học Việt Nam
- Khái quát VHVN từ sau 1945 (cần lưu ý đặc điểm và những thành tựu chủ yếu).
- Bài khái quát về tác gia (quá trình sáng tác và những nét chính về phong cách)
- Với những tác phẩm cụ thể - cần nhớ chính xác: + Tên tác giả, tác phẩm; + Hoàn cảnh ra
đời; + Tóm tắt chính xác, đầy đủ nội dung (nếu là truyện); + Học thuộc lòng những bài thơ
ngắn, những đoạn thơ tiêu biểu của những bài thơ dài;+ Nhất thiết phải nắm vững giá trị nội
dung và nghệ thuật của từng tác phẩm;+ Biết tập hợp tác phẩm thành từng nhóm để thấy nét
chung và điểm riêng…
Văn học nước ngoài
Mỗi bài học, cần nắm vững : Sơ lược về tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm chính của mỗi tác giả
và giá trị bao trùm tác phẩm / hoặc đoạn trích
Đối với phân môn Làm văn
- Về nghị luận xã hội: Ôn tập 2 dạng bài cơ bản: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị
luận về một hiện tượng đời sống;
- Về nghị luận văn học: Nghị luận vầ tác phẩm/ đoạn trích thơ; tác phẩm hoặc vấn đề văn
xuôi.
II- KĨ NĂNG LÀM KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Để làm tốt bài văn nghị luận văn học, cần lưu ý những điểm sau đây.
Thứ nhất, cần nắm vững đặc trưng của văn nghị luận. Văn nghị luận là kiểu bài phát biểu ý
kiến, bày tỏ nhận thức, đánh giá và thái độ của người viết về một vấn đề nào đó bằng những
luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng cụ thể.
Thứ hai cần hiểu rõ tầm quan trọng và luyện tập thành thục những kĩ năng cơ bản nhất như:
- Kĩ năng đọc và phân tích đề
- Kĩ năng tìm và lập ý
- Kĩ năng diễn đạt, triển khai ý
- Kĩ năng trình bày
lợi ”. Mỗi trích dẫn đều gắn liền với một cuộc cách mạng vĩ đại, có ý nghĩa to lớn với Pháp, Mỹ và
cả hành trình đấu tranh vì quyền sống, quyến tự do cho con người. Ẩn trong từng lời trích dẫn có sự
răn đe, cảnh cáo dã tâm xâm lược của Pháp, Mỹ. Nếu cướp nước ta, họ sẽ chà đạp lên những gì
chính họ từng tuyên bố, từng tự hào và tôn thờ. Những lời lẽ đẹp đẽ, cao thượng kia đã trở thành
đòn giáng kiểu “gậy ông đập lưng ông” khi tác giả phơi bày những hành động “trái hẳn với nhân
đạo và chính nghĩa” của chúng ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã dành một phần lớn bản tuyên ngôn độc lập để phơi bày tầon bộ mặt thật của Pháp
trước dư luận quốc tế vì Pháp là kẻ thù nguy hiểm nhất đang đe doạ nền độc lập mà chúng ta vừa
giành được. Bằng sự tương phản giữa lời lẽ và hành động, Pháp đã không chỉ có tội với nhân dân
Việt Nam mà còn có tội với Đồng Minh và nhân dân thế giới khi chúng đưa ra những luận điệu giả
dối, bịp bợm như “khai hoá văn minh, bảo hộ thuộc địa”. Thực chất, chúng “xây nhà tù nhiều hơn
trường học”, “giữ độc quyền in giấy báo”, “đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý”… Thậm chí còn hai lần
bán nước ta cho Nhật. Đoạn văn giáng một bản cáo trạng đanh thép vạch trần bộ mặt thật của thực
dân Pháp. Chúng đã gây bao nhiêu tội ác nên không thể có một vai trò chính trị nào trên mảnh đất
này.
Không chỉ đập tan âm mưu cướp nước của kẻ thù, bản “Tuyên ngôn độc lập” còn tuyên bố với toàn
thể nhân dân thế giới sự ra đời của một nước Việt Nam độc lập, tự do.
“Một dân tộc đã có gan góc chống ách đô hộ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc
đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc ấy phải được tự do. Dân tộc ấy phải
được độc lập”. Lời tuyên bố ngắn gọn, hàm súc đã thể hiện toàn bộ tinh thần của bản Tuyên ngôn
độc lập. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc
lập”. Hồ Chí Minh khẳng định quyền độc lập của nước Việt Nam là sự thật hiển nhiên không ai có
thể phủ nhận được. Vì dân tộc ấy cũng như các dân tộc khác trên thế giới, có quyền được “tự do,
bình đẳng về quyền lợi”. Hơn thế nữa, họ đã anh dũng hoàn thành hai cuộc cách mạng dân chủ
“Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”
2
Cuối cùng bản Tuyên ngôn độc lập là lời khẳng định ý chí sắt đá của toàn thể dân tộc Việt Nam
quyết tâm bảo vệ đến cùng nền độc lập vừa giành được. “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất
cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do, độc lập ấy”. Có thể coi đây là
lời kêu gọi, cổ vũ tinh thần chiến đấu, lời thề giữ nước của nhân dân Việt Nam. Lời tuyên bố bộc lộ
trích dẫn của Pháp và Mỹ chỉ nêu lên vấn đề quyền con người với tư cách cá nhân. Vậy mà chỉ bằng
một cụm từ chuyển tiếp “suy rộng ra”, Hồ Chí Minh đã khéo léo nâng lên thành quyền tự quyết của
các dân tộc. Theo cách đánh giá của một số nhà nghiên cứu nước ngoài, Hồ Chí Minh khi nêu vấn
đề quyền tự quyết của các dân tộc đã góp phần thiết lập một trật tự pháp lý mới dựa trên sự tôn
trọng quyền tự quyết và chủ quyết của các dân tộc. Không chỉ nêu lên, Người còn khẳng định và
bảo vệ chân lý ấy bằng những hàng rào bất khả xâm phạm. Người mở đầu bằng lẽ phải trong bản
tuyên ngôn của nước Mỹ, kết thúc bằng chân lý trong bản tuyên ngôn nước Pháp; và giữa hai chân
lý ấy là ý kiến mới của Hồ Chí Minh. Lời khẳng định trong câu văn cuối cùng một lần nữa nhấn
mạnh sự vững chắc không gì lay chuyển được của ba chân lý ấy. “Đó là những lý lẽ không ai có thể
chối cãi được”. Chính hệ thống lập luận sắc sảo, chặt chẽ đã giúp nhà văn tạo dựng cơ sở pháp lý,
thực tiễn vững chắc để khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Nhưng nói về phong cách văn chính luận của Hồ Chí Minh, sẽ là một thiếu sót nếu bỏ quên ngôn
ngữ và giọng điệu truyền cảm của Người. Ngôn ngữ của Tuyên ngôn độc lập là ngôn ngữ kết hợp
hài hoà giữa tình cảm và lý trí, giữa chính luận và nghệ thuật. Ta bắt gặp ở đây những câu văn viết
3
bằng lý trí sắc sảo, nhưng cũng thấy được tấm lòng của Hồ Chí Minh với vấn đè hệ trọng của Tổ
quốc, vận mệnh của đồng bào. Khi thì Người đau xót, căm thù nói về tội ác của Pháp “Từ đó, dân ta
càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ,
hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Khi thì Người tự hào rắn rỏi kiên quyết nói về sức vùng dậy
của đồng bào ta, ý chí, niềm vui và độc lập dân tộc. “Chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt
Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ
hết những hiệp ước mà Pháp đã ký với nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên
đất nước Việt Nam”. Khi thì lại lịch sự, mềm mỏng “Chúng tôi tin rằng” nhưng ràng buộc, kiên
quyết, đòi hỏi: “đã công nhận”, “quyết không thể không công nhận” để tranh thủ sự đồng tình, ủng
hộ của nhân dân thế giới.
Có thể nói, trong cả bản Tuyên ngôn độc lập, ta bắt gặp sự đa dạng, biến đổi linh hoạt theo từng
đối tượng của giọng điệu. Điều này bắt nguồn từ nhiệt huyết yêu nước của người chiến sĩ cộng sản
vĩ đại Hồ Chí Minh. người đã dồn vào bản tuyên ngôn tất cả sức mạnh của lòng yêu nước, căm thù
giặc, niềm tự hào dân tộc… Đó là lý do vì sao Người đã từng tâm sự rằng “những ngày viết Tuyên
ngôn độc lập là những giây phút hạnh phúc nhất của đời tôi”.
thời đã ảnh hưởng đến Nguyễn Tuân.
4
Bn thõn Nguyn Tuõn l mụt ngi ti hoa. Cỏ tớnh mnh m, ụng ch trng khng nh bn
sc cỏ nhõn mt cỏch cao . Nguyn Tuõn am hiu nhiu lnh vc ngh thut ( hi ha, in nh,
iờu khc)
Nguyn Tuõn yờu t nc theo mt cỏch riờng, ụng trõn trng giỏ tr vn hoỏ, truyn thng ca
dõn tc v yờu ting m . i vi ngh vn , ụng c bit quý trng .
2) S nghip
Trc cỏch mng : Sỏng tỏc ca Nguyn Tuõn xoay quanh 3 mng ti ln :
+ Ch ngha xờ dch : l tro lu t phng tõy, ch trng i lang thang chy trn cuc i phn
ỏnh tõm trng chỏn chng tht vng .
+ i sng tru lc : Tỡm nhng thỳ vui tm thng tha hoỏ con ngi cng bc l tõm trng b
tc.
+ Vang búng mt thi : Vit v v p ca quỏ kh : Thỳ vui thanh nhó nhng ngi ti hoa . ễng
ca ngi v p quỏ kh ph nh thc ti tm thng . Tp truyn mang li thnh cụng ln nht
trờn chng ng sỏng tỏc ny .
Sau cỏch mng:
+ Cỏch mng ó hi sinh cho Nguyn Tuõn. ễng ho hng nhp vo cuc sng mi .
+ Tỏc phm c m rng vi nhng ti mi: Chin u , lao ng , xõy dng t nc.
Cõu 4
Nguyễn Tuân mở đầu tuỳ bút Ng ời lái đò Sông Đà bằng hai lời đề từ. Giải thích và cho biết
ý nghĩa của hai lời đề từ đó đối với việc định hớng tiếp nhận tác phẩm?
Gợi ý trả lời
Trong sáng tác văn chơng, nhiều khi các tác giả thờng dùng lời đề từ cho tác phẩm của mình. Có
tác giả dùng thơ nh Xuân Diệu (trong Toả nhị Kiều), Chế Lan Viên (Tiếng hát con tàu); có tác giả
dùng lời văn của mình nh Thế Lữ (Nhớ rừng), Nguyễn ái Quốc (Vi hành) Lời đề từ th ờng ngắn
gọn và thể hiện một ý tởng nào đó của tác giả muốn gửi tới ngời đọc.
Nguyễn Tuân đã mở đầu tuỳ bút Ngời lái đò Sông Đà bằng hai lời đề từ là Đẹp vậy thay, tiếng
hát trên dòng sông và Chúng thuỷ giai đông tẩu - Đà giang độc bắc l u .
Với lời đề từ Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông , tác giả nhấn mạnh vẻ đẹp của tiếng hát,
ở những đoạn này, bằng việc vận dụng linh hoạt các phép so sánh, nhân hoá, cũng nh tri thức của
nhiều ngành văn hoá nghệ thuật nh điện ảnh, võ thuật, quân sự, Nguyễn Tuân đã khiến con sông
Đà sống dậy với tất cả sức mạnh, thần thái của nó, làm cho ngời đọc nh đang đợc đứng trớc dòng
sông thực.
Có thể nói, mọi hình ảnh thị giác, thính giác đều làm nổi bật vẻ hùng vĩ, dữ dội của dòng sông.
Trong đó, hình ảnh xoáy hút là độc đáo hơn cả vì nó đợc đặc tả bằng kĩ thuật phim ảnh: Tôi sợ hãi
mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng
cảm ngồi vào một chiếc thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền, cả mình, cả máy quay xuống đáy
cái hút sông Đà- từ đáy cái hút nhìn ngợc lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nớc
cao dến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xoay tít, những thớc phim màu cũng quay tít Có thể
nói, thủ pháp montage đặc trng cho điện ảnh đợc Nguyễn Tuân huy động để tả một khung cảnh có
sự lắp ghép của nhiều sự vật vốn cách xa nhau. Xoáy hút sông Đà- giếng bê tông cánh quạ đàn -
ôtô sang số nhấn ga anh quay phim đợc lắp ghép nhờ thủ pháp montage để miêu tả cảnh ghê sợ
của xoáy hút sông Đà- đoạn Tà Mờng Vát phía dới Sơn La.
Có thể nói, khi miêu tả vẻ hung bạo của sông Đà, có lẽ cha có nhà văn nào công phu nh Nguyễn
Tuân. Qua ngòi bút đầy uyên bác của tác giả, ta không chỉ thấy cảnh thác nớc, bờ đá, xoáy hút đều
hiện lên hết sức cụ thể, sinh động, tất cả đều đang nh gầm gào khủng khiếp mà ta còn đợc hiểu thêm
về nghệ thuật âm nhạc và điện ảnh cùng những kiến thức về địa lí, lịch sử nữa!
Bên cạnh nét dữ dội hung bạo thì có những quãng sông Đà lại hiện lên với những nét trữ tình
duyên dáng, đầy chất thơ, đẹp nh một mĩ nhân và gần gũi nh một cố nhân. Đó là khung cảnh
mặt nớc nơi những quãng sông trải qua khung cảnh những triền sông im vắng, tĩnh lặng. Để miêu tả
vẻ trữ tình này, Nguyễn Tuân đã sử dụng ngôn từ của hội họa, điện ảnh, giọng văn đẫm chất thơ,
những so sánh liên tởng đầy bất ngờ thú vị và lựa chọn những điểm nhìn khác nhau. Có lúc
Nguyễn Tuân nhân hoá khiến con sông nh có tâm hồn, biết nhớ thơng những hòn đá thác xa xôi
nh lắng nghe những giọng nói êm êm của ngời xuôi.
Nguyễn Tuân cũng vô cùng cao hứng khi chiêm ngỡng tính cách trữ tình, thơ mộng. Ông miêu tả
sông Đà từ góc nhìn cận cảnh, viễn cảnh Lúc ở trên cao, từ trên máy bay nhìn xuống, dòng sông
nh một sợi dây thừng ngoằn ngoèo. Khi độ cao hạ thấp dần, bức tranh toàn cảnh sông Đà hiện ra,
từng nét sông tãi ra trên đại dơng đá lờ lờ bóng mây. Rồi Con sông Đà tuôn dài tuôn dài nh một
áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng
cách tự do.
Điểm cuối cùng trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân đợc thể hiện ở việc sử dụng và sáng
tạo ngôn ngữ. Ông đợc mện danh là nhà luyện đan ngôn từ, ông lái đò chữ nghĩa.
Những nét phong cách này đợc thể hiện khá đầy đủ trong thiên tuỳ bút Ngời lái đò Sông Đà. Có
thể tìm hiểu ở những khía cạnh sau đây:
- Việc lựa chọn sông Đà làm đối tợng miêu tả và thể hiện.(Bài tuỳ bút này là sự gặp gỡ kì thú
giữa một cái tôi phóng túng và một đối tợng độc đáo)
- Sông Đà đợc cảm nhận và miêu tả nh một công trình nghệ thuật tuyệt vời của Tạo hoá; ngời
lái đò đợc nhìn nh một nghệ sĩ tài hoa.
- Trong khi miểu tả, nhà văn dùng tri thức của lịch sử, địa lý, quân sự, võ thuật, điện ảnh, âm
nhạc, thơ ca
- Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ : dùng từ độc đáo, so sánh độc đáo, những câu văn dài nhiều
vế, những liên tởng bất ngờ
7
Chính nhờ phong cách độc đáo ấy mà Ngời lái đò Sông Đà trở thành một thiên tuỳ bút có sức
hấp dẫn và cuốn hút đặc biệt.
C õ u 7
Nờu hon cnh sỏng tỏc v cm hng ch o ca truyn ngn V chng A Ph
Gi ý tr li
Nm 1952,Tụ Hoi tham gia chin dch Tõy Bc. Nh th ó cú dp i sõu vo cỏc khu di tớch ca
ng bo dõn tc trờn min nỳi cao. Nh vn ó cú ln tõm s: t nc v con ngi min Tõy
ó thng, nh cho tụi nhiu quỏ. Tụi khụng bao gi quờn Hỡnh nh Tõy Bc au thng
m dng cm lỳc no cng thnh nột thnh ngi,thnh vic trong tõm hn tụi. Vỡ th tụi ó vit
Truyn Tõy Bc . Nh vy l Truyn Tõy Bc ó ra i t tỡnh cm thm thit,sõu nng ca
nh vn i vi cnh v con ngi Tõy Bc. Tp truyn ny c tng gii nht ca hi vn ngh
Vit Nam nm 1954-1955. V chng A Ph l truyn thnh cụng nht trong tp Truyn Tõy
Bc v cng l mt trong s nhng truyn ngn xut sc nht ca vn xuụi Vit Nam giai on
khỏng chin chng Phỏp.
Tỏc phm l bc tranh chõn thc v s phn bi thm ca ngi dõn nghốo min nỳi di ỏp bc ca
bn thc dõn phong kin v l mt bi ca v sc sng v khỏt vng hnh phỳc mónh lit ca con
Nhưng ngay trong những nỗi đau đớn, khát vọng sống của Mị vẫn không lụi tắt. Tác giả đã để cho
không khí mùa xuân và những đêm tình ở Hồng Ngài làm thức tỉnh tâm hồn cô. Đặc biệt, tiếng sáo
yêu thương đã giúp tâm hồn Mị hồi sinh. Người đàn bà từng câm lặng không nghĩ gì giờ đây đang
hát theo lời của người thổi sáo, nhớ lại “ngày trước Mị thổi sáo giỏi…”. Bao nhiêu kỉ niệm ngày
xưa ùa về. Có thể thấy rằng bao nhiêu cay đắng tủi nhúc đã không thể chôn vùi được khát vọng
sống thiết tha mãnh liệt để giờ đây nó giúp cô sống lại với những cảm xúc ngày nào. Đỉnh cao của
sự hồi sinh là quyết định đi chơi của Mị. Cô như biến thành một con người khác. “Mị muốn đi chơi,
Mị cũng sắp đi chơi”. Đó là khát vọng hạnh phúc của cô. Khát vọng đó mãnh liệt tới mức khi bị A
Sử trói, Mị “không biết mình bị trói”. Có thể nói, đây là bằng chứng cho một sức sống tiềm ẩn trong
tâm hồn của cô gái bị nếm trải đau khổ vẫn thiết tha muốn sống hạnh phúc.
Nhưng kể từ cái đêm bị trói, Mị chìm vào cái chết tinh thần còn nặng nề hơn. Sự tê liệt và chai sạn
của tâm hồn Mị còn đáng sợ hơn lần trước. Mị dửng dưng với chình mình. Có hôm A Sử thấy Mị
sưởi bếp, A Sử đánh Mị, hôm sau Mị vẫn ngồi sưởi lửa. Mị cũng hoàn toàn vô cảm với mọi sự xung
quanh. Nhìn thấy A Phủ bị trói, Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay. “A Phủ có là cái xác đứng đấy
cũng thế thôi”. Qua đó, ta thấy hiện lên một cô Mị không còn sức sống, chỉ như cái xác vật vờ bên
bếp lửa.
Nếu sự hối sinh trong đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài được khơi dậy bằng tiếng sáo gọi bạn tình
thì ở đây, chính “một dòng nước mắt lấp lánh” đã đập mạnh vào trái tim tưởng chừng đã chết hẳn
của Mị và làm sống dậy trong tâm hồn cô biết bao nhiêu cảm xúc.
Lần đầu tiên sau rất nhiều năm tháng, Mị lại biết thương mình “Mị nhớ lại đêm năm trước, A Sử
trói Mị…Nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không lau đi được”. Đó là cảm giác uất hận của
thân phận nô lệ bị tước đoạt đến cả quyền lau nước mắt. Từ chỗ thương mình, Mị thương cả người
đàn bà bị trói đến chết ở nhà này và thương cả A Phủ. Trong trái tim Mị còn có cả lòng căm thù và
phẫn nộ đối với bọn nhà giàu. Để rồi sống dậy trong tâm hồn cô là mối đồng cảm sâu sắc với A
Phủ. “Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Bởi vì Mị thấu
hiểu nỗi đau mà A Phủ phải trải qua cho nên Mị bất bình thay cho A Phủ “Ta là thân đàn bà, nó đã
bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi, người kia việc gì phải
chết”. Dòng cảm xúc ấy là bao nhiêu xót xa căm thù uất hận đã giúp cô đủ can đảm để không thấy
sợ cha con thống lý Pá tra. Nó đã giúp cô hình thành nên hành động bất ngờ cắt dây cởi trói cứu A
Phủ. Chính lòng ham sống mãnh liệt đã giúp cô vượt lên nỗi sợ thần quyền để cứu chính mình chạy
Bên cạnh nhân vật Mị thì số phận của A Phủ cũng rất tiêu biểu cho những nỗi khổ đau bất hạnh
của những người lao động vùng cao. Anb không chỉ bị sống cô đơn nghèo khổ mà còn bị áp bức
bóc lột tàn tệ. Chỉ vì đánh nhau với con nhà quan mà A Phủ bị đẩy vào kiếp nô lệ và gánh lấy
những công việc nguy hiểm , nặng nhọc “Đốt rừng , cày nương , cuốc nương , săn bò tót , bẫy hổ ,
chăn ngựa , quanh năm một thân một mìng bôn ba ngoài gò , ngoài rừng ”. Không chỉ vậy tính
mạng của A Phủ cũng nằm trong tay thống lí. Anh có thừa sức mạnh và lòng can đảm nhưng lại
chịu nhẫn nhục chết trên cây cột trói người . Anh có thừa khéo léo và chăm chỉ nhưng lại sống kiếp
nô lệ.
Nhìn ở góc độ khác thì thái độ này của nhà văn cũng là một cách để ông bày tỏ sự phẫn nộ
trước những thế lực tàn bạo. Đó là cha con thống lí. Chúng không chỉ đày đọa Mị , bắt Mị sống
trong như kẻ tôi đòi , như con vật mà còn hủy hoại cuộc sống tinh thần Mị , dập tắt mọi nguyện
vọng của Mị.
A Phủ trói Mị không cho Mị đi chơi trong đêm hội mùa xuân, đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp
khi Mị sưởi lửa. Còn A Phủ bị đánh đập dã man như thời Trung Cổ “ Người thì đánh , người thì quì
lạy , kể lể , chửi bới. Xong một lượt đánh , kể , chửi lại hút… Cứ như thế suốt chiều , suốt đêm ,
càng hút , càng tỉnh , càng đánh , càng chửi , càng hút ”. Và A Phủ bị biến thành thứ nô lệ truyền
kiếp “Đời mày , đời con , đời cháu mày , tao cũng bắt thế , bao giờ hết nợ mới thôi ”. Có lẽ chưa ở
đâu sinh mạng con người bị coi rẻ như thế , con người bị chà đạp bóc lột tàn tệ đến vậy.
Cùng với việc khám phá nỗi tủi nhục của người dân vùng cao Tô Hoài còn khẳng định khát
vọng muốn được sống , muốn được hưởng hạnh phúc của họ. Khát vọng ấy ẩn chứa trong những
giọt nước mắt uất hận , phẫn nộ của A Phủ , nắm lá ngón đầy tủi hờn của Mị. Nó xuất hiện trong
nội tâm Mị trong đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài. Nó mang đến cho Mị nguồn sức sống khiến Mị
nhớ lại những hồi ức tươi đẹp của cuộc đời và lại khao khát sống một cuộc sống có ý nghĩa . Cô
muốn quyền sống , quyền hưởng hạnh phúc , cô muốn đi chơi Tết , muốn thoát khỏi kiếp sống nô
lệ. Còn A Phủ dẫu bị ném vào cuộc sống nô lệ cũng không mất đi tinh thần phản kháng. Nguồn sức
mạnh tinh thần ấy đã giúp A Phủ chống chọi được với cái đau , cái đói , cái rét để sống trên cây cột
trói người. Đỉnh cao của khát vọng sống ấy là hành động cắt dây trói của Mị cho A Phủ. Khao khát
đó khiến Mị tràn ngập lòng thương A Phủ . Và khát vọng tự do khiến khi được Mị cắt dây trói , A
Phủ đã khuỵu xuống lại quật sức vùng lên chạy trốn. Lúc đầu Mị không có ý định chạy trốn với A
Phủ vì còn sợ con ma nhà thống lí nhưng lòng tham sống mãnh liệt đã giúp cô vượt lên nỗi sợ thần
ta thấy đợc số phận bi thảm của ngời phụ nữ nói riêng, ngời đàn bà nói chung trong xã hội cũ. Tựa
đề này là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sức hấp dẫn lôi cuốn của tác phẩm.
* Tóm tắt truyện ngắn Vợ nhặt
Truyện kể về cuộc sống thê thảm của ngời nông dân ở một xóm ngụ c sau Cách mạng tháng Tám,
đặc biệt là một gia đình Tràng. ở đây không khí u ám, chết chóc bao trùm khắp nơi. Thế mà giữa
thời buổi đói khát ấy, Tràng lại dám lấy vợ. Đây là một truyện bất ngờ với tất cả mọi ngời và với
chính Tràng. Trong một lần đi chở gạo, Tràng vờ chọc ghẹo một cô gái và họ trở thành vợ chồng
thật. ý thức về việc có vợ đã biến Tràng từ một ngời ngờ nghệch thành một ngời biết quan tâm, chăm
sóc đến ngời khác. Anh sung sớng đến ngỡ ngàng, thấy thơng yêu và gắn bó với cái nhà của mình
lạ lùng. Ngời vợ nhặt cũng không còn chỏn lỏn, chua chát mà trở thành một nàng dâu hiền hậu, ý
nhị. Đặc biệt là bà cụ Tứ từ chỗ tràn ngập xót xa, tủi hờn cho các con và cho chính mình, đã nhẹ
nhõm, tơi tỉnh khác hẳn ngày thờng và rạng rỡ hẳn lên. Tuy nghèo khổ nhng cả ba ngời đều khát
khao hạnh phúc và tin tởng vào một tơng lai tơi sáng. Câu chuyện kết thúc bằng hình ảnh nắng buổi
sớm mùa hè sáng loá và hình ảnh lá cờ đỏ bay phấp phới. Chính vì thế vợ nhặt đã đem lại cho ngời
đọc niềm tin, niềm lạc quan ở cuộc sống và con ngời ngay trong cảnh khốn cùng.
C õ u 11
Phõn tớch tỡnh hung truyn trong V nht.
Gi ý tr li
T khi cũn l mt nh vn hin thc phờ phỏn cho n khi tr thnh mt nh vn cỏch mng, Kim
Lõn vn c bit n l mt cõy bỳt cú ti vit truyn ngn. ễng am hiu rt sõu sc cuc sng ca
nụng thụn v ngi dõn quờ Vit Nam. Nhc n nhng tỏc phm vit v nụng thụn ca Kim Lõn
11
không thể không kể đến “Vợ nhặt”- một truyện ngắn xuất sắc của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại.
Không chỉ bằng lối viết chân thực, giản dị, tự nhiên, mang đâm hơi thở của cuộc sống đời thường
mà bằng cả nghệ thuật xây dựng tình huống truyện đặc sắc, Kim Lân đã làm nên thành công cho
thiên truyện và mang đến cho người đọc nhiều ấn tượng mạnh mẽ.
Trong thể loại truyện ngắn, tình huống truyện có tác dụng góp phần thể hiện rõ đặc điểm tính cách
của nhân vật, Làm sang tỏ tư tưởng chủ đề của tác phẩm và tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn người
đọc.
Trong “Vợ nhặt”, tình huống truyện xoay quanh nhân vật Tràng và việc nhặt vợ của anh giữa
người đàn bà đi bên. Một cái nhìn mới mẻ lạ lắm…Nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt…” tuy nhiên
trong niềm vui anh vẫn chợn hiện lên nỗi lo vì nghĩ rằng “thóc gạo này đến cái than mình chả biết
có nuôi nổi không lại còn đèo bòng.”
Và người thấu hiểu tất cả là bà cụ Tứ. Bà cụ mừng cho con mà cũng tủi cho con, mừng cho dâu và
cũng tủi khi mình không lo nổi vợ cho con, xót xa. Bà cụ mừng vì con trai mình đã có vợ song lại lo
cho cuộc sống mấy ngày sắp tới: “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát
này không.” Đối với người vợ nhặt, Thị về với Tràng trong tâm trạng trĩu nặng. Trên đường về,
Thị lằng lẽ không nói gì “hai con mắt tư lự”. Khi nhìn thấy cái nhà của Tràng “vắng teo, đứng rúm
ró trên mảnh vườn moc lổn nhổn những bụi cỏ dại” thì “cái ngực gầy lép của Thị nhô hẳn lên, nén
12
một tiếng thở dài”. Nhưng dù sao, Thị cũng đã có một gia đình để gắn bó, yêu thương. Đặc biệt, cái
hạnh phúc tội nghiệp, cái niềm vui có vợ của Tràng cứ như bị nhấn chìm xuống bởi tiếng khóc hộ
người chết từ xa vọng tới trong cái đêm đầu tiên của vợ chồng Tràng. Và cái hạnh phúc ấy càng tội
nghiệp hơn khi bữa cơm đầu tiên đón người vợ mới là vài bát cháo loãng là những miếng cám đắng
chát nghẹn bứ trong cổ.
Chuyện Tràng có vợ đã diễn ra trong một tình huống độc đáo và hấp dẫn. Qua câu chuyện có vợ
của Tràng, Kim Lân đã phản ánh cuộc sống thê thảm của người dân lao động trước cách mạng: ranh
giới giữa sự sống và cái chết là vô cùng mong manh, giá trị con người trở nên rẻ rúng, bèo bọt. Cái
đói khổ đã đẩy lùi nhân cách sĩ diện của con người, vợ nhặt khiến Thj bám riết lấy Tràng. Người
con gái này làm quen với Tràng qua một câu chuyện tầm phào giữa chợ và vài bát bánh đúc, một
câu nói đùa. Với xóm ngụ cư, người con gái này là “cái của nợ đời”. Với bà cụ Tứ Thị là một cái
“miệng ăn”. Với Tràng Thị là món nợ “đèo bòng”.
Những trang viết của Kim Lân còn có ý nghĩa lên án, tố cáo xã hội đương thời đã đầy đoạ con
người vào cảnh sống khốn cùng tội nghiệp.
Nhưng cái đáng chú ý là từ cái bong tối của hoàn cảnh, Kim Lân đã làm sáng lên những cái nét
đẹp đáng trân trọng trong tâm hồn người lao động. Đó là khát vọng sống mãnh liệt và khát khao
hạnh phúc, dù trong hoàn cảnh sống tối tăm thế nào, họ vẫn luôn thương yêu, đùm bọc nhau, họ vẫn
luôn tin tưởng vào tương lai, tin vào những điều tốt đẹp đang chờ mình phía trước.
Có thể nói, tình huống chuyện mà Kim Lân tạo dựng vừa mang lại sức cuốn hút cho cốt chuyện,
vừa bộc lộ được các lớp chủ đề của tác phẩm là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo và đã thể hiện
chật vật cho cuộc sống vẫn ngày ngày đè nặng lên tấm lưng của Tràng
Sống trong cái không gian tăm tối của sự đói khát ấy dễ khiến cho con người ta trở nên tuyệt
vọng. vậy mà qua ngòi bút của kim Lân, người đọc lại trấy được niềm tin vào cuộc sống và sự lạc
quan khi nghĩ về tương lai của chính những con người đói khổ ấy. Dù cho “Cái đói đã tràn đến xóm
này từ lúc nào”, Tràng vẫn đèo bòng thêm một cô vợ trong khi anh không biết cuộc đời phía trước
mình ra sao. Hành động ấy bắt nguồn từ niềm khát khao hạnh phúc của một con người, bất chấp cái
đói cái chết đang lơ lửng trên đầu vẫn thiết tha muốn có một tổ ấm. Nguồn sáng đẹp đẽ của những
khát vọng ấy toát lên từ sự biến đổi kì diieụ trong con người Tràng kể từ lúc anh nhặt được vợ. Sự
kiện ấy làm bừng lên trong trái tim anh nông dân nghèo khổ những cảm xúc ngọt ngào trước đó
chưa từng có. Nó khiến Tràng quên hết cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát
ghê gớm đang đe doạ”. Khát khao được sống như một con người có tổ ấm , có hạnh phúc tiềm ẩn
trong tâm hồn Tràng càng được bbọc lộ rõ hơn khi anh tỉnh dậy trong căn nhà váo sáng hôm sau.
Quang cảnh ngôi nhà xiêu vẹo hàng ngày dường như trở nên mới mẻ, sáng sủa lạ thường. Mỗi âm
thanh, mỗi hình ảnh đều như nói với Tràng về một niềm hạnh phúc lớn lao. Còn đối với bà cụ Tứ,
sự kiện Tràng nhặt được vợ đã đem đến cho bà rất nhiều cảm xúc khác nhau. Ban đầu là sự ngỡ
ngàng, rồi đến nỗi tủi nhục khi không có tiền cưới vợ cho con một cách đàng hoàng, tử tế. Song vào
buổi sáng ngày hôm sau, bà vẫn tất tả chuẩn bị bữa cơm đón cô con dâu mới. Trong bữa cơm thảm
hại của ngày đói, người mẹ già nua ấy vẫn nói toàn những chuyện vui, chuyện sung sướng về sau.
Qua cái nhìn của bà, một góc chái bếp nhỏ hẹp cũng có thể biến thành gian chuồng gà vững chắc
“chả mấy chốc có ngay đàn gà cho mà xem”. Tưởng như bà đã nhìn thấy trước cái quang cảnh một
cuộc sống ấm no, sung túc, mọi thứ sinh sôi nảy nở trước mắt mình. Câu nói kia chứng tỏ bà cụ
không tuyệt vọng, vẫn tự tin ở cuộc sống, ở tương lai. Đó cũng là cácg bà nâng đỡ hai vợ chồng
Tràng. Bằng gương mặt rạng rỡ và những câu nói vui vẻ, bà cụ đã xua đi nỗi ám ảnh về cái đói, cái
chết đang bao phủ xung quanh.Và cũng chính những lời nói ấy của bà cụ đã giúp xua đi nỗi tủi
nhục của người con dâu nhặt được, giúp thị có được sự yên ả trong tâm hồn, để có thể sống một
cuộc sống vui vẻ bên tràng và người mẹ chồng nhân hậu. Có thể nói sự xuất hiện của thị đã làm
thay đổi cuộc sống của xóm ngụ cư nghèo nàn, tăm tối ấy, đã làm cho những khuôn mặt hốc hác, u
tối của mọi người rạng rỡ hẳn lên. Từ con người chao chát chảnh lỏn, thị bỗng trở thành cô vợ hiền
thục đảm đang. Có lẽ chính tình người, tình thương yêu đã khiến thị biến đổi như vậy. Thị xuất hiện
không tên tuổi, quê quán, trong điệu bộ thật thảm hại, nhưng chính thị lại là người gieo mầm sống
sôi nổi , tâm tình , giàu cảm xúc, thể hiện ở cái nhìn tươi sáng , lạc quan khi đối diện với hiện tại
của đất nước còn đang thiếu thốn, khó khăn và gian khổ.
Thơ ông còn rất giàu tính dân tộc. Điều đó được thể hiện ở giọng điệu ngọt ngào, ân tình , sâu
lắng , với những hình thức thể loại, ngôn ngữ và cách biểu đạt , so sánh ví von… rất gần gũi với
tâm hồn người Việt Nam . Đặc biệt thơ Tố Hữu rất giàu nhạc điệu, ông đã khai thác triệt để sự phối
thanh, gieo vần tạo nên chất nhạc riêng cho thơ. Tố Hữu đã hình thành cho mình một phong
cách lớn vừa thống nhất vừa đa dạng , góp phần đắc lực trong nền thơ cách mạng. Ông xứng đáng
với danh hiệu nhà thơ trữ tình chính trị lớn nhất Việt Nam thế kỉ XX.
Câu 14
Bình giảng đoạn thơ:
“ Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rứng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung ”
(Việt Bắc - Tố Hữu)
Gợi ý trả lời
Trong nền thơ hiện đại, Tố Hữu chiếm một vị trí đặc biệt. Ông là nhà thơ trữ tình chính trị số
một - một người đã đưa thơ chính trị “ lên trình độ thơ rất đỗi trữ tình ”(Xuân Diêu) . Tiêu biểu cho
phong cách nghệ thuật độc đáo ấy là Việt Bắc. Trong đó có những đoạn thơ rất đặc sắc giúp cho
người đọc thấy được vẻ đẹp của ngòi bút Tố Hữu.
“ Ta về mình có nhớ ta
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung ”
15
ngoài của khung cảnh thiên nhiên mà còn gợi ra sự chuyển động bên trong của vạn vật
Đẹp nhất trong bức tranh này vẫn là cảnh mùa hè:
“ Ve kêu rừng phách đổ vàng ”
“ Vàng ” là màu sắc để miêu tả thu. Ở đây Tố Hữu lại dùng nó để tô đậm thêm vẻ đẹp của núi
rừng Việt Bắc. Khi hè sang , rừng phách lại đột ngột thay đổi sắc màu ngả sang màu vàng lộng lẫy.
Tác giả đã dùng từ “ đổ ” chứ không phải là “ chuyển ” , giống như một điều gì đó bình thường, là
chuyện đương nhiên lúc nào cũng vậy không bao giờ thu được cái nhìn của người đọc vào khung
cảnh , chỉ gợi được một chút gì đó rất thoáng qua không có cảm giác thực.
Bức tranh mùa hè tươi sáng rực rỡ bao nhiêu thì thu đến lại êm đềm, thanh dịu bấy nhiêu . Đêm
trong “ Việt Bắc ” hiện ra không rùng rợn như trong “ Tây tiến ” mà chìm trong ánh trăng êm dịu
,trong trẻo , thanh bình. Ánh trăng rọi sáng không gian và hòa trong tiếng hát.
Bốn câu thơ là bốn bức tranh phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp của núi rừng Việt Bắc. Thiên
nhiên Việt Bắc không hề hoang sơ , u ám ngược lại còn rất trong trẻo , tươi sáng , sinh động trong
các không gian thời gian khác nhau ( sương sớm, nắng chiều, trăng khuya ) , với vẻ đẹp đầy sức
sống Hoài Thanh đã từng nhận xét “ những câu thơ của Tố Hữu viết về thiên nhiên trong Tây Bắc
có thể so sánh với bất kì đoạn thơ miêu tả thiên nhiên nào trong văn học cổ điển ” . Nhìn lại những
dòng thơ này ta không khỏi ngạc nhiên trước những bức tranh có đường nét tươi tắn, dù rằng tất cả
16
chỉ hiện về trong nỗi nhớ. Điều đó chứng tỏ trong tầm hồn nguời ra đi , núi rừng Việt Bắc mãi mãi
còn được nâng niu , trân trọng không thể xóa mờ .
Hình ảnh sâu đậm nhất trong nỗi nhớ thương của người ra đi chính là những con người Việt
Bắc. Không phải ngẫu nhiên tất cả các dòng thơ đều mở đầu bằng nỗi nhớ.
Điệp từ “ nhớ ” diễn tả sự lưu luyến của người ra đi dành hẳn cho con người Việt Bắc. Trong
nỗi nhớ ấy không ai có tên tuổi cụ thể. Họ chỉ là một bóng dáng tình cờ thoáng gặp đâu đó trên nẻo
đường Việt Bắc. Một người đan nón , một cô em hái măng , thậm chí có khi còn không thấy cả
dáng hình mà chỉ là sự phản chiếu ánh sáng của con dao đi rừng gài bên hông. Tiếng hát vọng đến
giữa đêm trăng. Bằng cách khẳng định này tình cảm thắm thiết sâu nặng của những con người
kháng chiến với đồng bào Việt Bắc. Họ yêu thương , gắn bó với mảnh đất này tới mức “ nhớ cả
những người không quen biết ” chứng tỏ tất cả những ai trên mảnh đất ấy đều rất đỗi gắn bó yêu
thương . Không chỉ thế , hình ảnh con người đều gắn liền với công việc lao động thường ngày. Mỗi
‘‘Những đường Việt Bắc của ta
……
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.’’
17
Bức tranh ‘‘Việt Bắc ra quân’’ đã được Tố Hữu miêu tả thật là hoành tráng với hào khí ngất trời
của những con ngườI mới xuất quân mà đã như cầm chắc phần thắng trong tay
‘‘Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng núi non.’’
Hai câu đầu là nét tả khái quát. Tác giả tả con đường ra trận nhưng là để nói lên khí thế dũng
mãnh của người ra trận. Hai câu đầu vang lên với âm hưởng hào hùng tái hiện lại không khí sôi
động của những ngày thuộc giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.
Trong thơ Tố Hữu , con đường xuất hiện khá nhiều và giàu ý nghĩa. Có khi là con đường cụ thể
trên quê hương đất nước ‘‘Đường nở ngực những hàng dương liễu nhỏ…’’, có khi là con đường
cách mạng, con đường kháng chiến của dân tộc : “Đường cách mạng dài theo kháng chiến. Đến
hôm nay đường xuôi về bản…”. Từ khi mớI đến với cách mạng, Tố Hữu đã song hành cùng với con
đường này . Con đường máu lửa ấy đã trở thành con đường chiến thắng. Với Việt Bắc, sức mạnh
của dân tộc ta luôn gắn liền với con đường chiến thắng này. Ở đây, một lần nữa nhà thơ nhớ lại
những con đường Việt Bắc. Trên những nẻo đường ấy, ngày đêm rầm rập bước chân của những
đoàn quân nối tiếp nhau ra trận :
“Quân đi điệp điệp trùng trùng…”
Đội quân đông đảo hùng hâụ ấy có thể làm rung trời chuyển đất. Họ hiện lên với một tầm vóc
phi thường, sánh ngang cùng vũ trụ: “Ánh sao đầu súng bạn cùng núi non”. Hình ảnh thơ này vừa
thực vừa lãng mạn. “Khẩu súng” là biểu tượng của thiên nhiên của niềm hi vọng. Hành quân đi
trong đêm như những người lính đang hành quân dướI ánh sao trời và ánh sao như đang chiếu rọi
ngay trên đầu súng, như đang cùng ngườI lính hành quân ra trận. Hình ảnh này khiến ta nhớ đến
những hình ảnh đẹp, rất đỗi thi vị của những người lính đang đứng gác chờ giặc tới trong bài “Đồng
chí” (Chính Hữu) “Đầu súng trăng treo”. VớI hình ảnh này, Tố Hữu không chỉ tô đậm sức mạnh
rung trời chuyển đất, tư thế tầm vóc lớn lao phi thường của ngườI lính cách mạng mà còn khám phá
pha bt sỏng. S i lp tng phn gia sng dy thm thm v ốn pha bt sỏng ó lm ni
bt giỏ tr ca ngn ngy khỏng chin th hin nim tin vo ngy chin thng ang n gn.
Nh vy, ch vi tỏm dũng th, nh th T Hu ó tỏi hin ckhungcnh chõn thc v
honh trỏng ca quờ hng cỏch mng Vit Bc, ng thi on th cũn th hin c nột c sc
trong ngh thut th ca T Hu. on th y gúp phn lm nờn thnh cụng ca tỏc phm Vit
Bc.
Cõu 16
Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Trôi dòng nớc lũ hoa đong đa
Gi ý tr li
Nói đến Quang Dũng, chúng ta không thể không nhắc đến bàI thơ Tây tiến 1 thi phẩm nổi
tiếng và tiêu biểu nhất cho hồn thơ của ông. Đợc viết vào năm 1948 khi Quang Dũng vừa rời xa đơn
vị Tây Tiến một thời gian, bài thơ là một nỗi nhớ da diết, sâu nặng hớng về đoàn quân tây tiến, về
một đoạn đời rất mực đau khổ nhng cũng rất đỗi hào hùng của những ngời lính Tây Tiến. Đặc biệt
bài thơ còn gợi lại những kỉ niệm sâu sắc, một thời từng gắn bó với những ngời lính ấy qua đoạn thơ:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Trôi dòng nớc lũ hoa đong đa.
Nếu nh ở đoạn thơ đầu là cảm hứng tràn trề về cuộc hành trình đầy gian khổ, tự hào của các
chiến sĩ Tây Tiến thì ở đoạn thơ này bằng những nét vẽ mềm mại, tinh tế, tài hoa Quang Dũng đã
khắc hoạ nên một Tây Bắc thơ mộng với cái thực, cái ảo đan cài, dệt nên đêm liên hoan lửa trại đầy
cuốn hút.
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về viên chăn xây hồn thơ.
Đó chính là đêm hội đuốc hoa, đêm liên hoan lửa trại giữa bộ đội Tây Bắc với đồng bào địa
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.
Lại một lần nữa Tây Bắc chìm trong màn sơng mờ ảo. Không gian thời gian nh trộn lẫn với
nhau toạ nên một chất thơ riêng của vùng rừng núi mỗi khi chiều buông xuống và chính trong khung
cảnh vừa thực vừa ảo ấy những ngời lính trẻ với tâm hồn lãng mạn đã thấy hồn lau nẻo bến bờ,
thấy bạt ngàn rừng lau trong gió nh có hồn nh xôn xao một nỗi niềm. Những bông lau xám ấy phất
phơ trong gió bao giờ cũng gợi lên khung cảnh vắng vẻ quạnh hiu của núi rừng Tây Bắc cho nên tác
giả đã đặt hồn lay ấy ở trên nền không gian nẻo bến bờ. Khiến cho cảm giác về không khí tĩnh
lặng của vùng rừng núi hoang sơ càng đợc tô đậm thêm. Câu thơ nh vẽ ra trớc mắt ngời đọc những
triền sông bờ suối hoang vu nh cha từng có dấu chân ngời. Chỉ có ngàn lau xám bạc đang phất phơ
cùng gió và đối với những thanh niên ra đi từ ba sáu phố phờng Hà Nội không gian quạnh hiu mà
nguyên sơ tinh khiết này đã trở thành vẻ đẹp riêng biệt của vùng sơn cớc:
Có thấy dáng ngời trên độc mộc
Trôi dòng nớc lũ hoa đong đa.
Tính hàm xúc của ngôn từ đã khiến những dòng thơ gợi lên những cách hiểu khác nhau. Có
ý kiến cho rằng những câu thơ này ghi lại cảm giác lãng mạn của ngời lính Tây Tiến khi họ đối diện
với thiên nhiên và con ngời Tây Bắc, họ nhớ đến dáng hình uyển chuyển thanh thoát của ngời thiếu
nữ trên những con thuyền độc mộc và những nhánh lan rừng đong đa bên suối nh làm duyên với con
ngời. Nhng có ý kiến lại cho rằng câu thơ mô tả nỗi nhớ của ngời lính Tây Tiến về cuộc sống nhiều
gian khổ, thử thách và thơ mộng của họ. Trên dòng suối lũ nổi bật dáng khỏe khoắn của những con
ngời chèo thuyền và ngay lúc băng qua dòng suối lũ họ đón nhận và xót thơng cho những bông hoa
rueng đang trôi dạt. Sóng dẫu hiểu theo cách nào câu thơ vẫn làm nổi lên vẻ đẹp tâm hồn của những
ngời lính Tây Tiến, ho đã yêu thơngm gắn bó với mảnh đất này bằng tất cả tâm hồn nhạy cảm, tinh
tế và lãng mạn của mình.
Bằng tấm lòng và ngôn từ Quang Dũng đã thực sự thành công khi vẽ lên một Tây Bắc thơ
mộng với cái thực cái ảo đan xen, hoà quện va ông đã thành công hơn nữa khi đã khắc hoạ chân
dung những ngời lính Tây Tiến anh dũng trong chiến đấu; lãng mạn trong tình yêu đối với thiên
nhiên và con ngời Tây Bắc.
Cõu 17
Đề bài: Phân tích hình tợng ngời lính trong tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng
20
bờ thấy ngàn lau hai bên bờ sông đang lay động nh có hồn. Với một tâm hồn nhạy cảm và tinh
tế, những ngời lính Tây Tiến đã cảm nhận đợc vẻ đẹp của một chiều sơng huyền ảo với những ngàn
lau xám hiu hắt một vẻ đẹp nguyên sơ và tinh khiết. Hình ảnh này đã tạo nên chất thơ của núi
rừng Tây Bắc. Không chỉ vậy ánh mắt trẻ trung lãng mạn của những ngời lính còn say sa chiêm ng-
ỡng những dáng hình của những thiếu nữ trẻ trung uyển chuyển trên những con thuyền độc mộc
xuôi dòng nớc lũ:
Có nhớ dáng ngời trên độc mộc
Trôi dòng nớc lũ hoa đong đa
Tâm hồn lãng mạn của những ngời lính Tây Tiến còn đợc thể hiện ở những cảm nhận, những rung
động tinh tế của họ trong đêm lửa trại - đêm hội đuốc hoa. Khi họ say sa trong tiếng khèn, tiếng
nhạc và những vũ điệu độc đáo và trong vẻ đẹp của những cô gáI miền sơn cớc với những trang phục
lộng lẫy:
Doang trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Những câu thơ không chỉ gợi lại cáI không khí tng bừng nhộn nhịp của doanh trại trong đêm liên
hoan mà còn gợi cho chúng ra cáI tng bừng nhộn nhịp trong những ngời lính trẻ - những con ngời
có tâm hồn lãng mạn, hào hoa và mơ mộng. Vẻ đẹp lãng mạn thơ mộng của những ngời lính Tây
21
Tiến còn đợc biểu hiện ở chỗ là họ đã mở rộng tráI tim của mình để đón nhận vẻ đẹp của tình ngời
nơI phơng xa xứ lạ. Đó là những phút giây họ đợc quây quần bên bếp lửa với những hơng thơm nồng
nàn của nồi xôi nếp đầu mùa:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Đặc biệt, tâm hồn hào hoa lãng mạn của những ngời lính Tây Tiến đợc thể hiện rất rõ trong những
giấc mơ về tình yêu và hạnh phúc. Trong những phút giây say sa trong tiếng khèn, tiếng nhạc, trong
ánh sáng lung linh của đêm lửa trại tâm hồn những ngời lính nh bay lên với những khát vọng tha
thiết mãnh liệt về tình yêu và hạnh phúc:
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
"áo bào thay chiếu anh về đất"
Trong bài thơ Quang Dũng đã phơi bày toàn bộ những mất mát hi sinh mà những ngời lính Tây
Tiến phải đối mặt trên bớc đờng hành quân. Thế nhng hình tợng ngời lính trong bài thơ thể hiện lên
không hề yếu ớt bi lụy mà trái lại hiện lên với vẻ đẹp khỏe khoắn hào hùng. Cái hùng tráng của
những ngời lính Tây Tiến toát lên từ tâm hồn tràn đầy sức sống, từ tinh thần lạc quan phơi phới của
họ:
"Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời"
22
Đoàn quân Tây Tiến phải vợt qua những đèo dốc trập trùng hiểm trở và những đỉnh núi cao vút.
Đây quả là những khó khăn thử thách lớn với những chàng trai ra đi từ 36 phố phờng Hà Nội. Thế
nhng họ đã vợt qua tất cả và khi đến đỉnh núi những ngời lính thấy "súng ngửi trời". Hình ảnh thơ
này chứa đựng nụ cời tinh nghịch, hóm hỉnh và cái nhìn trẻ trung hồn nhiên của ngời lính Tây Tiến.
Câu thơ gợi cho ta cảm nhận những khó khăn gian khổ của những ngời lính Tây Tiến đã biến mất
mà chỉ còn lại tâm thế oai nghiêm sừng sững sẵn sàng vợt qua mọi gian nguy thử thách của họ. Bất
chấp mọi thiếu thốn t thế của những ngời lính vẫn hiên ngang tràn đầy khí thế tiến công, hình hài
của họ có thể xơ xác đi vì đói khát, ốm đau, bệnh tật. Thế nhng phong thái của họ vẫn đờng vệ, vẫn
oai nghiêm dữ tợn nh những vi chúa sơn lâm:
"Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới"
ánh mắt trừng gửi mộng thể hiện một dũng khí lớn lao của những ngời lính. Bất chấp mọi khó
khăn gian khổ, trong họ luôn sục sôi nhiệt huyết và khát vọng chiến đấu cho Tổ Quốc, cho lí tởng
quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh. Thậm chí ngay cả trong cái chết những ngời lính Tây Tiến cũng
toát lên vẻ đẹp ngang tàn kiêu dũng và đậm chất bi tráng. Trên con đờng hành quân có những ngời
lính đã gục ngã nhng họ đã gắng gửi đến giây phút cuối cùng. Và họ tỏ ra xem thờng cái chết:
Chiến trờng đi chẳng tiếc đời xanh
Chính nhng suy nghĩ nh vậy đã xóa mờ đi trong những ngời lính Tây Tiến cảm giác về sự hi sinh.
Sự kết hợp hài hòa hai yếu tố hào hùng bi tráng và hào hoa lãng mạn đã đem lại một vẻ đẹp đặc
biệt cho hình tợng những ngời lính Tây Tiến. Cảm hứng lãng mạn đã khiến cho ngòi bút của Quang
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Bài thơ đựơc mở đầu bằng tiếng gọi tha thiết :
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”.
Hình ảnh dòng sông Mã đã gợi lên không gian hùng vĩ của miền Tây Bắc, gợi cả sự xa xôi cách trở
giữa nhà thơ và đoàn quân Tây Tiến.Song khoảng cách không gian chỉ càng khiến nỗi nhớ thêm da
diết ,mãnh liệt.Nó bật lên thành tiếng gọi: “Tây Tiến ơi”_ như thể đoàn quân ấy đã hóa thành một
hình dáng cụ thể,gần gũi thân thương .Nỗi nhớ như nhuốm cả không gian của núi rừng.Hai từ nhớ
được điệp lại trên cùng một dòng thơ đã tô đậm ấn tượng về nỗi nhớ thương chồng chất trong trái
tim nhà thơ. Đặc biệt là cách nói “nhớ chơi vơi” khiến tâm trạng kia như có sức lan tỏa lạ kì.Nó làm
sống lại trong lòng người biết bao cảm xúc, bao kỉ niệm về thiên nhiên Tây Bắc ,về đoàn quân Tây
Tiến.
Trước hết nỗi nhớ làm sống dậy hình ảnh của một thiên nhiên thơ mộng tình tứ với những khoàng
không gian đầy sương khói:
“Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Có thể nói đây là một nét đẹp đặc trưng của miền Tây Bắc nên nó cứ trở đi trở lại trong dòng hồi ức
của nhà thơ. Khi là một màn sương dày đặc bao phủ cả đất trời khiến đoàn quân như bị vùi lấp,bị
chìm đi trong sương. Có khi lại là một đêm hơi lãng đãng huyền ảo “hoa về trong đêm hơi”. Hình
ảnh nhân hóa “hoa về” đã diễn tả chính xác cảm giác ngỡ ngàng thú vị của những người lính Tây
Tiến khi chợt nhận ra sự hiện diện của một nhánh hoa rừng giữa đêm sương mờ ảo. Nó phản chiếu
cả niềm hân hoan và sự gắn bó với thiên nhiên nơi này tưởng như những đóa hoa rừng cũng có linh
hồn biết tìm về để vui đón con người. Núi rừng Tây Bắc còn trải ra trước mắt với những thung lũng
êm đềm :
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Dòng thơ toàn thanh bằng gợi tả vẻ êm đềm tĩnh lặng của những thung lũng đang chìm trong màn
mưa.Mưa biến cả không gian nay thành mặt biển và những ngôi nhà nơi xóm núi thấp thoáng hệt
như những cánh buồm, những con thuyền, Khung cảnh hiện lên vừa chân thực vừa thơ mộng.
Thiên nhiên Tây Bắc không chỉ thơ mộng tình tứ mà còn hiểm trở với bao đèo dốc núi non trập
t th ca h khi i din vi thiờn nhiờn him tr hựng v:
Heo hỳt cn mõy sỳng ngu tri
Nu nh th vit sỳng chm tri thỡ ch gi c cao ca nhng nh nỳi Tõy Bc, cũn cỏch núi
nhõn húa sỳng ngu trili t c cỏi hn nhiờn lc quan yờu i ca nhng ngi lớnh Tõy Tin
vt qua bao ốo dc nỳi non gp ghnh him tr, tõm hn h vn tr trung hn nhiờn , tinh
nghch , vn húm hnh trn y sc sng.Thm chớ c khi i mt vi cỏi cht h vn ngang tang
kiờu hónh:
Anh bn dói du khụng bc na
Gc lờn sỳng mự b quờn i
Cỏch miờu t ca nh th khin ta cú cm giỏc ngi lớnh ny ó gng gi n tn hi th cui
cựng_gc ngó ngay trờn hng ng.Ging iu th ,bt cn b quờn i bc l thỏi khinh
thng cỏi cht.
Khụng ch th ngi lớnh Tõy Tin cũn tỡm thy trc hin thc gian kh khc lit y nim vui,
nim hnh phỳc ngt ngo ca cuc i ngi lớnh:
Nh ụi Tõy Tin cm lờn khúi
Mai Chõu mựa em thm np xụi
ú l khi h dng chõn ni bn lng quõy qun bờn bp la m nng tỡnh quõn dõn c nc. H
cm nhn ln hng ta ra t ni cm go mi v c sc quyn r ca nhng nng sn n tr trung,
tỡnh t.
on th ó th hin c tỡnh cm chõn thnh mónh lit ca Quang Dng vi min t Tõy Bc
v on quõn Tõy Tin. Qua ú nh th ó tỏi hin thnh cụng v p th mng v hựng v ca
thiờn nhiờnv v p bi trỏng ca on quõn Tõy Tin. õy cng l on th kt tinh nhiu nột c
sc trong ngũi bỳt Quang Dng. S kt hp gia bỳt phỏp hin thc v lóng mng vi ngụn ng th
giu cht nhc,cht ha.
Cõu 19
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Gi ý tr li