LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp vừa và nhỏ song song với
các KCN, KCX là một trong những hướng đi mới , sang tạo trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Thủ Đô Hà Nội cũng như cả nước nói
chung.
Kể từ ngày 15/10/1998 tại công văn số 17/CP – KCN của thủ tướng
Chính phủ đồng ý để Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội xây dựng thí điểm
2 cụm công nghiệp vừa và nhỏ huyện Gia Lâm và Thanh Trì Hà Nội để di
chuyển một số nhà máy, xí nghiệp trong nôi thành nhằm tập trung sản xuất,
chống ô nhiểm môi trường. Đến nay Thành phố Hà Nội đã có 18 dự án xây
dựng cụm công nghiệp đang đựoc triển khai với tổng diện tích quy hoạch gần
800ha. Trong đó 9 cụm đã hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng và có tỷ lệ lấp
đầy khá cao. Một số cụ công nghiệp đang tiến hành giải phóng mặt bằng, triển
khai dự án.
Sự hình thành và phát triển các cụm công nghiệp trong gần 10 năm trở
lại đây đã mở ra hướng đi mới cho phát triển công nghiệp vừa và nhỏ của thủ
đô cũng như cả nước. Góp phần giúp chúng ta cải cách hành chính, đổi mới
cơ chếquản lý, giảm thiểu đến mức tối sự phiền hà, phức tạp cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ trong việc mở rộng đầu tư cũng như trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Trong bối cảnh như vậy, việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các
cụm công nghiệp vừa và nhỏ là một nhiệm vụ quan trọng ảnh hưởng tới khả
năng thu hút vốn đầu tư và hiệu quả hoạt động của các cụm công nghiệp.
Tuy nhiên trong thời gian qua, hoạt động quản lý nhà nước đối với cụm công
nghiệp vừa và nhỏ còn gạp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chính là do đây là
mô hình mới mẻ, có đặc thù riêng không hoàn toàn giống như các KCN,
KCX.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với các
cụm công nghiệp, qua thời gian thực tập tại Ban quản lý các KCN & CX Hà
Nội, với sự hướng dẫn của thầy giáo và quá trình tham khảo khảo thực tiễn
xuyên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước tư bản, đặc
biệt là sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới trong những năm
1970 – 1980 của thế kỷ trước. Với mô hình này đã cho phép hạ thấp chi phí
đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Tại Việt Nam, trong quá trình phát triển của đất nước thì khái niệm Cụm công
nghiệp được ra đời từ khi có công văn số 17/CP – KCN 15/10/1998 đồng ý cho
UBND Thành phố Hà Nội xây dựng thí điểm 2 Cụm công nghiệp vừa và nhỏ
huyện Gia Lâm và Thanh Trì Hà Nội để di chuyển dần một số nhà máy, xí
nghiệp trong nội thành ra ngoại thành nhằm tập trung sản xuất , chống ô
nhiễm môi trường.
Đây là một mô hình mới với nước ta. Cụm công nghiệp là một hình thức
tổ chức sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ, nó ra đời gắn liền với quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Dựa trên cơ sở trên ta có thể hiểu khái niệm về Cụm công nghiệp như sau:
Cụm công nghiệp vừa và nhỏ là khu chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp , có ranh giới địa lý rõ ràng , có quy
hoặch chi tiết, có hạn tầng kỹ thuật dồng bộ, không có dân cư sinh sống và
được UBND Thành phố quyết định thành lập.
Bên cạnh khái niệm về Cụm công nghiệp, qua quá trình nghiên cứu và
tham khảo tác giả xin giới thiệu thêm một số các khái niệm lien quan tới Cụm
công nghiệp như:
- Doanh nghiệp đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp :
Là Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ
định hoặc là Doanh nghiệp trúng thầu dự án thực hiện xây dựng, quản lý,
khai thác hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp.
- Doanh nghiệp quản lý, khai thác hạ tầng kỹ thuật Cụm công
nghiệp :Là Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được Ủy ban nhân dân Thành
phố giao nhiệm vụ quản lý, khai thác hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp.
• Về mục đích xây dựng:
- Quy tập những Doanh nghiệp đã tồn tại từ những thập niên trước mà
đến nay còn tồn tại rải rác trong những khu dân cư, gây ô nhiểm môi trường
- Thu hút đầu tư của những Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Thu
hút vốn đầu tư để phát triển công nghiệp theo quy hoạch là mục tiêu quan
trọng của các Cụm công nghiệp, với tính chất là “vùng lãnh thổ” hoạt động
trong môi trường đầu tư chung về cơ sở hạ tầng.
- Giải quyết vấn đề căng thẳng về mặt bằng sản xuất kinh doanh của
nhiều Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
• Về thủ tục thành lập
Do UBNN Thành phố ra quyết định thành lập
• Về chủ đầu tư
Các Doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực và kinh nghiệm xây dựng
và quản lý Cụm công nghiệp làm chủ đầu tư
• Về mô hình quản lý
Tồn tại nhiều mô hình quản lý các Cụm công nghiệp vừa và nhỏ như:
Ban quản lý dự án các huyện; công ty khai thác hạ tầng Cụm công nghiệp;
UBND Thành phố thành lập Ban quản lý Cụm công nghiệp trực thuộc UBND
quận/huyện nơi có Cụm công nghiệp
• Đối tượng thuê đất trong Cụm công nghiệp
Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, đang cần mặt bằng sản xuất
kinh doanh nhưng không đủ tiềm lực hoạt động trong các KCN tập trung.
1.1.3. Sự cần thiết hình thành các Cụm công nghiệp vừa và nhỏ
Trong sự nghiệp CNH – HĐH của nước ta, phát triển công nghiệp là
nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu, muốn vậy việc tăng tốc độ đầu tư cho phát
triển công nghiệp là việc làm cần gấp rút thực hiện. Bên cạnh việc thu hút đầu
tư của các Doanh nghiệp nước ngoài có vốn lớn, công nghệ hiện đại thì việc
phát triển các Doanh nghiệp trong nước mà đa phần là các Doanh nghiệp vừa
và nhỏ là rất quan trọng.
nhạy, ít đầu mối, thủ tục đơn giản.
Để khắc phục những vấn đề trên trong quá trình phát triển công nghiệp cần
quy tụ các Doanh nghiệp vào các Cụm công nghiệp tập trung. Ở đó có sẵn cơ
sở hạ tâng và dịch vụ, có sẵn bộ máy quản lý, được hưởng những thủ tục đơn
giản và thống nhất do Ban quản lý các KCN địa phương trực tiếp quản lý.
- Về cơ bản, xây dựng các Cụm công nghiệp vừa và nhỏ tập trung song
song với phát triển các KCN lớn nhằm khắc phục điểm yếu của các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ không đủ tiềm lực để vào hoạt động trong các Khu công
nghiệp lớn.Mặt khác không thể xây dựng tất cả các khu công nghiệp tập trung
do hạn chế về diện tích, sự chia cắt về mặt địa lý,quy mô vốn đầu tư và năng
lực quản lý của các Doanh nghiệp quản lý, khai thác hạ tầng kỹ thuật.
Khác với các khu công nghiệp tập trung đó là thường chỉ thu hút các Doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các Doanh nghiệp có tiềm lực vốn lớn, công
nghệ sản xuất và quản lý tiên tiến, các Cụm công nghiệp vừa và nhỏ có mục
tiêu chủ yếu là quy tập và thu hút đầu tư của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ,
chủ yếu là các Doanh nghiệp trong nước nhằm hình thành một chuỗi cung
ứng trong các Cụm công nghiệp.
Xây dựng các Cụm công nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm tăng hiệu quả sử
dụng vốn.trong Cụm công nghiệp, các Doanh nghiệp sử dụng chung hạ tầng
cơ sở nên giảm được chi phí trên một đơn vị diện tích và trên một đơn vị sản
phẩm. Thực hiện phát triển công nghiệp theo một quy hoặc thống nhất, kết
hợp giữa quy hoặc phát triển ngành với quy hoặch lãnh thổ.
Mặt khác,việc tập trung các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các Cụm công
nghiệp tạo điều kiện thuận lợi trong việc xử lý chất thải công nghiệp, bảo vệ
môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhờ việc chuyển đổi
những phần đất hoang hóa, bạc màu không thể sản xuất nông nghiệp thành
đất công nghiệp.
Ngoài ra trong quá trình phát triển và quản lý các Cụm công nghiệp trên thì
biệt là trong sản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh hang xuất khẩu trên
thị trường thế giới, các nước đang phát triển muốn nhanh chóng phát triển
khoa học kỹ thuật của mình, nâng cao trình độ quản lý. Xây dựng cụm công
nghiệp để thu hút vốn đầu tư, mở rộng sản xuất từ đó tạo điều kiện áp dụng
khoa học kỹ thuật, công nghệ, nâng cao khả năng quản lý. Đây là điều rất
quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta khi xuất phát điểm
thấp và có trình độ lạc hậu so với các nước phát triển.
Khi đầu tư vào các cụm công nghiệp các nhà đầu tư sẽ được hưởng những ưu
đãi riêng của nhà nước đối với các cụm công nghiệp vsf lợi ích từ các công
trình hạ tầng, kỹ thuật đồng bộ sẵn sang choa việc hoàn thiện dự án. với nhữn
lợi thế như vậy, các doanh nghiệp sẽ có điều kiện giảm thiểu đến mức tối đa
đầu tư ban đầu và chi phí sản xuất. Điều đó dẫn đến giảm giá thành , nâng cao
chất lượng sản phẩm, đấp ứng được các yêu cầu, nhu cầu của thị trường, nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hưỡng nâng cao tỷ trọng giá trị sản
xuất công nghiệp
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc
hậu, ít hiệu quả sang một cơ cấu ngày càng phù hợp với xu hướng của nền sản
xuất hiện đại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng giá trị
sản xuất công nghiệp, dịch vụ và thương mại, giảm dần tỷ trọng giá trị sản
xuất nông nghiệp trong nền kinh tế.
Xây dựng cụm công nghiệp theo quy hoạch phát triển tổng thể về kinh tế xã
hội tại những địa điểm thuận lợi vận chuyển hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm hoặc
là những nơi quy hoạch phát triển thành đô thị, khu dân cư sau này do vậy sẽ
tạo môi trường thuận lội cho nhà đầu tư xây dựng chiến lược phát triển lâu
dài, từ đó sản xuất công nghiệp địa phương phát triển góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ.
Xây dựng cụm công nghiệp nhằm tạo ra năng lực sản xuất mới, thu hút
lao động, tạo liên kết với các doanh nghiệp trong nước thông qua các hợp
tư, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành công nghiệp có hiệu
quả, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính quản lý
nhà nước đối với Cụm công nghiệp vừa tạo điều kiện tối đa cho Doanh
nghiệp thực hiện mục tiêu của họ, vừa hướng mục tiêu của Doanh nghiệp vào
việc thực hiện tốt nhất mục tiêu chung của phát triển kinh tế xã hội. Do đó ,
quản lý nhà nước đối với các Cụm công nghiệp phải nhằm thu hút tối đa
nguồn vốn đầu tư vào Cụm công nghiệp, thực hiện cơ cấu trong Cụm công
nghiệp phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế. Mặt khác, quản
lý nhà nước đối với các Cụm công nghiệp còn nhằm phát huy ưu điểm và thế
mạnh của mỗi Cụm công nghiệp, thúc đẩy quá trình hợp tác giữa các Doanh
nghiệp trong Cụm công nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm
công nghiệp trong nước. Đồng thời, quản lý nhà nước đối với các Cụm công
nghiệp phải nhằm khai thác được các lợi thế của phát triển công nghiệp đối
với nền kinh tế quốc dân, đặc biệt phát huy được lợi thế về nguồn nhân lực,
về tài nguyên thiên nhiên cũng như các nguồn lực khác của nền kinh tế. Việc
quản lý nhà nước đối với các Cụm công nghiệp còn nhằm đảm bảo quyền và
nghĩa vụ của các Doanh nghiệp trong Cụm công nghiệp, đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp bên ngoài chuyển vốn vào hoạt động
kinh doanh cũng như triển khái các hoạt động sản xuất kinh doanh trong Cụm
công nghiệp. Qua đó phát huy vai trò của từng Doanh nghiệp cũng như của
các Cụm công nghiệp đối với sự phát triển công nghiệp vừa và nhỏ.
- Thông qua việc ban hành các thể lệ, chính sách và giám sát thực thi các
quy định của pháp luật thì đồng thời nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi
để thúc đẩy việc xây dựng, phát triển Cụm công nghiệp, thực hiện thành công
chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Quản lý nhà nước đối với Cụm công nghiệp là điều kiện cần thiết, góp
phần giúp cho các Doanh nghiệp Cụm công nghiệp sử dụng tài nuyên thiên
nhiên một cách tiết kiệm và có hiệu quả, đồng thời bảo vệ môi trường sinh
doanh của mình.
- Nhà nước phải cung cấp đầy đủ các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực
cũng như các thông tin một cách nhanh chóng , kịp thời, chính xác để giúp
cho việc xây dựng, phát triển các Cụm công nghiệp đạt hiệu quả cao.
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với Cụm công nghiệp
Hoạt động quản lý nhà nước đối với các Cụm công nghiệp bao gồm những
nôi dung:
- Định hướng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát
triển các Cụm công nghiệp vừa và nhỏ .
Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, chiến
lược phát triển vùng, lãnh thổ, chiến lược phát triển công nghiệp, chiến lược
mậu dịch quốc tế, địa phương xây dựng chiến lược phát triển cụm công
nghiệp. Bởi vậy, khi xây dựng chiến lược phát triển cụm công nghiệp phải
nghiên cứu tổng hợp các điều kiện tự nhiên và xã hội trong chiến phát triển
kinh tế chung. Xây dựng chiến lược phát triển cụm công nghiệp phải tạo được
bước đi phù hợp với khả năng của vùng về tài chính, thu hút đầu tư của từng
thời kỳ.
Phát triển cụm công nghiệp cũng phải tính đến sự phân bố lực lượng sản
xuất, trên lãnh thổ nhằm đảm bảo sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và bảo
vệ môi trường, môi sinh. Đồng thời phát triển cụm công nghiệp cũng cần xem
xét đến tính cân đối trong phát triển khu vực, lãnh thổ và tính phát triển bền
vững. Phát triển cụm công nghiệp cũng cần phải tính đến sự phát triển hài hòa
giữa các vùng, lãnh thổ, tận dụng được lợi thế so sánh giữa các vùng, lãnh thổ
để đảm bảo sự phát triển cân đối hợp lý chung của cả nước
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ đầu tư phát triển
Cụm công nghiệp, quy chế hoạt động của các Cụm công nghiệp, các văn bản
hướng dẫn thực hiện cũng như các văn bản pháp quy có liên quan và hoàn
thiện chúng qua từng thời kỳ nhằm tạo cơ sở pháp lý đồng bộ và điều chỉnh
có hiệu quả hoạt động của Cụm công nghiệp cũng như của từng doanh nghiệp
doanh nghiệp trong việc thực hiện quy định của pháp luật của nhà nước và
quy chế Cụm công nghiệp.
- Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội:
Khi chọn địa điểm thực hiện dự án, nhà đầu tư cũng thường quan tâm
đến cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của khu vực vì nó đảm bảo cho các hoạt
động kinh tế sau này. Công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm công trình trong
hàng rào và ngoài hàng rào cụm công nghiệp.
Công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài ràng rào là công trình phụ thuộc vào
quy hoạch phát triển vùng, lãnh thổ và đỏi hỏi vốn lớn. Vì vậy, nhà nước
thường phải sử dụng ngân sách để đầu tư hoặc phải có cơ chế để huy động
vốn các thành phần kinh tế khác tham gia như phương thức BOT, BO, BT …
Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào cụm công nghiệp,
thông thường huy động các nguồn vốn của các doanh nghiệp và tư nhân. Đây
thực chất là doanh nghiệp đất đai và bất động sản dễ thu lợi nhuận cao nhưng
lại phụ thuộc vào khả năng thu hút đầu tư nên rủi ro cũng lớn. Việc cho doanh
nghiệp tiến hành kinh doanh cơ sở hạ tầng cụm công nghiệp là biện pháp
huy động các nguồn vốn trong xã hội để san sẻ gánh nặng cho ngân sách và
tận dụng vốn và khả năng kêu gọi đâu tư của các nhà đầu tư phát triển hạ
tầng.
Phát triển cụm công nghiệp có tác dụng lan tỏa về kinh tế và xã hội của
vùng, lãnh thổ như áp lực lên hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tạo nên hiện
tượng tập trung lao động, làm hạt nhân tình hình đô thị công nghiệp … Cũng
như các công trình hạ tầng ngoài hàng rào, công trình hạ tầng kỹ thuật phải
được nhà nước thực hiện trước một bước và đảm bảo cho sự phát triển lâu
dài của cụm công nghiệp và của vùng, lãnh thổ.
1.3. Một số kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối với các cum công
nghiệp của một số địa phương.
1.3.1. Nam Định
giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 đạt: 467,20 tỷ đồng, vượt 26% so với
kế hoạch; doanh thu đạt 787,40 tỷ đồng, vượt 26% so với kế hoạch; doanh thu
đạt 787,40 tỷ đồng, vượt 57% so với kế hoạch, bước đầu nộp ngân sách đạt
37,80 tỷ đồng vượt 150% so với kế hoạch và lượng hàng hóa xuất khẩu đạt
trên 40 triệu USD. Kết quả trên đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh
tế của tỉnh.
Các dự án đi vào hoạt động đã tạo ra trên 10.000 việc làm cho lực lượng
lao động trong và ngoài tỉnh. Tiền lương bình quân chung của người lao động
tại KCN Hòa Xá hiên đạt 850 – 900 đồng/người/ tháng. Tuy nhiên, qua khảo
sát ở các doanh nghiệp đã đi vào sản xuất, số công nhân có trình độ tay nghề
khá còn ít ở tất cả các ngành nghề, số lao động mới được tuyển dụng chưa
quen với tác phong và phương pháp quản lý công nghiệp, chưa phù hợp với
sức ép về thời gian, nội quy và yêu cầu về kỹ thuật của các doanh nghiệp.
Thành công của việc xây dựng & phát triển KCN Hòa Xá là sự khởi đầu
cho sự phát triển các KCN, CCN tỉnh Nam Định, có ý nghĩa quan trọng mở ra
quá trình phát triển các KCN, CĐCN khác của tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong tổng GDP, tạo sự bứt phá trong kinh
tế xã hội của tỉnh.
Thành công trên được xuất phát từ những nguyên nhân chính là:
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật về giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống dịch
vụ kỹ thuật v.v… của tỉnh đã từng bước được cải thiện có chiều hướng thuận
lợi cho đầu tư của các nhà đầu tư.
Cơ chế ưu đãi, khuyến khích đầu tư của tỉnh thông thoáng tạo sức thu hút
nhà đầu tư.
Trình độ cán bộ công chức trong Ban Quản lý các KCN, CCN và các
doanh nghiệp từng bước được hoàn thiện. Nội bộ đoàn kết có sự kết có sự
phối hợp tích cực giữa chính quyền và các tổ chức đoàn thể như công đoàn,
đoàn thanh niên qua đó phát huy đầy đủ tính dân chủ trong cơ quan, doanh
nghiệp.
lực có chất lượng.
1.3.2. Hải Dương
Dự án “Xây dựng cơ sở hạ tầng Cụm công nghiệp tàu thuỷ Hải Dương”
được Hội đồng quản trị Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam chính
thức phê duyệt ngày 4/7/2003. Đây là một mô hình đầu tư có quy mô và ý
nghĩa lớn nằm trong kế hoạch phát triển và quy hoạch tổng thể ngành của
Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam đến năm 2010.
Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam – chủ đầu tư dự án thông
qua Ban Quản lý thực hiện dự án đầu tư “Cụm công nghiệp tàu thủy Hải
Dương”. Ngày 26/11/2004 đã diễn ra Lễ bàn giao đất của UBND tỉnh Hải
Dương cho Ban quản lý dự án Cụm công nghiệp tàu thuỷ Hải Dương.
“Cụm công nghiệp tàu thuỷ Hải Dương” (CCN) được đầu tư xây dựng tại xã
Lai Vu – huyện Kim Thành – tỉnh Hải Dương. Cụm công nghiệp được xây
dựng trên diện tích 192.5 ha, có tổng mức đầu tư khoảng gần 400 tỷ đồng. Tại
đ đây sẽ hình thành thêm một trung tâm công nghiệp tàu thuỷ đa năng ở miền
Bắc – nơi có vị trí chiến lược nằm kề với tam giác kinh tế trọng điểm miền
Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh). CCN cách thủ đô Hà Nội khoảng
50km đọc theo Quốc lộ 5, cách biên giới Việt Trung 180km, rất thuận lợi cho
việc vận chuyển nguyên liệu và cung cấp sản phẩm cho các vùng kinh tế
trọng điểm trong và ngoài nước.
Cơ sở hạ tầng CCN được xây dựng khá quy mô, đồng bộ và hoàn chỉnh
bao gồm: Hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống đầu mối giao thông giữa CCN
và tuyến đường 5 Quốc gia, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cấp điện, cấp
nước, hệ thống thoát nước thải và nước mưa, hệ thống chiếu sáng , hệ thống
cây xanh, hệ thống rào CCN, nhà xưởng, kho bãi, nhà điều hành … (trong đó
hệ thống giao thông: tuyến đường mặt chính cắt 53m, tuyến đường vành đai
mặt cắt 22,5m; hồ điều hoà diện tích 1,75ha; mương thoát nước chiều dài
1075m; chiều dài mặt cắt QL5: 2km; chiều dài sông bao quanh: 6,5km;
đường sắt song song với QL 5: 2km; hai đầu Cụm công nghiệp có 2 ga xe lửa
DWT đến 100.000DWT.
Mười tám tháng qua, dưới sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Ban lãnh đạo
Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam, sự điều hành năđộng, sáng
tạo của Ban quản lý dự án cùng với tinh thần nhiệt tình, tâm huyết và trách
nhiệm cao trước công việc của tập thể CBCNV Ban quản lý, đến nay giai
đoạn 1 của dự án (san nền, đền bù GPMB, đường giao thông, hồ điều hoà,
mương …) đã gần đi vào hoàn tất. Chắc chắn khi dự án hoàn thành và đi vào
hoạt động sẽ hứa hẹn mọi sự khởi sắc mới trong ngành công nghiệp Tàu thuỷ
Việt Nam, đưa tên tuổi và thương hiệu “VINASHIN” lên một tầm cao mới,
đồng thời góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội tỉnh Hải Dương và của miền Bắc
phát triển toàn diện.
* Bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước và một số địa phương về
phát triển cụm công nghiệp.
Phát triển cụm công nghiệp là một nội dung của quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, là bước đi có tính “tuần tự” của các nước đang phát triển.
Phát triển cụm công nghiệp cần chú trọng đảm bảo phát triển bền vững,
bảo vệ tài nguyên môi trường.
Cần hoàn thiện đồng bộ, hệ thống các giải pháp từ: quản lý vĩ mô (luật
pháp, chính sách, cơ chế, công tác quy hoạch…) đến hoạt động quản lý vi mô
của các doanh nghiệp.
Phát triển cụm công nghiệp cần chú ý đảm bảo kết hợp hài hoà giữa phát
triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, chú trọng quan tâm đến đời
sống, việc làm của nhân dân.
Tăng cường công tác quản lý đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất
trong các điểm công nghiệp, từng bước giảm tình trạng quy hoạch treo, dự án
treo trong các cụm công nghiệp.
Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đảm bảo tầm nhìn xa và khả
năng tiếp nối của các cụm công nghiệp với các khu công nghiệp, khu đô thị
dịch vụ và thương mại.