Bản thu hoạch thực tập sư phạm 2010 Nguyên phát"full" - Pdf 17

Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay khi nhân loại đang ở giai đoạn đầu của thế kỷ XXI, đây là thời
đại của nhân văn, công nghệ mới, quyền lực của trí tuệ với khoa học và
công nghệ phát triển, có khả năng giải quyết tốt đẹp các vấn đề toàn cầu hơn
xưa. Đồng thời cũng đặt ra cho con người những yêu cầu cao hơn. Nằm
trong bối cảnh chung đó Việt Nam cũng đang bước vào thời kỳ công nghiệp
hoá - hiện đại hoá xây dựng đất nước hoà bình độc lập tự do, thống nhất,
giàu đẹp phồn vinh Vì vậy chúng ta cần những con người không chỉ có
trình độ cao về mặt phát triển trí tuệ mà phải có khả năng linh hoạt, nhạy
bén
Trước những thời cơ và thách thức đó bản thân mỗi người chúng ta cần
làm gì đây? Và làm như thế nào? để có thể hội nhập mà không bị “ loại bỏ”.
Để làm được như vậy bản thân mỗi người cần phải không ngừng nỗ lực học
tập, phấn đấu, phải năng động và linh hoạt, nhạy bén trước các vấn đề của
cuộc sống xã hội. Điều đó chỉ có thể làm được khi nó được xuất phát từ
chính dộng cơ bên trong của mỗi người.
Động cơ kích thích con người ham học hỏi, nó không chỉ thúc đẩy con
người hoàn thiện nhiệm vụ được giao mà còn giúp cá nhân mở rộng kiến
thức, tìm tòi sáng tạo những cái mới phục vụ cuộc sống. Động cơ ở đây
không phải là cái gì trừu tượng ở bên trong cá thể mà nó chính là quá trình
những nhu cầu, mong muốn kích thích con người hoạt động, định hướng
cho con người hành động để đạt được mục đích. Có động cơ học tập đúng
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
1
Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
đắn sẽ giúp người học học tập tích cực hơn và vượt qua được khó khăn để
kiên định theo hướng mình đã chọn.
Học sinh - sinh viên chính là những thế hệ trẻ, những nguồn lao động
cần thiết của xã hội. Sẽ là những người làm cho xã hội phát triển hay thụt

4.1. Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
4.2. Khảo sát thực trạng động cơ học tập của Học sinh lớp 7A Trường
THCS Hoàng Xuân Hãn.
4.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao mức độ động cơ
học tập cho học sinh .
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Có nhiều động cơ khác nhau thúc đẩy học sinh học tập. Hiện nay học
sinh lớp 7A Trường THCS Hoàng Xuân Hãn, đã có nhiều tích cực trong học
tập, tuy nhiên do nhiều yếu tố bên ngoài và bên trong chủ thể nên động cơ
học tập của học sinh chưa cao. Nếu đánh giá đúng thực trạng học tập, tìm ra
được những nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập thì
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
3
Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
có thể tìm ra các biện pháp nhằm tác động, hình thành và giáo dục được phù
hợp giúp học sinh tích cực học tập và rèn luyện.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá tài liệu.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng ankét
-Phương pháp trò chuyện
-Phương pháp quan sát
-Phương pháp sử dụng ý kiến chuyên gia
- Phương pháp thống kê toán học.
7. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
7.1. Phạm vi nghiên cứu:
Học sinh lớp 7A Trường THCS Hoàng Xuân Hãn.
7.2. Thời gian nghiên cứu:
Học kỳ II từ ngày 01/03/2010 – 10/04/2010.

không phải là nhận thức, ý thức hay tư duy mà là nhu cầu. Để tồn tại và phát
triển con người cần được thỏa mãn hay đáp ứng các nhu cầu. Chính nhu cầu
được phả ánh vào trong đầu óc của con người và được con người ý thức về
nó trở thành cái thúc đẩy con người hoạt động.
Với sự ra đời của tâm lý học Mác - xít thì vấn đề động cơ hoạt động của
con người mới có cơ sở lý luận để làm sáng tỏ. Các nhà Tâm Lý học Xô
viết xác định việc nghiên cứu động cơ là một trong những vấn đề trọng tâm
của việc nghiên cứu tâm lý con người. Đại diện cho dòng phái này là:
Vưgôtky, A.N. Leonchiew, L.Xruibinstein, và các nhà tâm lý học khác:
P.A Ruđic, V.A. Canchetxki
- A.N. Leonchiev cũng đã nêu lên “cấu trúc của hoạt động”, cùng tác
phẩm “Hoạt động - Ý thức- nhân cách”. Ông cho rằng động cơ là thành phần
tất yếu trong cấu trúc của hoạt động, có tác dụng kích thích hoạt động,
không có hoạt động nào không có động cơ, hoạt động không có động cơ
không phải hoạt động thiếu động cơ mà là hoạt động với động cơ có ẩn dấu
về mặt khách quan và chủ quan. [ 9 ]
- X.L. Rubinstêin khi nghiên cứu về động cơ đã có những nhận xét rằng
động cơ là yếu tố thúc đẩy và định hướng các nhận tích cực tham gia vào các
quá trình xã hội khác nhau, làm cho nhu cầu có khuynh hướng năng động có
nghĩa là thể hiện mặt hoạt động của nó.
Rubinstêin đã xây dựng những luận điểm chung về động cơ hoạt động
thông qua việc phân tích những dạng hoạt động cụ thể. Ông cho rằng những
động cơ của con người được tạo ra từ nhu cầu, hứng thú và được hình thành
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
6
Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
ở con người trong quá trình sống và động cơ là sự quy định chủ quan hành
vi của con người bởi thế giới. Sự quy định này được thực hiện giao tiếp bằng
quá trình phản ánh thế giới. Thông qua hoạt động của mình con người liên
kết với bối cảnh của hiện thực. Động cơ xác định cốt cách chân chính của

trong tập thể, xã hội. Tác giả chia động cơ học tập thành 4 loại : động cơ
nhận thức khoa học, động cơ xã hội, động cơ cá nhân, động cơ nghề nghiệp.
Nhìn chung các tác giả trên đều cho rằng, động cơ học tập là thành tố
chủ yếu của hoạt động dạy học, là cái mà vì nó học sinh tích cực tham gia
vào quá trình học tập. Các chương trình nghiên cứu về động cơ học tập được
tiến hành trên phạm vi rộng ở nhiều cấp học, bậc học chủ yếu, chỉ rõ thực
trạng động cơ học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập. Trên cơ
sở đó đề xuất một số những phương hướng giáo dục cho học sinh.
1.2. ĐỘNG CƠ, ĐỘNG CƠ HỌC TẬP, ĐỘNG CƠ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH THCS.
1.2.1. Khái niệm về động cơ:
Trong lịch Sử Tâm lý học Mac - xit đến nay vẫn còn nhiều quan điểm
khác nhau về động cơ.
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
8
Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
Khi bàn về động cơ, mỗi trường phái xuất phát từ những quan điểm,
nhận thức phương pháp khác nhau, do đó quan niệm về động cơ cũng khác
nhau.
- B.PH.Lomov, khi nêu quan niệm về động cơ đã chú ý đến vấn đề nhu
cầu. Ông đã thừa nhận động cơ và nhu cầu có những liên hệ chặt chẽ với nhu
cầu chế định hành vi con người một cách khách quan của nhân cách. Theo
tác giả mối liên hệ giữa nhu cầu và động cơ là không đồng nhất, điều này
làm cho các hình thức của nhu cầu cũng cực kỳ phong phú. Những nhu cầu
giống nhau có thể thực hiện trong những động cơ khác nhau và đằng sau
những động cơ giống nhau. Mặt khác một động cơ có thể biểu hiện của một
và nhu cầu. (Hồ Ngọc Đại, Tâm lý học dạy học, 1993) [ 1]
- X.L Rubinstêin cho rằng: Động cơ được xem là sự quy định về mặt
chủ quan của hành vi con người. Sự quy định này được thực hiện gián tiếp
bằng quá trình phản ánh các hành vi đó. Thông qua động cơ của mình con

của cha mẹ, giáo viên. Như vậy ông đã coi động cơ học tập là hướng tới đối
tượng hoạt động học tập và các mối liên quan đến việc học.
( A.N.Leonchiev và Econhin, 1973) [ 9 ].
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
10
Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
Đào Thị Kim Oanh khẳng định: động cơ học tập là sự vật, hiện tượng
trở thành caí kích thích, thúc đẩy tính tích cực học tập ở học sinh nhằm đạt
kết quả học tập và hình thành, phát triển nhân cách. [ 4 ].
-Theo GS. TSKH Thái Duy Tuyên: Động cơ học tập không những xuất
phát từ nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng, mong muốn…mà điều cần chú ý là
động cơ học tập không phải là quá trình tự phát, tự nhiên và phát sinh thầm
lặng. Cần hình thành, phát triển, kích thích động cơ học tập của học sinh
phù hợp với đặc điểm của từng em và điều quan trọng là giúp các em tự
kích thích động cơ học tập cho mình.
Như vậy có thể hiểu là đối tượng học tập được người học phản ánh , trở
thành yếu tố tâm lý phản ánh và thúc đẩy họ tích cực lĩnh hội tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo nhằm phát triển trí tuệ, hình thành và phát triển nhân cách.
Động cơ học tập có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ hoạt động học tập.
Động cơ học tập tạo cho người học tính tích cực, độc lập, tự giác, sáng tạo
trong học tập, là con đường dẫn đến tài năng, làm phát triển truyền thống
hiếu học “ Lòng hiếu học ra đời và phát triển trong hoạt động học tập được
tổ chưc tích cực, thông minh, sáng tạo và hấp dẫn”. ( Nguyễn Trọng Đệ,
1997) [ 2 ].
1.2.3. Động cơ học tập của học sinh.
1.2.3.1. Đặc điểm hoạt động của học sinh THCS.
Hoạt động học của học sinh cũng có những đặc điểm của hoạt động học
nói chung và những đặc điểm riêng là đòi hỏi tính độc lập trí tuệ, cường độ
hoạt động tâm lý cao, có tốc độ nhịp độ nhanh, sự nỗ lực trí tuệ cao nên căng
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ

cơ sở nghề nghiệp .
- Những động cơ tự khẳng định mình: Là ý thức về năng lực của mình
và mong muốn thể hiện khả năng học tập.
- Những động cơ vụ lợi hay động cơ trội về cái có lợi cho riêng cá nhân.
Trong đó động cơ nhận thức khoa học chiếm vị trí thứ nhất, tiếp đến là
động cơ nghề, động cơ xã hội, động cơ tự khẳng định và cuối cùng là động
cơ vụ lợi. [ 7 ].
Căn cứ vào mối liên quan với hoạt động học tập của sinh viên sư phạm,
tác giả Trương Thị Thìn (2004) chia động cơ học tập thành hai nhóm:
Động cơ liên quan trực tiếp đến động cơ học tập, học nghề là những cái
thoả mãn nhu cầu nhận thức, học nghề kích thích chủ thể tích cựchọc tập
nhằm tới mục đích học tập. Nhóm động cơ nay gồm: các động cơ nhận thức,
các động cơ nghề sư phạm, các động cơ cảm xúc với quá trình học tập…
Động cơ không liên quan trực tiếp đến hoạt động học tập, học nghề là
những cái thoả mãn nhu cầu quan hệ làm cho sinh viên tích cực học tập
nhằm tới mục đích không liên quan trực tiếp đến mục đích học tập. Nhóm
động cơ học tập nay gồm: Động cơ xã hội, động cơ quan hệ cha mẹ, người
thân, bạn bè….
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
13
Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
Trên cơ sở những cách phân loại trên chúng ta có thể chia động cơ học
tập của sinh viên sư phạm thành:
- Động cơ nhận thức : Đó là sự tiếp thu tri thức, khả năng để hiểu
biết nhiều.
- Động cơ cảm xúc: Là sự lôi cuốn của tài liệu học tập.
- Động cơ nghề sư phạm: Học tập để chuẩn bị cho nghề nghiệp
tương lai.
- Động cơ tự khẳng định: Ý thức về năng lực và muốn khẳng định
mình, có khả - năng học tập của mình.

chuyển hoá thành động cơ. Khi nhu cầu gặp gỡ đối tượng có khả năng thoả
mãn nó thì nhu cầu sẽ được đối tượng hoá nhờ hoạt động và trở thành động
cơ. “Những đối tượng đáp ứng nhu cầu khác nhau nằm trong hiện thực
khách quan. Một khi chúng phát lộ ra, được chủ thể những biết (hình dung
ra, tư duy ra) thì có được chức năng thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động tức trở
thành động cơ”. Ngược lại động cơ là cầu nối giữa nhu cầu và hiện thực
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
15
Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
khách quan nhờ một kinh nghiệm điều chỉnh hành vi xác định. Động cơ hoạt
động của con người là nguyên nhân bên trong thôi thúc con người hành
thoả mãn một nhu cầu nào đó.
Từ những phân tích trên có thể thấy : Nhu cầu học tập là những đòi hỏi
của người học đối với sự lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhàm hình thành
và phát triển nhân cách cá nhân.
* Hứng thú học tập.
“Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng nào đó
vừa có ý nghĩa với cuộc sống vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá
nhân trong quá trình học tập” (Tâm lý học đại cương, Nguyễn Quang Uẩn -
chủ biên). Với khái niệm này vừa nêu được bản chất tâm lý của hứng thú,
vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân.
Trong hoạt động học tập, hứng thú có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là
yếu tố thúc đẩy cá nhân học tập, tìm kiếm, chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo…hứng thú học tập càng mạnh mẽ thì càng hấp dẫn nhận thức.
Đây là khả năng lĩnh hội tri thức các môn học. Muốn hình thành hứng thú
học tập cần giúp cho người học hiẻu mục đích, cụ thể hóa thành nhiệm vụ
học tập đa dạng, có sức hấp dẫn, lôi cuốn.
* Mục đích học tập.
Mục đích là cái mà hoạt động đạt tới, các nhà tâm lý học khẳng định:
Mục đích là biểu tượng trong đầu óc của con người về kết quả nhằm đạt tới

Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
1.2.3.4. Biểu hiện của động cơ học tập.
* Về mặt nhận thức.
Sinh viên luôn luôn cố gắng vượt qua khó khăn, trở ngại để hướng đến
việc nhận thức, giải quyết vấn đề. Có tinh thần say mê đối với các vấn đề
khoa học, ham hiểu biết, sẵn sàng học hỏi thầy cô bạn bè, thường tham khảo
thêm tài liệu, làm thêm các bài tập nhất là thường đưa ra các câu hỏi thắc
mắc, để hiểu vấn đề cụ thể hơn. Muốn có động cơ học tập đúng đắn người
học phải ý thức được nhiệm vụ học tập của mình, hiểu được ý nghĩa của các
môn học với thực tiến cuộc sống và nghề nghiệp tương lai. Đây chính là
nguồn gốc để hình thành các khái niệm cũng như tri thức các môn học.
* Về mặt thái độ.
Mặt thái độ bao gồm: Thái độ, cảm xúc tích cực với các môn học thông
qua hoạt động học tập như:
- Tâm trạng háo hức, chờ đợi giờ học đến.
- Có niềm vui nhận thức cùng với sự thích thú khi tiếp nhận tri thức.
- Thích thú thực hiện các nhiệm vụ học tập.
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
18
Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
- Thích thú có nhiều hình thức học tập: nghe giảng lý thuyết kết hợp
thực hành, đọc tài liệu tham khảo, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn, giáo
viên đưa ra những vấn đề để tranh luận…
- Cảm thấy giờ học trôi nhanh và thích thú với giờ học đó.
- Vui sướng với những thành công trong học tập
* Về mặt hành vi.
Có thể liệt kê một số hành vi sau:
- Tập chung chú ý nghe giảng.
- Ghi chép theo cách hiểu của mình.
- Tích cực phát biểu ý kiến xây dựng bài.

* Phương pháp giảng dạy.
Phương pháp giảng dạy cũng là một yếu tố góp phần làm nên thành
công của hoạt động dạy học. Phương pháp dạy tốt mới khơi dậy và củng cố
đươch hứng thú, lòng say mê học tập phát huy được tính tích cực học tập của
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
20
Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
sinh viên. Thực tế cho thấy chỉ có phương pháp hình thức dạy học tích cực
mới phát huy sáng kiến, sức sáng tạo cũng như sự tích cực trong học tập của
sinh viên.
Bên cạnh đó giảng viên cần có những năng lực cần thiết như: Năng lực
hiểu sinh viên, năng lực giao tiếp nói chung là các năng lực sư phạm. Để
không những rút ngắn khoảng cách với sinh viên mà con giúp quá trình dạy
và học tốt hơn.
Ngoài ra bầu không khí lớp học và cơ sở vật chất cũng có tác động đến
động cơ học tập của sinh viên. Tập thể lớp mà có phong trào học tập tốt thì
cá nhân cũng ảnh hưởng và học tập theo. điều kiện vật chất có tác dụng hỗ
trợ sinh viên trong việc lý thuyết đi đôi với thực hành, hay việc vận dụng lý
thuyết vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
* Bản thân sinh viên. ( Trình độ nhận thức, nhu cầu nhận thức, thái độ
học tập).
- Trình độ nhận thức.
Trình độ nhận thức của sinh viên là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hứng
thú học tập. Thực chất của hứng thú học tập là quá trình nhận thức đi sâu
vào bản chất đối tượng, do vậy trình độ nhận thức là cơ sở cần thiết để tạo
hứng thú học tập, và cũng là điều kiện quan trọng để bồi dưỡng hứng thú
học tập, chỉ khi có tri thức ban đầu về đối tượng, những kỹ năng, kỹ xảo đơn
giản và những thao tác trí tuệ nhất định… thì cá nhân mới có thể nhận thức
được đối tượng, rồi hứng thú với đối tượng…Khi cá nhân đã hiểu được toàn
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ

ý thức đầy đủ về tầm quan trọng của các môn học.
Nhu cầu tự khẳng định:
Là nhu cầu vượt lên những khó khăn, hạn chế của bản thân hay của hoàn
cảnh để đạt được mục đích nhất định. Đáp ứng nhu cấu này con người phải
huy động sự nỗ lực ý chí, quyết tâm cao độ nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ
thúc đẩy bản thân học tập. Nhất là trong thời đại ngày nay thì nhu cầu khẳng
định mình của con người lại càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết một mặt là
muốn thể hiện mình, mặt khác là muốn có một vị trí trong xã hội. Chính vì
vậy mà nó thúc đẩy con người đạt được mục tiêu mà mình đề ra.
* Nhóm yếu tố khác chi phối đến động cơ học tập của sinh viên:
- Nhóm động cơ về xã hội:
Là động cơ do sự tác động của xã hội đối với quá trình học tập của
sinh viên. Sinh viên học tập vì nhiều yếu tố xã hội thúc đẩy: Tìm việc dễ
dàng, vì công danh, vì thầy cô, để kiếm được nhiều tiền, nghề đang được xã
hội coi trọng, đáp ứng nhu cầu học tập…
-Nhóm động cơ về thầy cô, gia đình, bạn bè…
Là những động cơ do sự phản ánh các tác động của những người xung
quanh đối với việc học tập của sinh viên: Học vì trách nhiệm, muốn làm vừa
lòng cha mẹ. thầy cô, theo học vì ý kiến của bạn bè…
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
23
Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Trần Minh Đức
-Nhóm động cơ vụ lợi:
Bên cạnh những đông cơ lâu dài, được xã hội thừa nhận khích lệ, thì vẫn
còn tỉ lệ đáng kể sinh viên có động cơ học tập thiện cận, thụ động. Họ học
không phải để chiếm lĩnh tri thức, vì ham hiểu biết mà học vì ham muốn tiền
tài, địa vị, công danh…Để thoả mãn những đam mê đó họ có thể bằng mọi
thủ đoạn để đạt được nó: Quay cóp trong thi cử, hay mua điểm, mua bằng,
học để có học bổng….
Ngoài các động cơ trên học tập của sinh viên còn bị chi phối bởi nhiều yếu

thành trung tâm đào tạo, NCKH, trung tâm văn hoá của tỉnh, một trường có
uy tín trong nước và khu vực trong 10 đến 15 năm tới.
Giáo sinh thực hiện: Trịnh Thị Huệ
25

Trích đoạn XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐỘNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status