BÀI THAM LUẬN ĐỔI MỚI PHUƠNG PHÁP DẠY HỌC NÓI
CHUNG VÀ MÔN NGỮ VĂN NÓI RIÊNG
TỔ: VĂN – SỬ - ĐỊA (TRƯỜNG THCS ĐẠ LONG)
Đổi mới PPDH là yêu cầu bắt buộc đối với giáo viên giảng dạy THPT nói chung và bậc THCS
nói riêng, và đồng thời ở tất cả các môn học, trong đó có Ngữ văn.
Đổi mới PPDH được cụ thể hóa như thế nào trong vấn đề soạn giảng Ngữ văn ?
- Là vận dụng nhiều PPDH vào giảng dạy Ngữ văn.
- Là kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong vận dụng các PPGD trong soạn giảng và lên lớp.
- Là vận dụng công nghệ thông tin một cách hợp lí và có tác dụng vào giảng dạy.
- Là vận dụng các phương tiện hiện đại vào giảng dạy…
* Ý tưởng:
- GV phải có ý tưởng đổi mới PPDH, vận dụng ý tưởng đó vào thực tế giảng dạy một cách hợp lí và có
hiệu quả.
* Thiết kế giáo án:
- Soạn giáo án theo thống nhất chung của tổ chuyên môn, sở GD – ĐT.
+ Soạn Nội dung cần đạt.
+ Xác định các PPDH phù hợp để hướng dẫn HS tự học, tự tìm ra nội dung cần đạt đó.
+ Xác định các vấn đề cần vận dụng CNTT, phương tiện hiện đại cần thiết vận dụng và vận dụng có
hiệu quả vào bài dạy.
+ Xác định các nội dung cần tích hợp, liên hệ mở rộng trong nội dung bài dạy.
+ Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề.
+ Xác định các vấn đề cần thảo luận nhóm.
+ Tính toán thời gian thảo luận, chia sẻ thông tin và phản hồi tích cực.
+ Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm, bài tập mở cho phù hợp với đối tượng HS.
* Lên lớp:
- Tùy thực tế dạy học mà tiến hành theo giáo án có linh hoạt.
- Lưu ý các tình huống có vấn đề của từng lớp dạy.
- Lưu ý các thông tin phản hồi từ HS.
- Rút kinh nghiệm giảng dạy kịp thời…
- Lưu ý kĩ năng đặt câu hỏi khi lên lớp:
Lời văn dễ hiểu.
theo bài mà giáo viên tự vẽ hoặc yêu cầu học sinh vẽ theo nhóm.
- Ví dụ:
+ Văn bản “ Xa ngắm thác núi Lư”: Tích hợp từ Hán Việt, bình giảng, cho học sinh vẽ tranh minh họa.
+Văn bản “ Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh: Bình giảng, tích hợp bài “ngắm trăng” của cùng tác giả,
vẽ tranh minh họa.
3.Văn bản thơ mới: Đọc diễn cảm, tích hợp với âm nhạc, lịch sử, phân tích, so sánh. Với những bài
thơ có tính nhạc, giáo viên cho học sinh đọc nhiều lần. Còn những bài thơ viết về đề tài người lính,
cách mạng giáo viên nên so sánh với văn bản cùng đề tài.
- Ví dụ: Văn bản “ Đồng chí”: Tích hợp âm nhạc, lịch sử, so sánh với người lính trong thơ Phạm Tiến
Duật qua bài “ Tiểu đội xe không kính”
4. Văn bản nhật dụng: Chọn phương pháp trực quan sinh động làm phương pháp chính kết hợp với
phương pháp nêu vấn đề, tích hợp giáo dục môi trường, giáo dục sức khỏe và kĩ năng sống.
- Ví dụ văn bản “ Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000” . Giáo viên trình chiếu một số hình ảnh về tác
hại của bao bì ni lông. Nêu ra vấn đề để học sinh xử lí: Gia đình em xử lí bao bì ni lông như thế nào?
Cho biết tác hại của biện pháp đốt, thả ra sông suối, chôn xuống đất?
- Ví dụ văn bản “ Ôn dịch, thuốc lá” : Chiếu hình ảnh trực quan về người hút thuốc lá, một số căn bệnh
mà thuốc lá gây ra. Đặt câu hỏi tình huống:Em sẽ làm gì khi thấy người đàn ông hút thuốc bên cạnh
người phụ nữ mang thai?
5. Văn bản nghị luận: Đây là loại văn bản khô khó. Giáo viên nên sử dụng phương pháp gợi mở là
chính. Bên cạnh đó sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để học sinh hợp tác giải quyết vấn đề.
- Ví dụ văn bản “ Chiếu dời đô”: Giáo viên gợi mở từ đặc điểm thể chiếu, hoàn cảnh Lí Công Uẩn dời
đô trong lich sử đến bố cục văn bản. Sau đó cho học sinh thảo luận nhóm: Dựa vào những lí lẽ nào mà
Lí Công Uẩn quyết định dời đô?
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
Phương châm của tiếng việt là giao tiếp. BoiLean đã từng nói” điều gì hiểu rõ rệt thì mới rõ
ràng”, đặc biệt Kar Marx đã khẳng định” Ngôn ngữ gắn liền với từ vựng”.Mà kiến thức Tiếng Việt bị
hổng cũng đồng nghĩa với vốn ngôn ngữ hổng. Như thế con người sẽ bị hụt hẫng trong cuộc sống.
Học sinh trước nay vốn quen với lối học cũ - phương pháp học thụ động, thầy cô dạy gì thì biết
nấy.Chúng ta không phủ nhận khả năng sáng tạo tự học của một số học sinh có sự thông minh thiên
giải quyết vấn đề.
Giáo viên nhận xét chi tiết, sửa chữa, ghi nhận sự cố gắng của học sinh, cho điểm khích lệ.
Giáo viên cần khéo léo sử dụng mọi biện pháp thúc đẩy học sinh mạnh dạn nêu thắc mắc và khéo léo
sử dung thắc mắc ấy tạo nên tình huống vấn đề, thu hút cả lớp tham gia thảo luận.
+ Phương pháp nêu vấn đề:
Giáo viên đưa ra tình huống, học sinh tự tìm ra vấn đề (dưới sự hướng dẫn của giáo viên). Học sinh tìm
cách giải quyết vấn đề.
Giáo viên chia nhỏ những nhiệm vụ học tập phức tạp thành một loạt những nhiệm vụ nhỏ vừa sức học
sinh. Mỗi bài tập nhỏ giúp học sinh tiến gần đến việc giải quyết nhiệm vụ chính một cách dễ dàng.
Giáo viên có thể đưa ra một loạt câu hỏi nhỏ có liên quan với nhau mà mỗi câu hỏi đó là một bước dẫn
tới giải quyết vấn đề cơ bản. Đa số các câu hỏi nhỏ đó đòi hỏi học sinh không chỉ tái hiện những tri
thức của mình mà cón phải tiến hành tìm tòi suy nghĩ.
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỐI VỚI PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
Trong nhà trường phổ thông , ở bậc tiểu học, các em được học những kiểu văn bản đơn giản,
chủ yếu là miêu tả và kể chuyện, viết thư. Thế nhưng, ở cấp THCS các em đã học đủ 6 kiểu văn bản :
+ Lớp 6,7 : học kiểu văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm ,nhật dụng, nghị luận và hành chính công vụ
+ Lớp 8,9: học các kiểu văn bản của 2 lớp 6, 7 và thêm vào đó là văn bản thuyết minh
Để đổi mới phuơng pháp dạy và học đối với phân môn Tập làm văn , theo tôi trước hết cần đổi
mới về:
* Đổi mới về kiểu bài và các thao tác lập luận
• Trong quan niệm truyền thống : Các kiểu bài văn nghị luận được chia theo thao tác.
• SGK mới căn cứ vào phương thức biểu đạt để chia ra 6 kiểu văn bản.
* Đổi mới về cách dạy làm văn với chủ trương hình thành và rèn luyện cho học sinh biết chủ động
và linh hoạt trong việc làm bài văn ( Tạo lập văn bản)
+ Truyền thống
- HS kể chuyện theo mẫu có sẵn
- Phân tích, làm sáng tỏ những chân lý có sẵn
- Phân biết và chia nhỏ các kiẻu bài máy móc
+ Chương trình mới
- Dạy cho HS biết cách tạo ý,biết lập luận phản bác để bảo vệ ý kiến của mình .
1.Quy trình tìm hiểu phân tích đề:
• Bước 1. Đọc kĩ đề
• Bước 2. Xác định những yêu cầu của đề
- Yêu cầu về nội dung Yêu cầu về thể loại Yêu cầu về phạm vi, giới hạn
2. Kĩ năng tìm ý, lập dàn ý
- Cách tìm ý: Qua việc phân tích đề Qua việc quan sát Qua việc đọc tư liệu có liên quan tới đề tài
Qua việc biết đặt câu hỏi và tìm cách trả lời
Đề bài : Trái đất sẽ ra sao nếu thiếu đi màu xanh của những cánh rừng ?
- Nội dung: Vai trò to lớn của rừng đối với đời sống con người.
GV huớng dẫn HS đặt câu hỏi
- Rừng mang lại lợi ích gì ? Hiện nay rừng bị tàn phá ra sao? Những nguyên nhân nào khiến
rừng bị tàn phá?
- Những hậu quả to lớn do rừng bị bị tàn phá là gì? Cần phải làm gì để cứu rừng ?
- Những suy nghĩ và tình cảm của người viết trước cảnh rừng bị tàn phá và ước mơ về tuơng lai
của rừng như thế nào ?
Lập dàn ý:
Mở bài: (Giới thiệu đối tượng hoặc vấn đề trọng tâm cần làm sáng tỏ).
- Nêu và giới hạn vấn đề. Nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề.
- Trích dẫn (nếu có). Phương hướng giải quyết vấn đề.
Thân bài: (Triển khai, cụ thể hoá đối tượngvà vấn đề trọng tâm đã nêu ở mở bài bằng hệ thống ý được
sắp xếp một cách hợp lí).
Tiêu đề ý lớn 1 ; Tiêu đề ý nhỏ 1; . Tiêu đề ý nhỏ 2. ; Tiêu đề ý nhỏ 3.; Tiêu đề ý lớn 2
Kết bài:
- (Chốt lại vấn đề, nêu suy nghĩ, bài học cho bản thân) Tổng hợp toàn bộ nội dung bài viết, nhấn mạnh
nội dung trọng yếu, cảm xúc nổi bật. Mở rộng cảm xúc, suy nghĩ ở người đọc.
Phương pháp dạy thưc hành
+ Giờ tập nói
* Chuẩn bị
- GV : cần chuẩn bị kỹ càng trước nhiều ngày, cần đôn đốc, kiểm tra học sinh. Tạo cho HS sự sôi
nổi, đồng thời HS sẽ mở rộng suy nghĩ, cảm xúc của bản thân.